Bến Nước Cửa Đền - Chương 36: Hương leo lét

Sáng ngày hai mươi ba tháng tám, tôi ra bến từ khi trời còn chưa tỏ. Sương phủ mặt sông Hồng một lớp mỏng như tấm voan ai vừa giăng. Nước mùa này đỏ ngầu…

Nội dung chương

Sáng ngày hai mươi ba tháng tám, tôi ra bến từ khi trời còn chưa tỏ.

Sương phủ mặt sông Hồng một lớp mỏng như tấm voan ai vừa giăng. Nước mùa này đỏ ngầu phù sa, cuộn từng đụn bọt về phía vực xoáy rồi nuốt chửng vào lòng. Tôi đi chân đất trên nền đất còn in vết xích máy ủi, tay ôm bó hương mới mua ở chợ Bảo Hà từ chiều hôm qua. Gió sông thổi qua, mùi tanh của bùn và mùi khói nhang cũ quyện vào nhau, ngai ngái nơi cuống họng.

Bến tạm dựng ngay trên mấy bậc đá còn sót lại sau trận san ủi. Nói là bến tạm, thực ra chỉ là tấm bạt xanh căng trên bốn cây tre, dưới đặt một bát hương sành cũ mà cụ Kính mang từ gian thờ phụ của đền ra. Bát hương ấy, tính đến sáng nay, vừa bước sang ngày tắt hương thứ bốn mươi lăm.

Tôi quỳ xuống, châm ba nén hương, cắm vào bát. Khói cuộn lên, bị gió sông bẻ ngang rồi tan. Tôi lấy thân mình che, tay khum lại như khum một con chim non. Lửa bén vào đầu nhang, đỏ lên một chấm nhỏ, rồi lại chao đi vì gió. Tôi phải châm đến lần thứ ba mới được.

Bốn mươi lăm ngày. Tôi lẩm nhẩm con số ấy như lẩm nhẩm một bài học thuộc lòng. Hương ở điện chính đền Bảo Hà tắt từ hai mươi hai ngày trước cái hôm tôi nhảy xuống vực xoáy cứu thằng Khôi. Tính đến hôm nay, đúng bốn mươi lăm ngày thần lực không còn hơi ấm nào sưởi. Cụ Kính bảo, hương hỏa cũng như máu trong người, tắt quá bảy ngày đã là nguy, quá bốn mươi chín ngày thì dù thánh có thương cũng khó mà về kịp.

Còn bốn ngày nữa là đến đêm rằm.

- Cô Lan ra sớm thế?

Tiếng cụ Kính vang lên sau lưng. Cụ chống gậy tre đi tới, áo nâu bạc phếch, đôi mắt hõm sâu nhưng vẫn tinh. Từ ngày tôi bị đình chỉ dạy học, cụ là người duy nhất trong thôn dám đến bến công khai, không sợ người ta dị nghị.

- Cụ ơi, đêm qua gió to quá, con sợ hương tắt nên ra xem từ sớm.

Cụ ngồi xuống bên tôi, nhìn bát hương một lúc lâu rồi gật đầu.

- Còn cháy là còn hy vọng. Lan này, cụ nghĩ kỹ rồi. Bến này không thể cứ để hương tạm bợ thế này mãi. Phải làm lễ an vị lại cho bến, đúng nghi thức cổ, trước khi quá bốn mươi chín ngày.

Tim tôi đập mạnh.

- Lễ an vị... to lắm phải không cụ?

- To. Nhưng không làm thì bến chết hẳn. Cụ đã xem ngày, đêm rằm tháng tám này là ngày đẹp nhất, trăng tròn, nước đứng. Lễ phải làm ngay tại bậc đá thứ chín, nơi còn nguyên vẹn sau trận ủi. Còn bốn ngày, kịp, nếu cả thôn cùng chung tay.

Tôi nhìn mặt sông. Nước đỏ cuộn, vực xoáy ở giữa dòng vẫn há miệng như một cái giếng không đáy. Ba năm trước, chính cái vực ấy đã nuốt chồng tôi vào một buổi chiều nước lớn. Tôi oán dòng sông này ba năm trời. Giờ tôi lại quỳ đây, xin nó cho bến được sống.

- Con đồng ý. Cụ dạy con phải làm gì, con làm nấy.

Cụ Kính vỗ nhẹ lên vai tôi. Bàn tay cụ khô gầy mà ấm.

- Đầu tiên, phải có bến tạm giữ hương không được tắt một khắc nào cho đến đêm lễ. Thứ hai, lễ vật phải là đồ chay thanh tịnh, hương hoa do chính tay dân thôn chuẩn bị. Thứ ba... cụ ngừng một nhịp. Phải tìm lại được kiếm đồng. Không có tín vật của người giữ bến, lễ không trọn.

