Bến Nước Cửa Đền - Chương 39: Lán ven sông
Đêm hai mươi lăm tháng tám, kho lễ vật bị phá. Tôi đang trực hương ở bến tạm thì nghe tiếng la hét từ phía kho. Anh Thắng trực kho chạy ra, mặt tái mét,…
Nội dung chương
Đêm hai mươi lăm tháng tám, kho lễ vật bị phá.
Tôi đang trực hương ở bến tạm thì nghe tiếng la hét từ phía kho. Anh Thắng trực kho chạy ra, mặt tái mét, tay cầm chiếc đèn pin đã vỡ một góc.
- Cô Lan ơi! Có trộm! Nó đạp đổ lán, hất tung hết bánh trái rồi chạy mất!
Tôi chạy vội đến. Cảnh tượng trước mắt khiến tôi chết lặng. Tấm bạt che kho bị xé toạc một mảng lớn. Mấy thúng bánh chưng bị lật úp, bánh văng tung tóe trên nền đất, có cái còn in dấu giày đinh. Nồi xôi bị hất đổ, xôi trắng vương vãi lẫn với bùn đất. Mấy nải chuối bị giẫm nát. Mùi bánh mới, mùi lá dong thơm phức giờ quyện với mùi bùn tanh, thành một thứ mùi thối rữa đến nao lòng.
Các bà các chị nghe tin chạy đến, nhìn đống lễ vật bị phá mà khóc nấc lên. Mẹ tôi ôm thúng bánh chưng méo mó, nước mắt lã chã:
- Công sức cả thôn... sao nỡ lòng nào...
Anh Thắng kể, khoảng nửa đêm, anh nghe tiếng động mạnh, chạy ra thì thấy một bóng đen cao lớn đạp bạt chạy về phía bờ sông. Anh đuổi theo nhưng trời tối, đường trơn, anh ngã dúi dụi, đèn pin vỡ. Bóng đen biến mất trong lau sậy ven sông.
- Cháu nhìn rõ không? Là mấy người? Tôi hỏi, giọng run.
- Một người thôi cô. Cao lớn, vai rộng. Chạy nhanh lắm, như người quen đường sông.
Cao lớn, vai rộng, quen đường sông. Trong đầu tôi hiện ngay lên hình ảnh Lê Văn Cò. Chiều qua hắn còn chở người lảng vảng quanh bến, nhìn chằm chằm vào kho lễ vật. Không ai khác được.
Cụ Kính đến, nhìn đống đổ nát, mặt cụ đanh lại.
- Phá lễ vật là phá lễ. Kẻ này muốn lễ an vị của ta không thành. Nhưng chúng không biết, lễ vật phá đi làm lại được, còn lòng người đã quyết thì không phá nổi.
Cụ quay sang đám đông:
- Bà con nghe đây! Đêm nay ai còn sức thì ở lại làm lại lễ vật với tôi. Gạo nếp còn, đậu còn, lá dong còn. Ta gói lại, nấu lại. Kẻ gian phá một lần, ta làm lại mười lần!
Tiếng hô đồng tình vang lên. Ngay trong đêm, các bà các chị nổi lửa, vo gạo, gói bánh. Ánh lửa bập bùng soi những gương mặt kiên quyết. Tôi nhìn cảnh ấy mà nước mắt cứ trào ra. Thôn Cửa Đền này, khi đã đồng lòng thì không thế lực nào lay chuyển nổi.
Nhưng tôi không thể ngồi yên làm bánh. Tôi phải tìm ra kẻ phá kho. Tôi gọi anh Thắng:
- Anh còn nhớ hướng nó chạy không?
- Nó chạy về phía hạ lưu, chỗ bãi lau sậy gần cầu tre cũ.
Tôi lấy chiếc đèn pin còn lành, rủ thêm hai thanh niên trong thôn, lần theo hướng anh Thắng chỉ. Đêm sông tối om, chỉ có ánh đèn pin loang loáng trên mặt nước. Chúng tôi đi dọc bờ sông, soi từng bụi lau, từng gốc bần.
