Bến Nước Cửa Đền - Chương 41: Bài khấn giữ bến

Sáng hai mươi sáu tháng tám, hương điện chính bước sang ngày tắt thứ bốn mươi tám. Tôi biết con số ấy khi lên đền thắp hương buổi sớm. Bát hương vẫn lạnh…

Nội dung chương

Sáng hai mươi sáu tháng tám, hương điện chính bước sang ngày tắt thứ bốn mươi tám.

Tôi biết con số ấy khi lên đền thắp hương buổi sớm. Bát hương vẫn lạnh ngắt, tro xám xịt. Tôi cắm ba nén hương mới vào bát hương nhỏ mình mang theo, khấn thầm: chỉ còn đêm nay và ngày mai nữa thôi. Đêm rằm ngày hai mươi bảy, bến phải được an vị. Không còn đường lui.

Xuống đến bến, cụ Kính đã đợi sẵn dưới lán tạm. Cụ trải một tấm chiếu cói, đặt lên đó một cuốn sổ tay cũ bọc vải điều đã sờn mép. Cụ vẫy tôi lại ngồi.

- Lan, hôm nay cụ dạy con bài khấn giữ bến. Đây là bài khấn cổ truyền của họ Phạm, đời này truyền đời khác, chỉ truyền miệng, không ghi thành văn. Cụ học từ bố cụ, bố cụ học từ ông nội. Đến đời cụ thì không còn người họ Phạm nào để truyền, cụ giữ trong lòng bấy lâu nay. Giờ cụ truyền cho con.

Tôi quỳ thẳng người, hai tay đặt lên đầu gối, lòng hồi hộp như đứa học trò sắp thi.

- Con nghe đây, cụ.

Cụ nhắm mắt, giọng trầm xuống, từng chữ rõ ràng:

- Nam mô... à không, bài này không niệm Phật. Bài khấn giữ bến khấn thẳng với thánh, với sông, với đất. Con đọc theo cụ.

Cụ đọc một câu, tôi đọc theo một câu. Bài khấn dài, kể về công đức của Quan Hoàng Bảy trấn giữ khúc sông, kể về bảy đời họ Phạm giữ bến, kể về lời thề của người giữ bến: giữ hương không tắt, giữ nước không đục, giữ bến không vong. Giọng cụ lúc trầm lúc bổng, có những đoạn cụ phải ngừng lại vì xúc động.

Tôi đọc theo, ban đầu còn vấp, sau dần trôi chảy. Có những câu khiến tôi rùng mình:

- Con xin giữ bến, không giữ mình. Con xin giữ hương, không giữ lợi. Sông cho con nước, con trả sông lòng thành.

Đọc xong ba lượt, cụ mở mắt nhìn tôi:

- Con có hiểu ý nghĩa câu cuối không? Người giữ bến không cầu cho mình.

Tôi ngẫm nghĩ rồi đáp:

- Dạ, con hiểu. Người giữ bến khấn cho bến, cho dân, cho hương hỏa, chứ không khấn cho bản thân mình được phúc, được lợi. Đúng không cụ?

- Đúng. Đây là điều khó nhất. Ai giữ bến mà cầu cho mình, cầu cho nhà mình giàu sang, thì hương sẽ tắt, bến sẽ vong. Bảy đời họ Phạm giữ được bến vì không ai cầu cho mình. Con nhớ kỹ điều này. Đêm rằm, khi con đứng trước bến đọc bài khấn, trong lòng con chỉ được có bến, có dân, có hương. Không được có bóng dáng của riêng con.

Tôi gật đầu, mà lòng dậy sóng. Không cầu cho mình... Vậy nỗi oán hận ba năm với dòng sông cướp chồng tôi, tôi phải buông sao? Nỗi đau mất chồng, nỗi tủi hờn một mình nuôi mẹ già, những đêm khóc thầm, tất cả phải buông hết sao?

Như đọc được ý nghĩ của tôi, cụ Kính nhẹ nhàng nói:

- Cụ biết trong lòng con còn một nút thắt. Chồng con mất ở vực xoáy này. Con oán sông. Cụ không trách con. Nhưng Lan ạ, muốn làm người giữ bến, con phải tha thứ cho dòng sông. Sông không cố ý cướp chồng con. Sông chỉ là sông, có lúc hiền, có lúc dữ, như lòng người vậy. Người giữ bến mà còn oán sông thì không giữ được sông.

Nước mắt tôi trào ra. Ba năm nay, chưa ai nói với tôi điều này một cách thẳng thắn như thế. Mẹ tôi chỉ biết an ủi. Dân thôn chỉ biết thương hại. Chỉ có cụ Kính dám chạm vào vết thương sâu nhất của tôi.

- Cụ ơi... con sợ con không làm được.

- Không ai bắt con phải làm được ngay. Đêm rằm còn một ngày nữa. Con hãy ra bờ sông, ngồi một mình, nói chuyện với chồng con, với dòng sông. Nói hết những gì trong lòng. Rồi hãy quyết định có buông được không. Cụ tin con làm được, vì con là người họ Phạm, máu giữ bến chảy trong người con.

Buổi trưa, trước khi ra bờ sông một mình, tôi tranh thủ dạy lại bài khấn cho thằng Khôi nghe. Nó ngồi im thin thít, mắt sáng lên mỗi khi tôi đọc đến đoạn kể về Quan Hoàng Bảy cưỡi ngựa trắng trấn giữ khúc sông. Đọc xong, nó hỏi:

- Cô ơi, sau này lớn lên con có được giữ bến với cô không?

Tôi xoa đầu nó:

- Được chứ. Bến này cần những người có lòng như con.

