Bến Nước Cửa Đền - Chương 45: Trang cuối

Sáng hai mươi bảy tháng tám, tôi tỉnh dậy trong lán tạm với toàn thân đau nhức. Đêm qua, sau khi được kéo lên khỏi vực xoáy, tôi sốt cao, mê man. Mẹ tôi…

Nội dung chương

Sáng hai mươi bảy tháng tám, tôi tỉnh dậy trong lán tạm với toàn thân đau nhức. Đêm qua, sau khi được kéo lên khỏi vực xoáy, tôi sốt cao, mê man. Mẹ tôi thức trắng đêm chườm khăn, thay áo cho tôi. Lúc tôi mở mắt, bà đang gục đầu bên cạnh, tay vẫn nắm chặt tay tôi.

- Mẹ... mấy giờ rồi?

Bà giật mình tỉnh dậy, mừng rỡ:

- Lan! Con tỉnh rồi! Gần tám giờ sáng rồi con.

Tám giờ sáng ngày hai mươi bảy. Hương tắt ngày thứ bốn mươi chín. Mốc giới hạn. Đêm nay phải an vị, không còn đường lui. Tôi cố gượng ngồi dậy, đầu óc quay cuồng, nhưng trong lòng chỉ có một ý nghĩ: phải đứng dậy, phải làm lễ đêm nay.

- Lễ vật... đàn lễ... tôi thều thào.

- Con yên tâm. Cụ Kính và bà con đang dựng lại đàn lễ. Mọi người bảo nhau: lễ thỉnh bị phá thì làm lễ chính to hơn, đàng hoàng hơn. Không ai nản chí đâu con.

Tôi ứa nước mắt. Đêm qua tôi gục ngã, nhưng cả thôn không gục. Họ đã đứng dậy thay tôi.

Đúng lúc ấy, có tiếng ồn ào ngoài bến. Thằng Tèo chạy vào, hổn hển:

- Cô Lan ơi! Anh Cò... anh Cò đến! Anh ấy bảo muốn gặp cô!

Tôi vội khoác áo, theo Tèo ra ngoài. Dọc đường, tôi thấy đàn lễ đang được dựng lại khẩn trương. Đám thanh niên kê lại bàn thờ, các bà lau chùi lễ vật còn dùng được, gói lại những thứ bị ướt. Ai cũng làm việc trong im lặng khẩn trương, không một lời than vãn. Tôi thấy sống mũi cay cay. Đêm qua tôi gục ngã, nhưng cả thôn đã đứng dậy thay tôi, mạnh mẽ hơn cả khi tôi còn đứng.

Dưới nắng sớm, Lê Văn Cò đứng ở đầu bến, đầu cúi gằm. Hắn đã thay bộ quần áo khô, nhưng trông vẫn tiều tụy, mắt sưng húp vì khóc cả đêm. Xung quanh, dân thôn xúm lại xem, có người còn cầm gậy, ánh mắt đầy căm phẫn. Tôi hiểu, họ căm hắn vì đã phá lễ, đã trộm kiếm, đã theo Sang hại bến. Tôi phải dàn xếp chuyện này thật khéo, không để xảy ra ẩu đả.

Thấy tôi, hắn quỳ sụp xuống, dập đầu ba cái xuống nền đất.

- Cô Lan! Tôi đến đầu thú!

Cả bến ồ lên. Mấy thanh niên định xông đến trói hắn, tôi vội ngăn lại:

- Để anh ấy nói.

Cò ngẩng lên, mặt đẫm nước mắt:

- Đêm qua, khi tôi chìm xuống vực xoáy, tôi đã thấy cụ cố tôi. Cụ đứng ngay mép vực, nhìn tôi, lắc đầu. Tôi hiểu ra, cụ không muốn tôi xuống với cụ. Cụ muốn tôi sống để trả nợ. Cô Lan, tôi không trốn nữa. Tôi ra đầu thú. Tôi khai hết mọi việc ông Sang thuê tôi làm: trộm kiếm, phá kho, phá lễ đêm qua.

