Bến Nước Cửa Đền - Chương 37: Nén hương lạnh
Hai hôm sau, cả thôn Cửa Đền như lên cơn sốt. Tin tôi quyết làm lễ an vị cho bến vào đêm rằm lan đi nhanh hơn cả nước lũ. Người tin thì bảo phải làm, bến…
Nội dung chương
Hai hôm sau, cả thôn Cửa Đền như lên cơn sốt.
Tin tôi quyết làm lễ an vị cho bến vào đêm rằm lan đi nhanh hơn cả nước lũ. Người tin thì bảo phải làm, bến thiêng mà mất thì thôn này mất phúc. Người không tin thì lắc đầu, bảo con Lan bị đình chỉ dạy học nên hóa rồ, đi tin chuyện ma quỷ. Nhưng lạ thay, dù tin hay không, người ta vẫn kéo ra bến. Người mang nải chuối, người mang bó hương, người chỉ đứng nhìn mặt sông một lúc rồi lặng lẽ quay về.
Cụ Kính lập một cuốn sổ nhỏ, ghi tên từng người đến góp công góp của. Cụ bảo, lễ an vị là việc của cả thôn, không phải việc riêng của nhà ai. Ai góp được gì thì góp, một nén hương cũng quý.
Tôi chia ca trực giữ hương bến tạm. Ban ngày có các bác trai, ban đêm tôi xin trực chính, vì tôi không yên tâm giao cho ai. Mẹ tôi ban đầu phản đối, sau thấy tôi kiên quyết quá, bà đành mang chăn ra bến, trải ngay cạnh lán cho tôi ngả lưng những lúc rảnh.
- Con gái con đứa, thức đêm nhiều hại người lắm.
- Mẹ cứ về ngủ đi, con trực một mình được.
- Mẹ về rồi ai nấu cháo cho con ăn sáng? Bà lườm tôi, nhưng mắt thì cười.
Đêm hai mươi tư, tôi trực cùng bác Tư và anh Thắng thợ nề. Ba người ngồi quanh bát hương, thay nhau che gió, châm hương. Gió sông đêm ấy hiền lạ thường, chỉ thổi nhè nhẹ như ai đó đang thở đều. Khói hương bay thẳng lên trời, không bị bẻ ngang như mọi hôm.
Khoảng nửa đêm, tôi thiếp đi lúc nào không hay. Và tôi mơ.
Trong mơ, sương phủ trắng mặt sông. Từ trong sương, một người đàn ông mặc áo chàm cưỡi ngựa trắng bước ra, dáng uy nghi mà hiền từ. Ngựa dừng lại ngay mép nước, người ấy cúi xuống nhìn tôi. Tôi không thấy rõ mặt, chỉ thấy đôi mắt sáng như sao. Người ấy chìa tay ra, trong lòng bàn tay là thanh kiếm đồng khắc hai chữ Bảo Hà, sáng lên một thứ ánh sáng xanh mờ.
Tôi đưa tay định nhận, thì người ấy khẽ lắc đầu. Một giọng nói vang lên, không phải từ miệng người, mà như từ trong sương vọng ra:
- Giữ hương, đừng giữ kiếm.
Tôi giật mình tỉnh dậy. Trời đã gần sáng, bát hương vẫn cháy đều, bác Tư đang gà gật bên cạnh. Tôi ngồi thẫn thờ, nhớ lại từng chữ trong mơ. Giữ hương, đừng giữ kiếm. Nghĩa là sao? Kiếm đồng là vật thiêng của người giữ bến, mất kiếm thì lễ không trọn, cụ Kính đã dặn thế. Sao người trong mơ lại bảo đừng giữ kiếm?
Tôi mang giấc mơ kể cho cụ Kính nghe vào sáng hôm sau. Cụ nghe xong, im lặng rất lâu, rồi chậm rãi nói:
- Thánh chỉ báo mộng, không nói thẳng bao giờ. Cụ đoán ý người là: đừng để tâm mình bị trói vào thanh kiếm. Kiếm mất thì tìm, nhưng đừng vì tìm kiếm mà để hương tắt. Hương mới là gốc. Kiếm chỉ là vật chứng cho lòng người.
