Bói Gương - Chương 4: Tấm Gương Của Người Thuê Trước
Tiếng then sắt ngoài cổng dãy trọ đóng sập lại, bỏ rơi tôi giữa bốn bức tường vôi lở loét. Căn phòng số bảy chìm vào một thứ bóng tối quánh đặc. Chiếc…
Nội dung chương
Tiếng then sắt ngoài cổng dãy trọ đóng sập lại, bỏ rơi tôi giữa bốn bức tường vôi lở loét.
Căn phòng số bảy chìm vào một thứ bóng tối quánh đặc. Chiếc điện thoại cạn sạch pin nằm úp mặt trên mép chiếu cói, tắt ngấm màn hình đen sì. Không còn tiếng chuông, không còn những dòng tin nhắn cộc lốc của Khải, cũng không còn giọng rủ rỉ dặn dò của Linh. Sự im lặng sau cơn mưa đêm ở con hẻm Nguyễn Trãi này trút xuống đặc quánh, nặng trịch như một tấm vải liệm ẩm mốc.
Tôi đứng tựa lưng vào cánh cửa gỗ ép, ngực phập phồng theo từng nhịp thở nặng nhọc. Không khí trong phòng lúc này vừa ngột ngạt vừa tanh nồng mùi rêu mốc bốc lên từ những khe nứt dưới chân tường. Gió lùa qua chấn song sắt của ô thông gió trên cao, mang theo hơi lạnh buốt giá và thứ ánh sáng vàng vọt từ cột đèn cao áp ngoài ngõ hắt vào. Luồng sáng yếu ớt, bủng beo rọi chéo một góc nhà, cắt qua bàn học bừa bộn rồi rơi thẳng xuống giữa phòng.
Nó dừng lại ngay trên mặt kính của chiếc tủ đứng.
Chiếc tủ gỗ ép ba buồng đã mục ruỗng này vốn không thuộc về tôi. Ngày tôi dọn từ ký túc xá ra đây hai tháng trước, bác Năm chủ trọ đã xách chùm chìa khóa rỉ sét dẫn tôi vào, chỉ tay vào cái tủ kê sát góc tường phía đông rồi bảo:
- Cái tủ này của con nhỏ thuê trước để lại. Nó đi gấp trong đêm, tiền cọc tháng cuối cũng chẳng thèm lấy, đồ đạc vứt lung tung tao phải dọn mất cả buổi. Mày cứ để đó mà treo đồ, khỏi tốn tiền mua ba cái tủ vải ọp ẹp cho mệt.
Lúc đó, vì quá mệt mỏi sau những ngày cãi vã triền miên với Khải, lại phải vội vã tìm một chỗ ở giá rẻ để kịp làm khóa luận tốt nghiệp, tôi gật đầu đồng ý mà chẳng buồn hỏi han thêm. Tôi chỉ nhớ bác Năm từng lẩm bẩm rằng người thuê trước là một cô gái trẻ làm công nhân may cho một xưởng gia công bên Chợ Lớn. Cô ta ít nói, ban ngày ngủ vùi, ban đêm đi làm đến tận tờ mờ sáng mới về, không giao thiệp với ai trong xóm trọ. Rồi một ngày nọ, phòng khóa trái, chủ xưởng may tới tìm đòi người vì cô ta trốn việc. Khi bác Năm phá khóa bước vào, đồ đạc vẫn còn nguyên, duy chỉ có người là bốc hơi không tăm tích.
Bác Năm phủi tay, bảo chắc trốn nợ cờ bạc hay theo trai trốn về miền Tây rồi. Lời kể xuề xòa của người đàn ông già cả mau chóng trôi tuột khỏi đầu tôi. Cho đến tận đêm nay.
Dưới ánh đèn đường vàng ệch hắt qua khung cửa, tấm gương cao gần bằng đầu người gắn chặt trên cánh tủ gỗ bên phải hiện ra sừng sững. Lớp thủy tinh dày cộm bị phủ một lớp bụi mờ xám xịt và những đốm ố vàng loang lổ. Mặt kính bám đầy những vệt nước khô ráp tích tụ qua nhiều năm tháng, trông giống một vũng nước đục ngầu bị đóng băng.
Tôi vô thức bước tới gần chiếc tủ. Đôi chân trần giẫm lên nền gạch men ẩm ướt, lạnh buốt ran từ lòng bàn chân xông thẳng lên tận đỉnh đầu.
