Bến Nước Cửa Đền - Chương 38: Bức tranh bảy bóng

Sáng ngày hai mươi lăm, tôi đang phân loại lễ vật thì thằng Khôi xuất hiện ở bến với một cái túi vải đeo chéo và vẻ mặt quả quyết lạ thường. - Cô Lan, từ…

Nội dung chương

Sáng ngày hai mươi lăm, tôi đang phân loại lễ vật thì thằng Khôi xuất hiện ở bến với một cái túi vải đeo chéo và vẻ mặt quả quyết lạ thường.

- Cô Lan, từ hôm nay con ở lại bến với cô. Con không về nhà nữa.

Tôi ngẩng lên, tưởng nó đùa.

- Nói linh tinh gì đấy? Mẹ con lo chết.

- Con nói thật. Đêm qua chú ngựa trắng lại về trong mơ, chú ấy bảo con phải ở lại bến, chờ chú ấy. Con phải chờ.

Nó nói với giọng nghiêm túc của một ông cụ non, khiến tôi không nhịn được cười. Nhưng rồi tôi nhìn vào mắt nó, đôi mắt trong veo mà kiên định, tôi biết nó không đùa.

- Khôi này, bến này ban đêm lạnh lắm, muỗi như trấu. Con ở đây ốm thì sao?

- Con mang theo chăn rồi. Với lại con chỉ ở ban ngày thôi, tối con về. Nhưng ban ngày con phải ở đây, chờ chú ngựa trắng.

Tôi đành gật đầu. Một đứa trẻ tám tuổi đòi ở lại bến chờ ngựa trắng, nghe thì buồn cười, nhưng sau bao nhiêu điềm báo, tôi không dám xem thường bất cứ điều gì liên quan đến nó nữa.

Suốt buổi sáng, thằng Khôi ngồi bệt trên bậc đá, ôm khư khư cái túi vải. Tôi bận rộn với đống lễ vật dân thôn mang đến: gạo nếp, đậu xanh, lá dong, hoa quả. Các bà các chị chia nhau gói bánh chưng chay, nấu xôi, làm chè. Không khí ở bến tạm rộn ràng như sắp có hội, khác hẳn vẻ ảm đạm mấy tuần trước.

Đến trưa, tôi mới để ý thằng Khôi đang hí hoáy với mặt sau của một tờ lịch cũ. Nó vẽ say sưa, lưỡi thè ra, tay cầm mẩu than củi đen nhẻm. Tôi lại gần xem.

Và tôi đứng sững.

Trên tờ lịch, bằng những nét than nguệch ngoạc của trẻ con, nó vẽ một bến đá với những bậc thang. Giữa bến là hình một người phụ nữ tóc dài, tay cầm bó hương. Tôi nhận ra ngay đó là tôi, vì nó còn vẽ thêm cái nốt ruồi nhỏ bên mép trái của tôi, chi tiết mà ít ai để ý. Nhưng điều làm tôi rợn người là phía sau lưng người phụ nữ ấy, nó vẽ bảy bóng người đứng thành hàng, cao thấp khác nhau, đều mặc áo dài, đầu đội khăn xếp.

Bảy bóng người.

Tay tôi run run cầm tờ lịch lên.

- Khôi, bảy người này là ai? Con vẽ ai đấy?

Nó ngẩng lên, vẻ mặt ngây thơ:

- Con không biết. Con cứ vẽ thế, tay con tự vẽ. Cô ơi, có phải là các cụ ngày xưa giữ bến không cô? Con thấy trong mơ có nhiều người đứng sau lưng cô lắm, đếm được bảy người.

Tôi ôm tờ lịch vào ngực, tim đập thình thịch. Bảy đời giữ bến họ Phạm. Bảy bóng người đứng sau lưng tôi. Đứa trẻ này, không ai dạy, không ai kể chi tiết, lại vẽ ra đúng bảy bóng.

- Con vẽ đẹp lắm. Cô giữ bức tranh này nhé?