Tôi cúi đầu. Kiếm đồng bị trộm mất từ đêm hai mươi hai, dấu chân lạ còn in quanh nhà tôi đến giờ. Tôi biết ai làm, cả thôn cũng đoán được, nhưng không ai có bằng chứng.

- Con sẽ tìm. Dù phải lật từng lán ven sông lên, con cũng tìm.

Buổi trưa, mẹ tôi mang cơm ra bến. Bà Lụa năm nay sáu mươi, tóc đã bạc quá nửa, từ ngày bố tôi mất chỉ còn hai mẹ con nương nhau. Bà đặt cà men cơm xuống tấm ván kê tạm, nhìn bát hương rồi nhìn tôi, mắt hoe đỏ.

- Con gầy quá, Lan. Mấy đêm nay con có ngủ không?

- Con ngủ được mà mẹ. Mẹ đừng lo.

- Đừng lo sao được. Người ta đình chỉ con dạy học, thu mất cuốn gia phả, giờ con lại định làm lễ to... mẹ sợ.

Tôi nắm tay mẹ. Tay bà chai sần, lạnh.

- Mẹ ơi, mẹ còn nhớ câu bà cố vẫn dặn không? Bến này đời nào cũng có người giữ. Con không làm thì ai làm?

Bà im lặng một lúc lâu, rồi thở dài, lấy trong túi áo ra một gói giấy nhỏ.

- Mẹ mang cho con ít trầm. Đốt kèm vào hương cho thơm, cho ấm bát. Còn đây... bà dúi vào tay tôi một nắm tiền lẻ. Mua thêm hoa quả làm lễ. Tiền mẹ bán mấy buồng chuối.

Tôi ôm chầm lấy mẹ, nước mắt trào ra. Từ ngày tôi quyết giữ bến, mẹ là người phản đối đầu tiên, sợ tôi lại như bố tôi ngày xưa, sợ tôi dính vào chuyện tâm linh rồi khổ. Giờ bà lại là người đầu tiên mang tiền đến.

Chiều xuống, dân thôn kéo ra bến mỗi lúc một đông. Người mang tre, người mang bạt, người mang hương nến. Thằng Khôi cũng lén theo đám trẻ con ra, nó đứng nép sau cây bần, mắt tròn xoe nhìn bát hương. Từ ngày biết nó là hậu duệ đời thứ bảy của Quan Hoàng Bảy, tôi càng thương nó hơn. Một đứa trẻ tám tuổi, suýt chết đuối, giờ mang trên vai một dòng dõi mà chính nó còn chưa hiểu hết.

Tôi vẫy nó lại.

- Khôi, ra đây với cô.

Nó chạy lại, dép lê quẹt trên nền đất.

- Cô Lan ơi, tối nay cho con ở lại giữ hương với cô nhé? Con không ngủ đâu, con thức được.

- Không được. Tối sông lạnh, muỗi nhiều. Con về với mẹ, mai ra sớm.

Nó phụng phịu, rồi chợt hạ giọng:

- Cô ơi, đêm qua con lại thấy chú ngựa trắng trong mơ. Chú ấy đứng ở mép nước, nhìn con, không nói gì cả.

Tôi sững người. Giấc mơ của thằng bé trùng khớp một cách kỳ lạ với những điềm báo quanh bến. Tôi xoa đầu nó, không biết nên vui hay nên lo.

- Chú ấy thương con đấy. Về đi, mai cô kể chuyện cho nghe.

Tối, bến tạm chỉ còn tôi và hai bác trai trong thôn thay phiên nhau trông hương. Gió sông đêm nay mạnh hơn đêm qua. Tôi ngồi co ro bên bát hương, tay luôn khum che gió, mắt không dám rời những đầu nhang đỏ. Cứ mỗi nén cháy gần hết, tôi lại châm nén mới, nối lửa không để đứt quãng.

Giữa đêm, cụ Kính ra thay ca. Cụ mang theo chiếc áo tơi lá, khoác lên vai tôi.

- Về ngủ một lát đi con. Cụ trông cho.

- Con không ngủ được, cụ ạ. Nhắm mắt lại là con thấy ngày mai, ngày kia... rồi đến đêm rằm. Con sợ mình không kịp.

Cụ ngồi xuống cạnh tôi, giọng chậm rãi:

- Lan này, con có biết vì sao người xưa chọn đêm rằm để an vị không? Vì trăng tròn là lúc âm dương giao hòa, lòng người dễ tĩnh nhất. Lễ không cần to, cần tâm thành. Con giữ được hương đến đêm rằm, tức là con giữ được lòng mình không tắt. Còn mọi chuyện khác, trời xanh tự có an bài.