Đi được khoảng nửa giờ, một trong hai thanh niên chợt khựng lại, chỉ tay xuống nền đất ẩm:
- Cô Lan nhìn này, dấu giày đinh!
Tôi soi đèn xuống. Trên nền đất sét ẩm in rõ những dấu giày đinh to bản, mũi giày hướng về phía một lán lá xiêu vẹo nép sau rặng tre ven sông. Lán ấy tôi biết, là lán của mấy người đi câu đêm dựng tạm, bỏ hoang đã lâu. Ai lại ở đó giờ này?
Chúng tôi rón rén tiến lại gần. Qua khe vách lá, ánh đèn dầu leo lét hắt ra. Tôi ghé mắt nhìn vào, tim như ngừng đập.
Trong lán, trên chiếc chõng tre ọp ẹp, Lê Văn Cò đang nằm ngủ. Hắn ôm khư khư một vật dài bọc trong tấm vải điều. Dù bọc kín, tôi vẫn nhận ra hình dáng quen thuộc: thanh kiếm đồng khắc hai chữ Bảo Hà. Kiếm của bến. Kiếm bị trộm từ nhà tôi đêm hai mươi hai. Nhìn thấy nó, tim tôi đập thình thịch, vừa mừng vừa xót. Mừng vì đã tìm ra, xót vì tín vật thiêng liêng của bảy đời giữ bến lại nằm trong tay kẻ trộm, trong một cái lán rách nát ven sông.
Tay hắn siết chặt bọc vải như sợ ai cướp mất, ngay cả trong giấc ngủ. Các ngón tay hắn trắng bệch vì siết quá chặt. Miệng hắn mấp máy, lảm nhảm những tiếng không rõ. Tôi ghé sát tai vào vách, cố nghe.
- ...cụ ơi... đừng bắt con... con không cố ý... cụ tha cho con...
Hắn gọi tên tổ tiên. Giọng hắn run rẩy, đầy sợ hãi, khác hẳn vẻ hung hăng thường ngày. Trên trán hắn lấm tấm mồ hôi, dù đêm sông lạnh buốt. Chắc hắn đang chìm trong một cơn ác mộng kinh hoàng nào đó. Tôi chợt nhớ đến lời nguyền vực xoáy trong gia phả: kẻ đào trộm mộ tổ bị vực xoáy đòi mạng, đời đời không siêu thoát. Có lẽ trong mơ, hắn đang thấy chính cụ cố của mình đứng ở mép vực, vẫy gọi.
Một trong hai thanh niên định xông vào, tôi vội ngăn lại. Tôi ra hiệu rút lui. Ba người chúng tôi lùi ra xa, nấp sau rặng tre bàn bạc.
- Cô Lan, vào lấy lại kiếm đi! Hai đứa nó khỏe, mình ba người chắc ăn.
Tôi lắc đầu.
- Không được. Hắn đang ngủ mà tay vẫn ôm kiếm, mình xông vào hắn tỉnh dậy, ba người chưa chắc đã thắng một kẻ liều. Với lại, tôi muốn nói chuyện với hắn, không muốn đánh nhau. Kiếm này phải được trả về bằng sự tự nguyện, không phải bằng vũ lực.
Hai thanh niên nhìn nhau, rồi gật đầu. Thằng Tèo, đứa nhanh nhẹn nhất, chợt nói:
- Cô Lan, cháu thấy trong lán còn có một cái tay nải cũ, phồng căng như đựng giấy tờ gì ấy. Hay là...
- Đừng động vào. Tôi cắt ngang. Đêm nay ta chỉ cần biết kiếm ở đâu. Còn lại, để mai tôi đến một mình.
Chúng tôi lặng lẽ rút về bến theo đường cũ. Trên đường về, thằng Tèo kể, lán này trước đây là của ông Hai câu, người đi câu đêm nổi tiếng khắp khúc sông. Ông Hai mất năm ngoái, lán bỏ hoang từ đó. Cò dọn đến ở cách đây chừng nửa tháng, từ sau vụ trộm kiếm. Hắn sống lủi thủi một mình, ngày ngủ, đêm đi đâu không ai biết.