Bóng tôi in trên mặt kính mờ căm. Đôi mắt trũng sâu vì thiếu ngủ, gò má hóp lại và mái tóc đen dài rũ rượi xõa ngang vai. Trông tôi tàn tạ, xơ xác chẳng khác nào một kẻ vừa bước ra từ dưới đáy mồ. Hình ảnh thảm hại đó làm lồng ngực tôi thắt lại. Khải đã bỏ tôi đi vì sự suy sụp này sao? Bốn năm thanh xuân đánh đổi lấy một câu nói cạn tình, để rồi đêm nay tôi phải co ro một mình trong xó trọ tồi tàn, đối diện với cái bóng tiều tụy của chính mình?
Một cảm giác bực bội xen lẫn ghê tởm trỗi dậy trong lòng. Tôi không muốn nhìn thấy bản thân mình nhếch nhác qua một lớp kính cáu bẩn như vậy.
Tôi quay sang góc bếp nhỏ cạnh nhà vệ sinh, giật lấy chiếc khăn lau mặt cũ kỹ vắt trên dây thép. Tôi vặn vòi nước. Dòng nước máy nửa đêm chảy ra rè rè, đục ngầu và sực mùi rỉ sắt. Tôi nhúng ướt chiếc khăn, vắt ráo rồi quay trở lại trước mặt gương.
Bàn tay tôi siết chặt mép vải thô ráp, bắt đầu miết mạnh từ đỉnh tấm gương xuống dưới.
*Két... kít...*
Âm thanh ma sát ken két giữa lớp vải ướt và mặt kính vang lên chói tai giữa căn phòng vắng lặng. Đám bụi bám lâu năm nhanh chóng quện vào nước, tạo thành những vệt bùn đen nhờn nhợt bám đầy trên khăn. Tôi đổi mặt vải, tiếp tục chà thật mạnh. Mùi tanh của nước ẩm trộn lẫn với mùi thủy tinh cũ kỹ bốc lên nồng nặc, xộc thẳng vào cánh mũi buốt rát.
Tôi lau một đường dài từ trên xuống dưới, rồi lau vòng tròn từ mép kính vào tâm gương. Lớp bụi xám dày cộm dần dần bị bóc tách. Dưới lớp chất bẩn tích tụ nhiều năm, bề mặt gương lộ ra với màu sắc thật của nó.
Đó là một tấm gương đã quá già cỗi. Lớp tráng bạc ở mặt sau bị ẩm ướt ăn mòn, rỗ hoa lấm tấm như những nốt sần trên da người bệnh. Ở bốn góc gương, lớp thủy ngân bị oxy hóa chuyển sang màu đen sẫm, tạo thành một khung viền tối tăm, u ám bao bọc lấy phần kính sáng ở giữa. Những đốm ố vàng li ti rải rác khắp nơi, làm cho hình ảnh phản chiếu bên trong bị biến dạng, méo mó một cách kỳ quặc.
Khi lau đến góc dưới bên trái, mép khăn của tôi vướng phải một vật cộm lên.
Tôi dừng tay, cúi sát người xuống để nhìn cho rõ. Dọc theo đường nẹp gỗ giữ tấm gương vào cánh tủ là những mẩu băng dính màu đỏ đã khô cứng, bị bong tróc từng mảng. Ai đó trước đây đã dùng băng keo dán kín toàn bộ khe hở giữa mặt kính và khung gỗ, sau đó lại dùng dao lam cạo bỏ vội vàng. Trên lớp nẹp gỗ mục nát vẫn còn hằn sâu những vết rạch nham nhở, chằng chịt như vết cào của móng tay.
Ở một góc khuất sát chân tủ, tôi thấy một mẩu giấy vàng úa kẹp chặt giữa khe nẹp. Nó chỉ còn là một mẩu vụn nhỏ bằng đốt ngón tay, mép giấy bị xé rách nham nhở, nhưng trên nền giấy vẫn còn sót lại một nét mực đỏ chu sa nguệch ngoạc.
Bùa chú trấn yểm.
Một sinh viên khoa Văn như tôi từng đọc qua không ít tài liệu về tín ngưỡng dân gian Nam Bộ. Người ta chỉ dán bùa viền quanh gương soi khi trong nhà có người chết bất đắc kỳ tử, hoặc khi tấm gương đó đã vô tình thu hút những thứ ô uế từ cõi bên kia mà người sống không thể xua đuổi bằng cách thông thường.
Ngón tay tôi khẽ run lên. Tôi dùng móng tay cạy thử mẩu giấy úa tàn kia ra, nhưng lớp keo khô khốc đã gắn chặt nó vào thớ gỗ ẩm mục. Một mùi hôi ngai ngái bốc ra từ khe nẹp, xộc thẳng vào mắt khiến tôi cay xè.