Tôi gật đầu, nhưng trong lòng vẫn như có lửa đốt. Kiếm đồng chưa tìm lại được. Sang vẫn lởn vởn ngoài kia với đám tay chân. Tài vẫn ngồi trên xã với con dấu trong tay. Mà thời gian thì cứ trôi, từng giờ, từng khắc.

Gần sáng, gió bỗng lặng. Mặt sông phẳng như tờ trong thoáng chốc, phản chiếu vầng trăng khuyết còn sót lại. Tôi tranh thủ chợp mắt một lát, đầu gục lên đầu gối.

Chiều muộn, khi nắng đã tắt hẳn sau rặng tre, một chiếc xe hơi đen bóng chạy qua con đường đất ven sông, dừng lại ngay đầu bến. Tôi nhận ra ngay biển số xe của công ty Sông Hồng Xanh. Cửa kính hạ xuống, Vũ Đình Sang thò đầu ra, nụ cười lịch thiệp quen thuộc nở trên môi.

- Cô giáo Lan vẫn khỏe chứ? Nghe nói cô định làm lễ gì đó ở cái bến hoang này?

Tôi đứng thẳng người, tay vẫn khư khư bó hương.

- Bến này không hoang, thưa ông Sang. Bến này có hương hỏa bảy đời.

- Hương hỏa? Ông ta cười khẩy. Cô Lan ơi, thời buổi này ai còn tin mấy chuyện ấy. Tôi nói thật, cô cứ cố chấp thế này chỉ khổ thân cô. Dạy học thì bị đình chỉ, gia phả thì bị thu, giờ lại bày đặt lễ bái. Cô nghĩ dân thôn này theo cô được đến bao giờ?

Máu trong người tôi sôi lên, nhưng tôi nhớ lời cụ Kính dặn: người giữ bến không đôi co với kẻ ác bằng miệng lưỡi, cứ để việc làm trả lời.

- Ông Sang, tôi chỉ là một cô giáo quê. Tôi không tranh đất với ai, cũng không cản đường làm ăn của ai. Tôi chỉ giữ hương cho bến mà cha ông tôi đã giữ bảy đời. Ông làm gì thì làm, đừng động vào bát hương này.

Nói rồi tôi quay lưng đi, không thèm nhìn ông ta nữa. Xe ông ta nổ máy, bánh xe cuốn bụi đỏ mù mịt rồi phóng đi. Tôi đứng nhìn theo, bàn tay siết chặt đến nỗi móng tay hằn vào da thịt.

Bác Tư lại gần, hạ giọng:

- Cô Lan cẩn thận. Thằng Cò mấy hôm nay lảng vảng quanh bến suốt. Tôi thấy nó đứng trên đê nhìn xuống đây hai lần rồi.

Tôi gật đầu, trong lòng dấy lên một nỗi lo mới. Lê Văn Cò, kẻ có vết bớt lưỡi liềm sau gáy, kẻ đã trộm kiếm đồng nhà tôi. Hắn lảng vảng quanh bến làm gì? Chẳng lẽ Sang sai hắn đến phá lễ?

Tôi nhìn ra mặt sông. Vực xoáy vẫn cuộn đều, há miệng như muốn nuốt chửng tất cả. Ba năm trước, chồng tôi cũng ra đi từ cái vực này vào một buổi chiều nước lớn như thế. Người ta bảo anh đi đánh cá, thuyền lật. Tôi oán dòng sông này ba năm trời, oán nó cướp đi người đàn ông hiền lành nhất đời tôi. Giờ tôi lại quỳ đây, xin nó cho bến được sống. Đời người, có những khúc quanh không ai ngờ tới.

Tôi tỉnh dậy vì tiếng gọi hốt hoảng của bác Tư trực ca.

- Cô Lan! Cô Lan ơi! Hương!

Tôi bật dậy. Bát hương trước mặt chỉ còn vài chân nhang leo lét, đầu nhang đỏ quạch như những con mắt sắp nhắm. Gió đã thổi tắt gần hết trong lúc tôi ngủ gật. Tôi vội châm hương mới, tay run đến nỗi que diêm gãy đôi. Đến que thứ ba, lửa mới bén.

Tôi quỳ trước bát hương, khói cay xè mắt. Sang ngày thứ bốn mươi lăm, bát hương của bến tạm chỉ còn vài chân nhang leo lét, mà đêm rằm thì còn những bốn ngày nữa.

Tôi siết chặt tay. Bằng mọi giá, tôi phải giữ cho ngọn lửa này sống đến đêm trăng tròn.

---

Chương khác

Xem thêm