Tôi như vỡ lẽ. Mấy ngày nay tôi ăn không ngon ngủ không yên, phần vì lo hương tắt, phần vì ám ảnh chuyện kiếm bị trộm. Tôi đã để nỗi lo về kiếm lấn át cả việc giữ hương. Giấc mơ như một gáo nước lạnh dội vào mặt.
- Con hiểu rồi, cụ. Từ nay con chỉ lo giữ hương. Kiếm, con tìm trong khả năng, không để nó ám mình nữa.
Cụ gật đầu hài lòng.
Buổi chiều, thôn Cửa Đền họp bàn việc lễ ở sân đình. Người đến đông nghẹt, cả những người mấy tuần trước còn ký vào biên bản đồng thuận san bến của Sang. Cụ Kính chủ trì, tôi ngồi bên cạnh, tay run run cầm cuốn sổ ghi chép.
Cụ vừa trình bày xong kế hoạch lễ an vị thì một giọng nói vang lên từ cuối sân:
- Tôi phản đối!
Mọi người quay lại. Đó là ông Bảy Thìn, người từng nhận tiền đền bù của Sang nhiều nhất.
- Lễ bái gì giờ này? Công ty người ta sắp đầu tư cả khu du lịch, việc làm đầy ra, các người lại đi rước ma về? Tôi nói thẳng, ai theo con Lan làm lễ thì đừng hòng xin được việc ở khu du lịch sau này!
Sân đình ồ lên. Mấy người phe Sang gật gù tán đồng. Tôi thấy mặt mình nóng bừng. Tôi đứng dậy, giọng run nhưng rõ từng chữ:
- Bác Bảy, cháu không rước ma. Cháu làm lễ an vị mà cha ông chúng ta đã giữ bảy đời. Khu du lịch có thể mang lại việc làm, cháu không phủ nhận. Nhưng nếu san lấp bến này, thôn mình mất đi cái gốc. Người ta có thể xây lại nhà, nhưng không ai xây lại được bảy đời hương hỏa.
- Mày nói hay lắm! Ông Bảy đập bàn. Mày bị đình chỉ dạy học, mày rảnh nên bày trò. Còn bọn tao phải lo cơm áo!
Không khí căng như dây đàn. Đúng lúc ấy, anh Thắng, người thợ lái máy ủi từng được bọt sen cứu thoát, đứng dậy. Anh đi khập khiễng vì chân còn đau sau vụ ngã xuống vực xoáy.
- Bác Bảy, cháu xin nói một câu. Hôm cháu ngã xuống vực, chính mắt cháu thấy bọt sen trắng đỡ cháu nổi lên. Bao nhiêu người ở bến hôm ấy đều thấy. Bác bảo đó là trò dàn dựng, vậy ai dàn dựng được cả dòng sông? Cháu bỏ việc ở công ty ông Sang rồi. Cháu theo cô Lan giữ bến.
Sân đình im phăng phắc. Rồi từng người, từng người giơ tay. Bà cụ Tám run run giơ tay. Mấy chị phụ nữ giơ tay. Cuối cùng, hơn nửa sân đình giơ tay đồng ý góp công làm lễ.
Ông Bảy Thìn mặt đỏ gay, bỏ về giữa chừng. Tôi nhìn theo, không giận mà thấy thương. Ông ấy cũng chỉ là nạn nhân của đồng tiền, như bao người khác.
Tối hôm ấy, tôi ngồi ghi lại danh sách người góp lễ mà tay vẫn còn run. Không phải run vì sợ, mà run vì xúc động. Lần đầu tiên kể từ ngày bến bị ủi, tôi thấy cả thôn đứng về phía mình đông đến thế.
Sáng ngày hai mươi lăm tháng tám, tôi lên đền Bảo Hà thắp hương như lệ thường mỗi rằm mồng một. Điện chính vắng tanh. Từ ngày hương tắt, ít người lên đền hẳn. Tôi bước vào gian thờ, quỳ trước ban thờ Quan Hoàng Bảy, thắp ba nén hương cắm vào bát hương lớn.
Bát hương lạnh ngắt.