- Vâng. Cô giữ đến đêm rằm, mang ra bến cho các cụ xem.

Tôi cẩn thận gấp tờ lịch lại, nhét vào túi áo trong. Bức tranh của thằng Khôi như một lời khẳng định từ cõi vô hình: tôi không đơn độc. Sau lưng tôi là bảy đời người giữ bến, là cả một dòng họ đã ngã xuống để giữ ngọn lửa này.

Chiều hôm đó, cụ Kính đến kiểm tra lễ vật. Cụ đi một vòng quanh đống đồ, gật gù:

- Được. Đồ chay thanh tịnh, do tay dân làm. Nhưng còn thiếu một thứ quan trọng.

- Thiếu gì ạ, cụ?

- Lễ vật dâng lên bến thiêng phải có đủ hương, hoa, đăng, trà, quả, thực. Ta có hương, có hoa, có quả, có thực chay. Còn thiếu đăng là nến, và trà. Nến thì dễ, nhưng trà phải là trà ướp sen, pha bằng nước giếng đền. Mai cụ sẽ đi hái sen, ướp trà.

Tôi ghi nhớ từng lời. Lễ an vị không phải chuyện đùa, sai một ly là đi một dặm. Cụ Kính dặn đi dặn lại, mọi thứ phải thành tâm, không được qua loa.

Buổi chiều, tôi cùng các bà các chị ngồi gói bánh chưng chay dưới lán bến tạm. Mẹ tôi chỉ huy, tay thoăn thoắt xếp lá dong, đong gạo nếp, đậu xanh. Mùi lá dong tươi, mùi gạo mới quyện với mùi khói hương tạo thành một thứ hương vị rất riêng của ngày hội.

- Gói chặt tay vào, đừng để nước vào. Bánh dâng lên bến thiêng phải vuông vắn, không được méo mó. Mẹ tôi dặn đám thanh niên.

Thằng Khôi cũng xắn tay áo đòi gói. Nó gói được một cái bánh méo xẹo, lá dong thừa ra tứ phía, cả đám cười ồ. Nó không giận mà còn cười theo, rồi hí hửng đặt cái bánh méo của mình lên đầu đống, bảo:

- Cái này là của con dâng chú ngựa trắng!

Tôi nhìn nó, lòng ấm áp lạ thường. Một đứa trẻ tám tuổi, hồn nhiên như thế, vậy mà Sang nỡ rêu rao nó là đứa trẻ bị ma nhập. Lòng dạ con người, có khi còn đáng sợ hơn cả vực xoáy. Tôi chợt nhớ đến buổi họp dân hôm trước, khi Sang cho người tung tin thằng bé bị ma nhập để dân xa lánh nhà họ Nguyễn. May mà dân thôn này đa phần vẫn tỉnh táo, không ai tin những lời đặt điều ấy. Mẹ thằng Khôi kể với tôi, có đêm nó khóc vì bị mấy đứa trẻ trong xóm trêu là đồ ma nhập, nó không hiểu mình làm gì sai. Nghe mà đứt ruột.

Đang gói bánh thì có tiếng xe máy rồ ga ngoài đường đê. Lê Văn Cò chở một tên lạ mặt chạy qua, đi chậm lại, nhìn chằm chằm vào lán bến tạm. Ánh mắt hắn dừng lại trên đống lễ vật, rồi dừng lại trên tôi, lạnh như nước đá. Tôi rùng mình, nhớ đến dấu bớt hình lưỡi liềm sau gáy hắn mà tôi từng nhìn thấy. Kẻ mang dấu tích của dòng dõi đào trộm mộ tổ.

Anh Thắng thấy vậy, đứng dậy chắn trước mặt tôi.

- Mày nhìn gì?

Cò nhếch mép cười, không nói gì, rồ ga phóng đi. Nhưng cái nhìn của hắn ám ảnh tôi suốt buổi chiều. Hắn đang rình rập. Chắc chắn Sang đã sai hắn làm gì đó.

