Bến Nước Cửa Đền - Chương 25: Đơn tố cáo

Ngày mười bảy tháng tám, tôi một mình lên Phòng Giáo dục huyện. Tôi dậy từ bốn giờ sáng, lên đền thắp hương như mọi ngày - ba mươi chín ngày kể từ khi…

Nội dung chương

Ngày mười bảy tháng tám, tôi một mình lên Phòng Giáo dục huyện.

Tôi dậy từ bốn giờ sáng, lên đền thắp hương như mọi ngày - ba mươi chín ngày kể từ khi hương cháy lại. Tôi quỳ trước ban thờ Quan Hoàng Bảy, khấn thầm:

- Thánh ơi, hôm nay con lên huyện làm việc. Họ vu con tội mê tín. Con chỉ kể chuyện lịch sử cho học trò. Xin thánh phù hộ cho con nói được sự thật.

Khói hương bay lên, cuộn một vòng rồi tan đi. Tôi đứng dậy, thấy cụ Kính đã đứng ở cửa điện từ lúc nào.

- Cụ đi cùng cô - cụ nói, giọng kiên quyết.

Tôi sững người:

- Cụ ơi, đường xa, cụ già rồi...

- Già thì già, nhưng cụ là thủ từ đền Bảo Hà. Chuyện bến đền, cụ phải có mặt. Để cô đi một mình, họ ăn hiếp.

Tôi rưng rưng nước mắt. Trong lúc khó khăn nhất, vẫn có người đứng bên tôi.

Hai cụ cháu đón xe lên huyện. Đường đèo quanh co, xe chạy hơn hai giờ mới tới. Phòng Giáo dục huyện nằm trong khu nhà hành chính mới xây, khang trang sạch sẽ.

Chúng tôi được dẫn vào một phòng làm việc nhỏ. Một người đàn ông trung niên, đeo kính, tự giới thiệu là ông Trưởng phòng, ngồi sau bàn làm việc với vẻ mặt nghiêm nghị. Bên cạnh ông là một cô thư ký trẻ đang ghi chép.

- Cô Phạm Thị Lan? - ông Trưởng phòng hỏi.

- Vâng, thưa ông.

- Chúng tôi nhận được đơn tố cáo nặc danh về việc cô tuyên truyền mê tín dị đoan trong giờ dạy học. Cô giải thích đi.

Tôi đặt bản tường trình đã viết sẵn lên bàn, trình bày rõ ràng:

- Thưa ông, hôm mười sáu tháng tám, tôi có tổ chức một tiết ngoại khóa cho học sinh lớp tôi tại bến sông Cửa Đền. Nội dung là kể chuyện lịch sử bến đền, giáo dục các em lòng biết ơn quê hương. Tôi không hề tuyên truyền mê tín dị đoan. Đây là bản tường trình chi tiết.

Ông Trưởng phòng đọc bản tường trình, mặt không biểu lộ cảm xúc. Đọc xong, ông ngẩng lên:

- Cô nói cô kể chuyện lịch sử. Nhưng theo đơn tố cáo, cô đã kể cho học trò nghe về "bàn tay vô hình", về "bến thiêng cứu người". Đó không phải mê tín thì là gì?

Tôi bình tĩnh đáp:

- Thưa ông, "bàn tay vô hình" là cách tôi diễn đạt cảm nhận cá nhân khi được cứu sống ở vực xoáy năm tôi tám tuổi. Còn chuyện bến cứu người là sự thật: đầu tháng này, chính tôi đã cứu một học sinh suýt chết đuối ở đó. Tôi kể để giáo dục các em biết ơn nơi đã cứu mạng mình. Đó là giáo dục đạo đức, không phải mê tín.

Ông Trưởng phòng nhíu mày, quay sang cụ Kính:

- Còn cụ là ai?

Cụ Kính đứng dậy, chắp tay chào:

- Thưa ông, tôi là Hoàng Văn Kính, thủ từ đền Bảo Hà. Tôi đến để làm chứng cho cô Lan. Những chuyện cô ấy kể cho học trò đều là chuyện lịch sử có thật của địa phương, được ghi trong gia phả và được đền lưu giữ. Đền Bảo Hà là di tích tín ngưỡng của huyện, chuyện về đền không thể gọi là mê tín.