Hắn run run lấy trong túi áo ra một bọc vải nhỏ đã ngả màu thời gian, hai tay dâng lên trước mặt tôi.

- Đây là trang gia phả cuối bị xé từ năm xưa. Vật gia truyền của dòng họ tôi. Hôm nay, tôi giao nó lại cho bến. Xin bến, xin cô, cho tôi được thắp một nén hương cho tổ tiên tôi, để tạ tội thay cho cả dòng họ.

Tôi đón lấy bọc vải, tay run run mở ra. Bên trong là một trang giấy dó đã ố vàng, mép giấy sờn rách, có chỗ còn dính vết bùn đất như đã bị chôn vùi đâu đó.

Tôi đưa cho cụ Kính. Cụ đeo kính, trải trang giấy lên mặt bàn, đọc to cho mọi người nghe, giọng run run vì xúc động.

Trang giấy ghi rõ từng chữ: vào một năm đói kém xưa kia, cụ tổ của dòng họ Lê nhà Cò đã đào trộm mộ tổ của họ Phạm để lấy của cải, phạm vào đất thiêng của bến. Kẻ đó sau bị vực xoáy đòi mạng, chết không toàn thây, xác không tìm thấy.

Trước khi chết, hắn để lại lời trăn trối cho con cháu: dòng dõi hắn đời đời mang vết bớt lưỡi liềm sau gáy, đời đời phải nhớ tội này.

Và chỉ khi nào có người trong dòng họ đứng ra trả nợ, quỳ xin tha thứ trước bến thiêng, thì lời nguyền mới được hóa giải, linh hồn tổ tiên mới được siêu thoát.

Cụ Kính đọc xong, cả bến im phăng phắc. Chỉ còn tiếng sóng vỗ vào bậc đá và tiếng gió thổi qua rặng tre. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía Cò. Hắn quỳ đó, đầu cúi gằm, vai run lên từng hồi. Trên gáy hắn, vết bớt lưỡi liềm ẩn hiện dưới cổ áo, như một dấu ấn không thể chối cãi của dòng máu và tội lỗi.

Cụ Kính gấp trang giấy lại, nhìn Cò bằng ánh mắt nghiêm nghị mà không hề căm ghét:

- Anh Lê Văn Cò, anh có biết tội của tổ tiên anh không?

- Dạ biết. Hắn thều thào. Cụ cố tôi truyền lại, đời nào cũng dặn con cháu phải nhớ. Nhưng càng nhớ, chúng tôi càng sợ, càng muốn chôn vùi. Tôi đã sai khi nghe lời ông Sang phá kè đá để phi tang. Tôi xin chịu tội.

- Tội của tổ tiên, anh không gây ra. Nhưng tội phá lễ, trộm kiếm, anh đã gây ra. Anh ra đầu thú là đúng. Pháp luật sẽ xử anh công bằng. Còn về phần bến... cụ ngừng một nhịp. Bến này không từ chối kẻ biết quay đầu. Anh xin thắp hương cho tổ tiên, ta cho phép. Nhưng anh phải nhớ: từ nay, anh phải sống cho xứng đáng với nén hương ấy.

Cò dập đầu lạy tạ, nước mắt lã chã. Tôi đích thân châm ba nén hương, đưa cho hắn. Hắn run run đón lấy bằng hai tay, quỳ trước đàn lễ tạm, cắm hương vào bát, rồi quỳ lạy bốn phương tám hướng. Hắn khấn to, giọng nghẹn ngào mà rõ từng chữ:

- Cụ ơi! Con là Lê Văn Cò, cháu bảy đời của cụ. Con thay mặt dòng họ, xin tạ tội với bến thiêng, với họ Phạm, với Quan Hoàng Bảy. Con đã lầm đường, theo kẻ ác phá bến, trộm kiếm. Từ nay con xin quay đầu, sống cho ngay thẳng, nuôi con nên người, để chuộc lại tội lỗi của tổ tiên và của chính con. Xin cụ chứng giám! Xin bến chứng giám!

