Bến Nước Cửa Đền - Chương 27: Bọt sen đỡ người

Ngày mười chín tháng tám, một chuyện kỳ lạ xảy ra ở bến sông khiến cả thôn xôn xao. Sáng hôm ấy, tôi đang dạy học thì nghe tiếng ồn ào ngoài bến. Tôi cho…

Nội dung chương

Ngày mười chín tháng tám, một chuyện kỳ lạ xảy ra ở bến sông khiến cả thôn xôn xao.

Sáng hôm ấy, tôi đang dạy học thì nghe tiếng ồn ào ngoài bến. Tôi cho học trò nghỉ giải lao, chạy ra xem. Trước mắt tôi là cảnh tượng hỗn loạn: chiếc máy ủi của ông Sang đang đỗ chỏng chơ bên bờ sông, còn người thợ lái máy thì ướt sũng, run lẩy bẩy, được mấy người dân dìu lên bờ.

Tôi chen vào hỏi chuyện. Một người dân kể lại:

- Sáng nay, ông Sang cho máy ủi ra bến để san nốt phần đất còn lại. Thằng Hòa lái máy đang ủi thì bỗng máy chết máy giữa chừng. Nó xuống xem, không may trượt chân ngã xuống vực xoáy.

Tôi sững người. Vực xoáy Bến Cửa Đền, nơi đã cướp đi chồng tôi ba năm trước, nơi suýt cướp đi thằng Khôi đầu tháng.

- Rồi sao nữa? - tôi hỏi gấp.

- Ai cũng tưởng nó chết chắc rồi - người dân kể tiếp, mắt sáng lên - Vực xoáy cuốn nó xuống, chỉ còn thấy cái đầu nhấp nhô. Nhưng lạ lắm, cô Lan ơi. Bỗng nhiên quanh người nó nổi lên một vòng bọt trắng, hình như cánh sen. Vòng bọt ấy đỡ nó nổi lên, đẩy dần vào bờ. Mấy người trên bờ chỉ việc kéo nó lên.

Bọt sen. Lại là bọt sen.

Tôi chạy đến chỗ anh thợ máy tên Hòa. Anh ta còn run, mặt tái mét, nhưng đã tỉnh táo. Thấy tôi, anh ta nắm chặt tay tôi:

- Cô Lan ơi, tôi... tôi thấy ma rồi!

- Anh bình tĩnh, kể tôi nghe - tôi nói.

Anh Hòa thở hổn hển:

- Tôi đang ủi đất thì máy bỗng tắt ngúm. Tôi xuống kiểm tra, không để ý bước hụt xuống mép nước. Vực xoáy cuốn tôi xuống ngay. Tôi uống mấy ngụm nước, tưởng chết chắc rồi. Nhưng rồi tôi thấy quanh người mình nổi lên bọt trắng, nhiều lắm, kết thành hình như hoa sen. Bọt ấy đỡ tôi nổi lên, nhẹ nhàng như có ai nâng. Tôi... tôi còn cảm thấy như có bàn tay đỡ dưới lưng mình.

Bàn tay vô hình. Bọt sen. Hai điềm báo cùng xuất hiện.

Tôi nhìn anh Hòa, lòng ngổn ngang. Anh ta là người lái máy ủi cho ông Sang, là kẻ đã san phẳng mặt bến hôm nào. Vậy mà bến vẫn cứu anh ta. Vì sao? Vì anh ta chỉ là người làm thuê, không phải kẻ ác. Anh ta lái máy vì miếng cơm, không vì lòng tham. Bến phân biệt được điều ấy.

- Anh Hòa này - tôi khẽ nói - Bến cứu anh là bến cho anh một cơ hội. Anh nên nghĩ lại việc mình đang làm.

Anh Hòa nhìn tôi, mắt rưng rưng:

- Tôi biết, cô Lan ơi. Từ hôm máy ủi san bến, tôi đã áy náy lắm. Nhưng ông Sang trả công cao, vợ tôi mới sinh, tôi cần tiền. Giờ thì tôi hiểu rồi. Tiền nào mua được mạng sống? Bến đã cứu tôi, tôi không thể quay lại phá bến nữa.