Tôi lùi lại một bước, hít sâu một hơi để trấn tĩnh lồng ngực đang đập liên hồi.
Mặt kính lúc này đã sạch bóng, trong veo một cách lạnh lẽo dưới luồng sáng vàng vọt hắt từ cửa sổ. Bề mặt thủy tinh nhẵn thín phản chiếu lại toàn bộ gian phòng nhỏ. Tôi thấy chiếc giường sắt rỉ sét, thấy đống sách vở ngổn ngang, thấy chiếc ca nhựa đựng điện thoại đã tắt ngấm, và thấy chính mình đang đứng trơ trọi giữa sàn gạch.
Tôi đứng im, nhìn trân trân vào đôi mắt của người con gái trong gương.
Đó là khuôn mặt của tôi. Vẫn là đôi gò má tái nhợt, chiếc cằm nhọn và sống mũi cao gầy. Nhưng giữa ánh sáng mờ ảo của đêm khuya, bóng phản chiếu của tôi dường như mang một sắc thái hoàn toàn xa lạ. Hai tròng mắt của hình bóng trong gương đen láy một cách dị thường, phẳng lặng và lạnh ngắt, tựa như hai cái hố sâu không đáy đang nuốt chửng thứ ánh sáng vàng vọt bên ngoài.
Tôi thử chớp mắt một cái.
Một cảm giác rợn gáy lập tức ập tới, bóp nghẹt lồng ngực tôi.
Hình bóng trong gương chớp mắt chậm hơn tôi một phần giây.
Tôi đứng sững người, toàn thân đông cứng lại. Lông tơ khắp sống lưng dựng đứng lên. Tôi tự nhủ rằng do mắt mình làm việc quá sức, do tôi khóc quá nhiều suốt mấy ngày qua nên thị giác bị ảo giác quang học đánh lừa. Phòng trọ tối tăm, ánh sáng lại chập chờn, chuyện nhìn nhầm là điều hết sức bình thường.
Để chứng minh mình chỉ đang tưởng tượng vớ vẩn, tôi hít một hơi thật sâu, giơ bàn tay phải lên ngang ngực rồi từ từ hạ ngón trỏ xuống.
Tôi cử động.
Hình bóng trong gương cũng cử động theo. Nhưng rõ ràng, ngón tay của nó dừng lại sau ngón tay thật của tôi một nhịp rất nhỏ. Sự chênh lệch chỉ diễn ra trong tíc tắc, ngắn ngủi đến mức nếu không tập trung cao độ thì không thể nào nhận ra, nhưng với một người đang căng thẳng tột độ như tôi, sự trễ nhịp đó rõ ràng như ban ngày.
Cái bóng trong gương không chỉ đơn thuần là sự phản chiếu ánh sáng. Nó chuyển động với một độ trễ kỳ dị, giống như một kẻ khác đang đứng sau tấm kính tráng bạc, cố gắng bắt chước lại từng cử chỉ của tôi nhưng bị chậm mất một nhịp thở.
Tim tôi nảy lên thình thịch, đập dồn dập vào lồng ngực như muốn xé toạc lớp da thịt. Tôi muốn quay đầu bỏ chạy ra khỏi phòng, muốn mở toang cánh cửa gỗ để lao ra ngoài hành lang đầy gió. Nhưng hai chân tôi như bị đóng đinh xuống nền gạch trơn láng. Sự sợ hãi tột cùng khóa chặt mọi khớp xương, giữ tôi đứng chết trân trước mặt tấm kính tráng bạc.
*Cạch.*
Một âm thanh khô khốc vang lên từ phía sau cánh tủ.
Tôi nín thở. Mọi giác quan căng ra đến mức tối đa.
*Lách cách... lách cách...*
Âm thanh đó nhỏ xíu, nhưng sắc nhọn và vang lên đều đặn. Nó phát ra từ khoảng không gian chật hẹp, tối tăm nằm giữa tấm kính thủy tinh và miếng ván ép mục nát ốp phía sau cánh tủ. Tiếng động nghe rất giống tiếng móng tay người đang cào cấu nhè nhẹ vào mặt gỗ khô, từng vệt, từng vệt một, chậm rãi và kiên nhẫn.
*Sột... soạt...*
Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán tôi, chảy dài xuống gò má rồi đọng lại nơi khóe môi một vị mằn mặn. Tôi nhìn chằm chằm vào mép gương bên trên. Nơi tiếp giáp giữa lớp kính và khung tủ có một khe hở nhỏ do gỗ bị ẩm lâu ngày mà cong vênh lên.
Từ trong bóng tối sâu hoắm của khe hở đó, một vật gì đó khẽ cựa quậy.