Hắn khấn xong thì gục đầu xuống đất, khóc nức nở. Khói hương cuộn lên, bay về phía mặt sông. Mấy bà trong thôn cũng sụt sùi theo. Có bà còn lẩm bẩm: tội nghiệp, nó cũng là nạn nhân của cái nghèo, của thằng Sang. Tôi đứng nhìn, lòng ngổn ngang. Kẻ thù hôm qua, hôm nay đã quỳ xin tha thứ. Bến này quả thật có sức mạnh kỳ lạ: nó không giết kẻ ác, nó khiến kẻ ác phải đối mặt với chính mình, rồi cho họ một con đường quay về.

Sau lễ thắp hương, Cò chủ động đến cơ quan công an xã đầu thú. Mấy thanh niên trong thôn định đi theo để canh chừng, nhưng tôi ngăn lại:

- Để anh ấy tự đi. Người đã quay đầu thì phải tin.

Trước khi đi, hắn nắm tay tôi, nói nhỏ, giọng nghẹn ngào:

- Cô Lan, thanh kiếm đồng tôi giấu ở lán, dưới gầm chõng tre, trong hốc đất. Cô đến lấy về đi. Tôi không còn mặt mũi nào động vào nó nữa. Với lại... cô nhớ đến thăm con gái tôi giúp tôi. Nó hỏi bố, bà ngoại không biết trả lời sao.

Tôi gật đầu, mắt rưng rưng:

- Anh yên tâm. Thôn sẽ lo cho cháu bé. Anh cứ thành khẩn khai báo, pháp luật sẽ xem xét. Bến này đã tha thứ cho anh, tôi tin pháp luật cũng sẽ công bằng với anh.

Tôi tiễn hắn ra đến đầu bến. Nhìn bóng hắn liêu xiêu đi về phía trụ sở xã, tôi thầm nghĩ: một con người đã quay đầu. Dù pháp luật xử hắn thế nào, bến này đã tha thứ cho hắn. Và biết đâu, sau này hắn sẽ trở thành một người giữ bến đắc lực, để chuộc lại lỗi lầm.

Trở vào lán, tôi mở bọc vải đựng trang gia phả cuối ra xem lại. Nét chữ nho cổ kính, ghi rõ tội trạng và lời nguyền. Tôi cẩn thận bọc lại bằng vải điều mới, quyết định sẽ đặt trang này cạnh cuốn gia phả khi gia phả được trả lại, để bảy đời giữ bến và món nợ của dòng họ Lê cùng được khép lại trong đêm rằm. Món nợ trăm năm, hôm nay đã có người đứng ra trả.

Ngoài kia, nắng đã lên cao, xiên qua khe lá chiếu những vệt sáng dài trên nền đất. Hương tắt ngày thứ bốn mươi chín. Đêm nay, trăng sẽ tròn. Và tôi, dù còn yếu sau đêm giông, sẽ đứng dậy lo lễ an vị đêm nay.

Tôi ra đứng trước đàn lễ đang dựng dở, nhìn bà con tất bật. Có bác đang kê lại bàn thờ, có chị đang lau lá dong gói bánh mới, có em bé chạy lăng xăng nhặt hoa rơi. Tất cả đều hướng về một đêm rằm duy nhất. Tôi hít sâu một hơi, cảm nhận hơi thở của mình đã đều trở lại. Cơn sốt đã lui, sức lực đang dần trở về. Trong lòng tôi dâng lên một niềm tin mãnh liệt: đêm nay, bến nhất định sẽ được an vị.

Vì tôi là người giữ bến. Và người giữ bến không được phép gục ngã khi hương còn chưa được thắp lại. Bảy đời trước đã làm được, tôi cũng sẽ làm được. Đó là lời thề trong lòng tôi lúc này, thề với bảy bóng người trong tranh, với cả khúc sông đang chảy.

---

Chương khác

Xem thêm