- Cháu nghe nói vợ nó bỏ đi theo trai từ năm ngoái, để lại đứa con gái ốm yếu cho bà ngoại nuôi. Nó làm thuê cho ông Sang cũng vì tiền thuốc cho con. Có lần cháu thấy nó ngồi một mình ở lán, tay cầm tấm ảnh con gái mà khóc.
Tôi nghe mà lòng chùng xuống. Mỗi kẻ ác đều có một câu chuyện đáng thương phía sau. Nhưng thương không có nghĩa là tha cho tội phá hoại. Tôi phải phân biệt rõ điều ấy. Dẫu vậy, tôi càng tin Cò còn có thể cứu được. Kẻ còn biết khóc vì con thì lương tâm chưa chết hẳn.
Thằng Tèo lại thì thầm:
- Cô Lan, cháu còn thấy trong lán có một xấp tiền polymer để trên chõng, còn nguyên đai, chắc của ông Sang đưa. Lạ là hắn không tiêu.
Tôi gật đầu. Kẻ đã sa ngã hẳn thì tiêu tiền không tiếc tay. Hắn giữ tiền nguyên đai, ôm kiếm ngủ mà miệng gọi tổ tiên, đó là dấu hiệu của một lương tâm chưa chết hẳn. Sáng mai tôi sẽ đến một mình, mang xôi nóng, nói chuyện phải trái. Không đe dọa, không ép buộc. Chỉ có tình người với tình người.
Về đến bến, trời đã gần sáng. Đống lễ vật bị phá đang được các bà các chị thu dọn, phân loại cái nào còn dùng được. Mùi bánh chưng lẫn mùi bùn vẫn còn nồng nặc. Tôi kể cho cụ Kính nghe mọi chuyện. Cụ nghe xong, trầm ngâm rất lâu.
- Hắn ôm kiếm ngủ, miệng gọi tổ tiên... Cụ lẩm bẩm. Nghiệp chướng của dòng họ hắn đang đè nặng lên vai hắn đấy, Lan ạ. Trang gia phả cuối bị xé năm xưa, cụ đoán vẫn nằm trong tay hắn. Đó là vật gia truyền của dòng họ hắn, ghi tội đào trộm mộ tổ và lời nguyền vực xoáy.
Tôi sững người.
- Ý cụ là... tổ tiên nhà hắn chính là kẻ đào trộm mộ tổ trong gia phả?
Cụ gật đầu, mắt nhìn xa xăm về phía mặt sông đang ửng sáng.
- Vết bớt lưỡi liềm sau gáy hắn không phải ngẫu nhiên mà có. Dòng dõi kẻ gây tội, đời đời mang dấu. Hắn trộm kiếm theo lệnh Sang, nhưng trong lòng hắn sợ. Sợ tổ tiên, sợ vực xoáy, sợ lời nguyền. Con hãy đến gặp hắn một mình, nói chuyện phải trái. Biết đâu, hắn còn cứu được.
Tôi gật đầu. Trong lòng tôi ngổn ngang: một kẻ trộm kiếm, phá kho lễ vật, tay chân của Sang, liệu còn có thể quay đầu? Nhưng giấc mơ đêm qua văng vẳng bên tai tôi: giữ hương, đừng giữ kiếm. Có lẽ, ý người còn sâu hơn thế: đừng chỉ giữ vật, hãy giữ cả lòng người.
Trời sáng hẳn. Tôi đứng dậy, rửa mặt qua loa bằng nước sông, rồi một mình lội về phía lán của Cò. Hôm nay, tôi sẽ đối mặt với Lê Văn Cò. Tôi không mang theo ai, không mang theo vũ khí, chỉ mang theo một gói xôi nóng và một tấm lòng thành. Nếu hắn còn một chút lương tri, hắn sẽ nghe tôi nói. Và nếu hắn nghe, bến sẽ có thêm một người quay về với chính nghĩa, thay vì thêm một kẻ thù.
---