Nói rồi, anh Hòa đứng dậy, đi thẳng đến chỗ ông Sang đang đứng với vẻ mặt hầm hầm. Tôi thấy anh ta nói gì đó với ông Sang, ông Sang gầm lên, chỉ tay vào mặt anh ta. Anh Hòa lắc đầu, cởi chiếc mũ bảo hộ vứt xuống đất, quay lưng bỏ đi.

Cả bến ồ lên. Người thợ lái máy duy nhất của ông Sang đã bỏ việc.

Ông Sang tím mặt, hét lên:

- Thằng nào dám bỏ việc giữa chừng thì đừng hòng lấy tiền công! Tao sẽ thuê thợ khác!

Nhưng lời đe dọa của ông ta rơi vào khoảng không. Mấy người dân đứng xem xì xào:

- Thuê ai bây giờ? Chuyện bọt sen cứu người lan ra rồi, ai dám lái máy ra bến nữa?

Tôi đứng nhìn dòng sông, lòng dâng lên một niềm vui khó tả. Bến đã tự bảo vệ mình, bằng cách của bến: không phải bằng bạo lực, mà bằng lòng nhân từ khiến kẻ làm thuê phải tỉnh ngộ.

Chiều hôm ấy, tin bọt sen cứu người lan khắp thôn. Người ta kể lại với nhau bằng giọng hào hứng, thêm thắt đủ chi tiết ly kỳ. Có người nói thấy bóng người áo chàm cưỡi ngựa trắng lướt trên mặt sông. Có người nói nghe thấy tiếng chuông đền ngân. Tôi biết những chi tiết ấy là do người ta tưởng tượng thêm, nhưng tôi không đính chính. Đôi khi, huyền thoại cũng là một cách giữ bến.

Tối hôm ấy, anh Hòa đến nhà tôi. Anh ta mang theo một túi cam, đặt lên bàn, cúi đầu:

- Cô Lan, tôi đến cảm ơn cô. Sáng nay nếu không có cô động viên, chắc tôi vẫn còn run.

- Anh đừng cảm ơn tôi - tôi nói - Anh cảm ơn bến ấy. Bến đã cho anh cơ hội làm lại.

Anh Hòa ngồi xuống, kể cho tôi nghe:

- Thật ra, từ hôm máy ủi san bến, đêm nào tôi cũng mơ thấy ác mộng. Tôi mơ thấy mình bị vực xoáy cuốn xuống, không ai cứu. Sáng nay, khi bị cuốn thật, tôi tưởng giấc mơ thành hiện thực. Nhưng bọt sen đã đỡ tôi lên. Tôi nghĩ, đó là bến tha thứ cho tôi.

Tôi gật đầu, xúc động. Người đàn ông này, hôm nào còn lái máy ủi san phẳng bến, giờ đây đã tỉnh ngộ. Bến không trừng phạt anh ta, mà cứu anh ta. Đó chính là đạo của bến: từ bi với người lầm lỗi, nghiêm khắc với kẻ cố tình làm ác.

- Anh Hòa này - tôi hỏi - Ông Sang có nói gì khi anh bỏ việc không?

- Ông ta chửi tôi thậm tệ, đòi trừ hết tiền công - anh Hòa cười buồn - Nhưng tôi không tiếc. Mạng sống còn, tiền kiếm sau cũng được. À, cô Lan này, tôi còn nghe ông ta nói với thằng Cò: "Không thuê được thợ thì tao mua máy mới, tao tự lái."

Tôi giật mình. Ông Sang tự lái máy ủi? Với nỗi sợ nước của ông ta?

- Anh có chắc không?

- Tôi nghe loáng thoáng thế. Nhưng cô đừng lo, ông Sang sợ nước lắm. Hôm họp dân, tôi thấy ông ta đứng cách mép nước cả chục mét, nước bắn vào giày mà ông ta giật nảy mình.

Tôi gật đầu, nhưng trong lòng vẫn lo. Kẻ điên vì tiền có thể làm bất cứ điều gì, kể cả vượt qua nỗi sợ hãi của mình.

Anh Hòa ra về, tôi tiễn ra cổng. Trước khi đi, anh ta quay lại nói:

- Cô Lan này, tôi sẽ kể lại chuyện hôm nay cho tất cả thợ máy tôi quen. Để không ai dám nhận việc của ông Sang nữa.