Tôi đưa tay sờ vào thành bát, lạnh như sờ vào đá. Tro trong bát xám xịt, không một tàn lửa. Tôi đếm nhẩm: hôm nay là ngày thứ bốn mươi bảy hương tắt. Bốn mươi bảy ngày, ban thờ không một nén hương ấm. Tôi thấy sống mũi cay cay.
Tôi quỳ đó rất lâu, khấn thầm trong bụng. Tôi không khấn cho mình. Tôi khấn cho bến, cho thôn, cho thằng Khôi, cho những người đã tin tôi mà ra giữ hương. Tôi khấn xong thì cắm thêm ba nén nữa vào bát hương bến tạm mà tôi mang theo, như để lấy lửa từ điện chính mang về, dù biết bát hương ấy đã lạnh từ lâu.
Lúc tôi xuống núi, gặp thằng Khôi đang thập thò ở cổng đền. Nó thấy tôi thì chạy lại, tay cầm một bó hoa dại hái đâu đó, hoa xuyến chi trắng lẫn với hoa cứt lợn tím.
- Cô Lan, con hái hoa để cắm ở bến tạm. Cô cho con đi với cô nhé?
Tôi nhìn bó hoa dại trong tay nó, lòng mềm đi.
- Ừ, đi. Nhưng chỉ một lát thôi, rồi về ăn cơm.
Hai cô trò đi bộ dọc bờ sông về bến. Nắng trưa chang chang, nước sông đỏ rực dưới nắng như một dải lụa đào ai vừa nhuộm. Thằng Khôi vừa đi vừa kể, đêm qua nó lại mơ thấy chú ngựa trắng, lần này chú ấy không đứng yên mà đi vòng quanh bến, như đang canh giữ.
- Cô ơi, chú ấy có phải là Quan Hoàng Bảy không cô?
Tôi khựng lại. Tôi chưa bao giờ kể cho nó nghe về giấc mơ của mình, cũng chưa nói tên thánh cho nó biết một cách rõ ràng. Vậy mà nó hỏi đúng tên.
- Sao con biết tên ấy?
- Con nghe các cụ trong thôn kháo nhau. Với lại... nó gãi đầu. Trong mơ con thấy trên áo chú ấy có chữ, con không đọc được, nhưng con đoán là tên chú ấy.
Tôi rùng mình. Đứa trẻ tám tuổi, chưa học hết chữ, lại mơ thấy áo chàm có chữ. Tôi càng tin nó chính là hậu duệ đời thứ bảy, dòng máu của thánh vẫn chảy trong người nó, dù đã thất lạc bao đời.
Về đến bến tạm, thằng Khôi cắm bó hoa dại vào cái lọ sành mẻ miệng đặt cạnh bát hương. Hoa trắng hoa tím rung rinh trong gió, trông đến là thương. Nó quỳ xuống, chắp tay vái ba vái rất nghiêm trang, miệng lẩm bẩm những lời tôi nghe không rõ.
- Con khấn gì đấy?
- Con khấn chú ngựa trắng phù hộ cho cô Lan giữ được hương đến đêm rằm.
Tôi ôm nó vào lòng, nước mắt ứa ra. Một đứa trẻ tám tuổi còn biết lo cho hương bến, vậy mà có những người lớn trong thôn vẫn đang tâm để bến chết.
Chiều xuống, tôi ngồi một mình bên bát hương, đếm từng nén hương cháy dở. Cụ Kính bảo phải chuẩn bị lễ vật chay, hương hoa thanh tịnh. Tôi liệt kê trong đầu: hương trầm, nến, hoa tươi, quả ngọt, xôi chè, trầu cau. Tất cả phải do tay dân thôn làm, không mua đồ sẵn ngoài chợ. Còn bốn ngày... à không, từ hôm nay tính đi, còn đúng hai ngày nữa là đến đêm rằm. Ngày hai mươi bảy.
Hai ngày. Tôi nhìn bát hương điện chính lạnh ngắt trong ký ức sáng nay, rồi nhìn bát hương bến tạm đang cháy leo lét trước mặt. Bốn mươi bảy ngày hương tắt. Chỉ còn hai ngày nữa là chạm mốc bốn mươi chín.
Tôi siết chặt bó hương trong tay đến nỗi giấy bọc nhăn nhúm. Bằng mọi giá, đêm rằm này, bến phải được an vị.
---