Ông Trưởng phòng im lặng một lúc. Rồi ông lấy từ trong ngăn kéo ra một tờ giấy:

- Đây là đơn tố cáo. Cô xem đi.

Tôi đón tờ đơn. Đó là một tờ giấy viết tay, không ký tên, tố cáo tôi "lợi dụng giờ dạy để tuyên truyền mê tín dị đoan, lôi kéo học sinh tin vào thần sông, gây ảnh hưởng xấu đến dự án phát triển kinh tế của địa phương".

Tôi đọc xong, đặt tờ đơn xuống, nói:

- Thưa ông, đơn nặc danh thì ai viết cũng được. Tôi đề nghị được đối chất với người tố cáo.

- Đơn nặc danh thì đối chất với ai? - ông Trưởng phòng cười nhạt.

- Vậy thì tôi đề nghị ông xem xét động cơ của đơn này - tôi nói, giọng kiên quyết - Trong đơn có nhắc đến "dự án phát triển kinh tế của địa phương". Đó chính là dự án san lấp bến của Công ty Sông Hồng Xanh. Tôi đang phản đối dự án ấy vì nó xâm phạm bến thiêng của tổ tiên. Đơn này rõ ràng là đòn trả đũa của những người muốn bịt miệng tôi.

Ông Trưởng phòng sững người, rồi nghiêm mặt:

- Cô Lan, cô nên cẩn thận lời nói. Cô đang vu khống người khác đấy.

- Tôi không vu khống ai, thưa ông. Tôi chỉ nêu sự thật. Nếu ông không tin, ông có thể về thôn điều tra.

Cuộc làm việc kéo dài hơn hai giờ đồng hồ. Cuối cùng, ông Trưởng phòng kết luận:

- Tạm thời, chúng tôi chưa đủ căn cứ để xử lý cô. Nhưng cô phải viết bản cam kết không đưa nội dung nhạy cảm vào giờ dạy. Và trong thời gian này, cô nên hạn chế các hoạt động ngoài giờ lên lớp.

Tôi ký bản cam kết, lòng nặng trĩu. Tôi không bị kỷ luật, nhưng tôi bị trói tay. Từ nay, tôi không thể dạy học trò về bến đền nữa.

Ra khỏi phòng, cụ Kính vỗ vai tôi:

- Không sao đâu cô. Giữ được nghề là tốt rồi. Còn nhiều cách khác để giữ bến.

Tôi gật đầu, nhưng trong lòng vẫn đau. Nghề dạy học là niềm tự hào của tôi, là nơi tôi gieo hạt giống. Giờ đây, hạt giống ấy bị cấm gieo.

Trên đường về, tôi im lặng suốt. Cụ Kính cũng im lặng. Xe chạy qua những cánh đồng lúa xanh mướt, qua dòng sông Hồng đỏ ngầu, mà lòng tôi xám xịt như tro tàn.

Về đến thôn lúc xế chiều, tôi thấy một cảnh tượng khiến tim mình thắt lại: trước cổng trường tiểu học, một nhóm phụ huynh đang tụ tập, xì xào. Thấy tôi, họ im bặt, nhìn tôi bằng ánh mắt dò xét.

Tôi cúi đầu đi nhanh qua. Đằng sau, tiếng xì xào lại vang lên. Tôi nghe loáng thoáng: "đấy, cô giáo mê tín đấy", "nghe nói bị gọi lên huyện"...

Tôi về đến nhà, ngồi phịch xuống thềm. Mẹ tôi ra thấy vậy, lo lắng hỏi. Tôi kể lại mọi chuyện. Mẹ tôi ôm lấy tôi, khóc:

- Khổ thân con tôi. Đi dạy học mà cũng bị vu oan.

Tôi vỗ về mẹ:

- Mẹ đừng khóc. Con không sao. Họ chưa làm gì được con đâu.

Nhưng đêm ấy, tôi nằm trằn trọc. Tôi nghĩ về đơn tố cáo nặc danh. Ai viết? Chắc chắn là người của ông Sang. Nhưng hắn làm sao biết chi tiết buổi ngoại khóa của tôi? Trong lớp có bốn mươi học trò, phụ huynh nào đã mách lẻo?