Tôi cảm ơn anh, nhìn theo bóng anh khuất dần trong bóng tối. Một đồng minh mới, từ chính hàng ngũ kẻ thù. Bến thật khéo léo trong cách chọn người.

Đêm ấy, tôi lên đền thắp hương muộn. Bốn mươi mốt ngày. Tôi quỳ xuống, chắp tay khấn thầm:

- Thánh ơi, hôm nay bến đã cứu anh Hòa. Con cảm ơn thánh đã từ bi. Xin thánh tiếp tục che chở cho bến, cho dân thôn.

Khói hương bay lên. Và trong làn khói, tôi thấy hình bọt sen trắng xóa, nở rộ như một đóa hoa khổng lồ.

Tôi mỉm cười. Điềm lành.

Nhưng khi tôi đang chuẩn bị ra về, điện thoại reo. Là cụ Kính gọi, giọng hoảng hốt:

- Cô Lan ơi! Có chuyện rồi! Thằng Cò vừa đến đền, nó... nó đòi vào nhà tổ!

Tim tôi thắt lại:

- Cụ ơi, cụ đừng cho nó vào! Hòm gỗ của cháu cất trong đó!

- Cụ biết! Cụ đang chặn nó ở cổng! Cô đến ngay đi!

Tôi vội vã chạy lên đền. Từ xa, tôi đã nghe tiếng cãi vã. Đến nơi, tôi thấy Lê Văn Cò đang đứng trước cổng đền, mặt đỏ gay, chỉ tay vào cụ Kính:

- Ông già! Tôi đến thắp hương mà ông cũng cấm à? Đền là của chung, tôi có quyền vào!

Cụ Kính đứng chặn ở cổng, giọng kiên quyết:

- Đền đóng cửa rồi. Mai hãy đến.

- Đóng cửa? Tôi thấy đèn còn sáng! Ông mở ra!

Tôi bước đến, đứng cạnh cụ Kính:

- Anh Cò, có chuyện gì mà anh đến đền giờ này?

Hắn nhìn tôi, ánh mắt lóe lên tia giận dữ:

- Cô giáo cũng ở đây à? Hay lắm. Tôi đến thắp hương cho vợ tôi. Cô cấm tôi thắp hương cho vợ tôi à?

Vợ hắn mất đã mấy năm. Lấy cớ thắp hương cho vợ để vào đền lúc nửa đêm, ai tin được?

- Anh muốn thắp hương, mai ban ngày hãy đến - tôi nói cứng - Giờ này đền đóng cửa, anh về đi.

Hắn nhìn tôi chằm chằm, rồi nhìn vào trong sân đền, ánh mắt dò xét. Tôi biết hắn đang tìm hòm gỗ. Hắn đã biết tôi mang hòm lên đền.

- Được, tôi về - hắn nói, giọng đầy hăm dọa - Nhưng cô nhớ đấy, đền cũng không giữ được mãi đâu.

Hắn quay lưng bỏ đi, bóng khuất dần trong đêm. Tôi và cụ Kính nhìn nhau, mồ hôi ướt đẫm.

- Hắn biết rồi, cụ ạ - tôi thì thào.

- Ừ - cụ Kính gật đầu, mặt nghiêm nghị - Từ nay, cụ sẽ ngủ lại đền để canh. Cô yên tâm.

Tôi nắm tay cụ, xúc động không nói nên lời. Cụ già bảy mươi mốt tuổi, vì tôi mà phải ngủ lại đền canh trộm.

Trên đường về, tôi nghĩ về anh Hòa và Lê Văn Cò. Hai con người, hai lựa chọn. Một người được bến cứu nên tỉnh ngộ. Một người càng lún sâu vào tội lỗi.

Bọt sen chỉ đỡ người biết quay đầu. Còn kẻ cố tình làm ác, vực xoáy vẫn đang chờ.

Tôi rùng mình, bước nhanh hơn trong đêm. Phía trước, ánh đèn nhà tôi le lói. Mẹ đang đợi tôi về.

Ngày mai, ông Sang sẽ làm gì khi không thuê được thợ máy? Tôi không biết. Nhưng tôi biết, cuộc chiến này càng lúc càng khốc liệt.

Và tôi phải sẵn sàng.

---

Chương khác

Xem thêm