Cơn gió ngoài cửa sổ bỗng thốc mạnh một cú làm cánh cửa thông gió đập rầm một tiếng chói tai. Luồng gió lạnh buốt tràn vào phòng, quét qua mặt tôi rồi thổi tạt vào tấm gương tủ.
Một vật thể mỏng manh, nhẹ bẫng từ trong khe nẹp gỗ rơi ra.
Nó lơ lửng giữa không trung một thoáng, chao đảo theo ngọn gió đêm rồi rơi thẳng xuống dưới chân tôi.
Vật đó chạm vào mu bàn chân trần của tôi. Một cảm giác nhồn nhột, lạnh buốt chạy dọc từ ngón chân cái lên tới sống lưng.
Tôi run rẩy cúi đầu nhìn xuống.
Nằm vắt ngang qua mu bàn chân trắng bệch của tôi là một sợi tóc.
Đó là một sợi tóc dài bạc trắng, khô khốc và cứng quắt như rễ cây chết. Sợi tóc dài đến hơn hai gang tay, trắng muốt một cách ma quái, nổi bật hoàn toàn trên làn da của tôi dưới ánh đèn đường vàng vọt.
Căn phòng này từ trước đến nay chỉ có mình tôi ở. Người thuê trước là một cô gái trẻ làm công nhân may, tuổi đời cùng lắm cũng chỉ bằng tôi hoặc hơn tôi vài tuổi. Bác Năm chủ trọ thì cạo trọc đầu từ chục năm nay. Mỹ Linh tóc nhuộm màu nâu hạt dẻ và cắt ngắn ngang vai.
Sợi tóc bạc dài này từ đâu ra? Nó đã nằm im trong khe nẹp gỗ phía sau tấm gương kia từ bao giờ?
Tiếng cào cấu lách cách phía sau mặt kính bỗng nhiên im bặt. Căn phòng lại rơi vào sự tĩnh mịch ngột ngạt. Tấm gương tráng bạc trước mặt tôi vẫn đứng sừng sững, phẳng lặng như chưa từng có bất cứ điều gì xảy ra. Nhưng lúc này, khi nhìn vào khoảng không gian phản chiếu trong lòng gương, tôi cảm nhận rõ rệt một sự thay đổi quái đản.
Không gian trong gương trông sâu hơn thực tế rất nhiều. Nó không dừng lại ở bức tường vôi phía sau lưng tôi, mà dường như mở ra một hành lang dài hun hút, tối om và lạnh lẽo, nơi có một ánh mắt vô hình đang ẩn nấp trong bóng tối, chăm chú dõi theo từng cử động nhỏ nhất của tôi.
Lời của Linh lại vang lên bên tai tôi, rành rọt từng chữ:
*Đến nhát thứ một trăm, khi ánh nến chập chờn chao đảo, trong lòng gương sẽ không còn phản chiếu căn phòng này nữa. Thấy khuôn mặt của người có duyên nợ tiền kiếp với mày...*
Tôi nhìn sợi tóc bạc trắng dưới chân, rồi lại nhìn lên khuôn mặt nhợt nhạt của chính mình trong gương. Trái tim tôi lúc này không chỉ còn sự sợ hãi đơn thuần nữa. Một thứ cảm giác kích động điên rồ, u uất và tăm tối bắt đầu nhen nhóm trong lồng ngực.
Bốn năm yêu đương kết thúc bằng một sự phản bội cay đắng. Cuộc đời tôi đang rơi xuống đáy sâu của sự bế tắc và tuyệt vọng. Nếu tấm gương này thực sự thông với cõi bên kia, nếu những vết bùa chú và sợi tóc bạc này là dấu tích của một nghi thức chưa hoàn tất... liệu tôi có thể nhìn thấy kết cục thực sự của số phận mình?
Người đứng sau lưng tôi sẽ là ai? Là duyên nợ tương lai, hay là một oan hồn đang mắc kẹt trong chiếc tủ gỗ mục nát này?
Tôi khẽ cắn chặt môi dưới cho đến khi nếm thấy vị máu tanh nồng lan tỏa nơi đầu lưỡi. Nỗi đau thể xác kéo tôi thoát khỏi cơn chết lặng. Tôi cúi xuống, nhặt sợi tóc bạc dài kia lên, nắm chặt nó trong lòng bàn tay lạnh ngắt.
Tôi quay người bước về phía chiếc rương gỗ cũ kỹ đặt ở góc phòng, nơi tôi cất giữ những món đồ gia bảo của bà ngoại để lại khi tôi khăn gói lên Sài Gòn nhập học.
Tôi phải tự mình kiểm chứng tất cả.