Tôi rùng mình. Kẻ thù không chỉ ở ngoài, mà còn ở ngay trong thôn, ngay trong số những phụ huynh vẫn cười nói với tôi hàng ngày.

Tôi ngồi dậy, lấy điện thoại ra. Tôi định gọi cho cô hiệu phó để hỏi ai đã phản ánh, nhưng rồi lại thôi. Hỏi cũng vô ích. Điều quan trọng bây giờ là phải cẩn thận hơn.

Tôi nhìn ra cửa sổ. Trăng non treo lơ lửng trên ngọn tre. Tôi nhớ đến lời cụ Kính: "Mỗi việc cô làm phải cẩn thận gấp đôi. Nó đang rình cô sơ hở."

Đúng lúc ấy, tôi nghe thấy tiếng động ngoài vườn. Tôi nín thở lắng nghe. Tiếng sột soạt rất khẽ, rồi tiếng cành cây gãy. Có ai đó ngoài vườn.

Tôi nhẹ nhàng đứng dậy, hé cửa sổ nhìn ra. Vườn tối om. Tôi căng mắt nhìn một lúc lâu, bỗng thấy một bóng đen lướt nhanh qua rặng chuối, biến mất sau hàng rào.

Tim tôi đập thình thịch. Lại là kẻ rình mò. Lần này, tôi quyết định không im lặng nữa. Tôi mở cửa, bật đèn pin, soi ra vườn.

Vườn trống không. Nhưng trên lớp đất ẩm, tôi thấy rõ mấy dấu chân người lớn, còn rất mới. Dấu chân đi vòng quanh nhà, dừng lại ở cửa sổ buồng tôi, rồi đi về phía cổng sau.

Tôi soi đèn pin theo dấu chân. Ở cổng sau, tôi phát hiện một vật lạ: một mẩu thuốc lá còn đang cháy dở, vứt trên đất. Kẻ rình mò đã đứng đây hút thuốc, chờ đợi, quan sát.

Tôi nhặt mẩu thuốc lá lên. Đó là loại thuốc lá đắt tiền, không phải loại dân thôn thường hút. Tôi nhớ lại: ông Sang hút loại thuốc này. Lê Văn Cò cũng vậy.

Tôi đứng lặng giữa vườn đêm, mẩu thuốc lá run run trong tay. Kẻ rình mò không còn giấu giếm nữa. Hắn muốn tôi biết hắn đang theo dõi tôi. Đó là một lời đe dọa không lời: chúng tao đang nhìn mày đấy.

Tôi quay vào nhà, cài then cửa thật chặt. Rồi tôi đến bên hòm gỗ dưới gầm giường, kiểm tra lại: kiếm đồng vẫn còn, gia phả vẫn còn, ngọc bội vẫn còn.

Tôi thở phào. Nhưng rồi một ý nghĩ lạnh lẽo chạy dọc sống lưng tôi: hắn rình nhà tôi để làm gì? Chỉ để đe dọa, hay để tìm cơ hội trộm những thứ trong hòm gỗ?

Tôi đặt con dao nhọn dưới gối, nằm xuống nhưng không tài nào ngủ được. Ngoài kia, tiếng sông ì ầm. Trong đầu tôi, hình ảnh mẩu thuốc lá cháy dở cứ hiện lên, đỏ rực như một con mắt đang nhìn tôi trong bóng tối.

Ngày mai, tôi phải tìm cách bảo vệ những cổ vật này. Không thể để chúng ở nhà mãi được. Nhưng cất ở đâu mới an toàn? Đền? Nhà cụ Kính? Hay chôn lại xuống đất?

Tôi trằn trọc đến gần sáng mới thiếp đi. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi mơ thấy hòm gỗ của mình bị cạy tung, kiếm đồng và gia phả biến mất. Tôi gào khóc, chạy đi tìm, nhưng chỉ thấy bóng một người đàn ông với vết bớt hình lưỡi liềm sau tai đang cười man rợ trong bóng tối.

Tôi choàng tỉnh, mồ hôi ướt đẫm. Trời đã sáng. Tôi vội vàng mở hòm gỗ kiểm tra. Mọi thứ vẫn còn nguyên.

Nhưng tôi biết, đó chỉ là vấn đề thời gian.

---

Chương khác

Xem thêm