Nó cười tít mắt, rồi chợt nghiêm mặt:

- Cô ơi, đêm qua con lại mơ thấy chú ngựa trắng. Lần này chú ấy đứng ở bậc đá thứ chín, nhìn về phía vực xoáy, hí lên một tiếng dài lắm. Con tỉnh dậy mà tim còn đập thình thịch.

Tôi sững người. Ngựa hí trong sương là điềm báo trước sự kiện lớn. Đêm nay có lễ thỉnh, ngày mai là đêm rằm. Điềm báo này ứng với điều gì? Tôi dặn nó tối nay phải ở nhà, không được ra bến, vì đêm có lễ, đông người nguy hiểm. Nó phụng phịu nhưng cũng gật đầu.

Buổi trưa, tôi làm theo lời cụ. Tôi ra ngồi một mình trên bậc đá thứ chín, nơi còn nguyên vẹn sau trận ủi, mặt đá khắc hoa sen đã mờ theo năm tháng. Tôi ngồi đó, nhìn vực xoáy cuộn đều, và bắt đầu nói, như nói với một người đang ngồi cạnh.

- Anh ơi, ba năm rồi. Em vẫn giận sông lắm. Em giận nó cướp anh đi vào cái buổi chiều nước lớn ấy, để mẹ con em bơ vơ. Em giận nó bao nhiêu thì em lại phải giữ nó bấy nhiêu, anh thấy có trớ trêu không?

Gió sông thổi qua, mang theo hơi nước mát lạnh. Tôi tiếp tục nói, nói về những ngày tháng khó khăn, về mẹ già, về việc bị đình chỉ dạy học, về thằng Khôi, về bảy bóng người trong tranh, về đêm rằm sắp tới.

- Em sắp làm lễ an vị. Cụ Kính bảo em phải tha thứ cho sông thì mới giữ được sông. Em... em sẽ cố. Không phải vì em hết đau, mà vì em hiểu ra, anh mất đi không phải lỗi của sông. Sông vẫn ở đây, vẫn nuôi cả thôn này bao đời. Em oán sông thì em không xứng giữ bến.

Nói đến đây, tôi bật khóc nức nở. Bao nhiêu uất ức ba năm dồn nén vỡ òa. Tôi khóc cho chồng, khóc cho mình, khóc cho những đêm dài oán hận. Nước mắt rơi xuống bậc đá, thấm vào những cánh sen khắc đã mờ.

Khóc xong, tôi thấy lòng nhẹ nhõm lạ thường. Như vừa trút được một gánh nặng đeo đẳng ba năm. Tôi đứng dậy, lau nước mắt, nhìn ra mặt sông. Vực xoáy vẫn cuộn, nhưng trong mắt tôi lúc này, nó không còn đáng sợ như trước. Nó chỉ là một phần của dòng sông, như nỗi đau là một phần của đời người. Tôi chợt nhớ đến bàn tay vô hình từng đỡ tôi năm tám tuổi, rồi lại đỡ tôi và thằng Khôi hôm cứu nó. Dòng sông này, suy cho cùng, đã cứu tôi nhiều hơn là hại tôi. Chỉ có tôi là cứ ôm mãi nỗi oán hận mà không chịu buông.

Chiều xuống, tôi quay lại lán, đọc lại bài khấn cho cụ Kính nghe. Lần này, giọng tôi vang và vững hơn hẳn. Cụ nghe xong, mắt rưng rưng:

- Được rồi. Con đã sẵn sàng. Nhưng cụ kể cho con nghe một chuyện nữa, chuyện của bà cố con, người giữ bến đời thứ năm.

Tôi ngồi thẳng người, chăm chú lắng nghe. Cụ Kính chậm rãi kể. Bà cố tôi là một người đàn bà góa chồng từ trẻ, một mình nuôi ba con nhỏ mà vẫn giữ hương bến suốt ba mươi năm. Có năm đói kém, kẻ trộm vào đền lấy cắp đồ thờ đem bán, bà cố bắt được nhưng không giao cho quan, mà tha cho hắn với điều kiện hắn phải quay lại thắp hương tạ tội. Kẻ trộm ấy sau này thành người trông hương đắc lực nhất của bến.

- Bà cố con bảo: giữ bến là giữ lòng người. Kẻ lầm lỗi còn quay đầu được thì bến còn phúc. Con thấy đấy, chuyện của thằng Cò hôm nay cũng vậy. Đừng chỉ nghĩ đến việc trừng phạt nó, hãy nghĩ đến việc cứu nó.

Tôi gật đầu, nhớ đến ánh mắt của Cò sáng nay. Không xua, không buông. Hắn đang cần một bàn tay chìa ra, như tôi từng cần khi oán hận dòng sông.

Tối hôm ấy, mây đen kéo về từ phía thượng nguồn. Gió sông thổi mạnh dần, mang theo hơi lạnh và mùi mưa. Cụ Kính nhìn trời, mặt đanh lại:

- Đêm nay có giông to. Lễ lần một ta định làm tối nay để thỉnh thánh trước đêm rằm, e là gian nan.

Tôi lo lắng nhìn đống lễ vật mới làm lại đang được che bạt cẩn thận. Giông tố là chuyện của trời, không ai cản được. Nhưng tôi có linh cảm không lành, như thể đêm nay sẽ xảy ra chuyện gì đó lớn lắm.

Cụ dặn: nhớ kỹ lời cụ dặn: người giữ bến không cầu cho mình.

Tôi gật đầu. Trong lòng tôi lúc này chỉ có một ý nghĩ duy nhất: đêm rằm, tôi sẽ đứng trước bến, đọc bài khấn này, và giữ cho hương cháy suốt đêm.

Nhưng tôi không biết rằng, đêm nay, lễ lần một sẽ bị phá tan tành trong giông tố, và tôi sẽ phải trả một cái giá đắt đến suýt mất mạng.

---

Chương khác

Xem thêm