Tôi kể lại chuyện ban chiều cho cụ Kính. Cụ trầm ngâm:

- Lễ vật phải có người trông cả đêm. Từ nay đến đêm rằm, kho chứa lễ vật không được rời mắt. Cụ sẽ cắt cử người trực.

Thế là ngay chiều hôm ấy, đám thanh niên trong thôn dựng thêm một lán nhỏ cạnh bến tạm làm kho chứa lễ vật, phân công nhau trực đêm. Người mang chăn, người mang đèn pin, quyết không để kẻ gian động vào.

Tôi nhìn kho lễ vật dần đầy lên: bánh chưng, xôi, chè, hoa quả, hương nến. Mỗi món đồ là một tấm lòng của dân thôn. Tôi thầm nghĩ, dù Sang có cho người phá đi chăng nữa, chúng tôi cũng sẽ làm lại. Lòng người đã quyết thì không gì phá nổi.

Nhưng tôi không ngờ, đêm ấy chính là đêm kho lễ vật bị để ý.

Tối đến, thằng Khôi nhất định không chịu về. Mẹ nó phải ra tận bến lôi về, nó giãy nảy khóc:

- Con phải ở lại chờ chú ngựa trắng! Chú ấy dặn con rồi!

Mẹ nó dỗ mãi không được, cuối cùng đành thỏa hiệp: cho nó ở lại đến khi trăng lên rồi về. Tôi trải chiếu cho nó ngồi cạnh bát hương, nó ngồi im thin thít, mắt dán ra mặt sông tối om, như đang chờ một điều thật sự sẽ đến.

Trăng lên. Mặt sông lấp loáng ánh bạc. Thằng Khôi chợt reo lên:

- Cô ơi! Cô nhìn kìa!

Tôi nhìn theo tay nó chỉ. Trên mặt sông, gần phía vực xoáy, những cụm bọt trắng đang nổi lên, kết thành hình những cánh sen. Bọt sen. Điềm lành. Lần này bọt sen xuất hiện khi thằng Khôi đang thức, đang cười, không phải trong mơ.

Cả bến tạm ồ lên. Mấy bác trai trực hương chạy ra mép nước xem. Bọt sen cứ nổi lên từng cụm, trắng xóa trên nền nước đỏ, đẹp đến nao lòng.

- Điềm lành! Điềm lành rồi! Bác Tư reo lên.

Thằng Khôi cười khanh khách, vỗ tay. Tôi nhìn nó cười, nhìn bọt sen, bỗng thấy mắt mình ươn ướt. Giữa lúc hương điện chính đã tắt bốn mươi bảy ngày, giữa lúc kiếm đồng còn mất tích, giữa lúc Sang vẫn rình rập ngoài kia, bến vẫn cho chúng tôi một dấu hiệu: bến chưa chết. Bến vẫn còn thương người giữ nó.

Đêm ấy, sau khi mẹ thằng Khôi đón nó về, tôi ngồi một mình bên bát hương, lấy bức tranh bảy bóng ra xem lại dưới ánh nến. Bảy bóng người đứng sau lưng tôi, im lặng mà vững chãi. Tôi chợt hiểu ra điều mà giấc mơ đêm qua muốn nói: giữ hương, đừng giữ kiếm. Kiếm là vật ngoài thân, có thể mất, có thể tìm lại. Nhưng bảy bóng người này, dòng máu giữ bến này, không ai cướp được khỏi tôi.

Tôi gấp bức tranh lại, áp lên ngực. Ngày mai, tôi sẽ đi tìm kiếm. Nhưng dù tìm được hay không, hương vẫn phải cháy, lễ vẫn phải làm. Lòng tôi lúc này vững như đá, không còn chút dao động nào nữa.

Gió sông thổi qua, nến chao đi rồi lại đứng vững. Tôi nhìn ra mặt sông, nơi bọt sen vừa tan, thầm hứa với bảy bóng người trong tranh: đêm rằm này, tôi sẽ không để các cụ phải thất vọng.

---

Chương khác

Xem thêm