Bức Chân Dung Cô Mía - Chương 11: Lần theo niên đại
Cơn ớn lạnh sau gáy Thành không tan đi theo cái nắng chang chang ngoài đường cái. Ngay cả khi tiếng còi hụ của xe cấp cứu đã tắt lịm ở ngã tư xa xa, mùi…
Nội dung chương
Cơn ớn lạnh sau gáy Thành không tan đi theo cái nắng chang chang ngoài đường cái. Ngay cả khi tiếng còi hụ của xe cấp cứu đã tắt lịm ở ngã tư xa xa, mùi mía khét lẹt quyện mùi máu tanh nồng vẫn bám riết lấy vòm họng anh, đặc sệt và lợm giọng.
Thành đóng sập cửa cuốn của xưởng phục chế, khóa liền ba ổ khóa sắt to bản. Anh bọc mẩu xương hàm dính chiếc răng bọc vàng vào hai lớp vải xô dày rồi cất sâu dưới đáy ba lô, kẹp chặt bên sườn. Bức chân dung Cô Mía với khóe môi nứt toác kéo dếch lên tận gò má vẫn nằm im trong xưởng tối, nhưng mỗi bước chân anh rảo trên đường nhựa trưa nay đều nặng trĩu. Cảm giác như có ai đó đang ghé sát vào gáy, hà hơi thở ẩm mướt mang theo vị mật ngọt thiu rữa lên da thịt.
Trước khi khóa cửa rời đi, Thành đã bò rạp người dưới sàn xưởng ngót nửa tiếng đồng hồ. Dưới ánh đèn pin siêu sáng rọi xiên qua gầm xe nước mía, anh phát hiện ra một chi tiết kỹ thuật mà lúc nhận đồ đã bỏ qua.
Bên dưới gầm sàn, nơi tiếp giáp giữa càng xe đẩy bằng sắt hộp và phần đáy thùng gỗ thao lao, có một vết triện đóng chìm bằng sắt nung. Thớ gỗ thao lao đỏ sẫm đặc trưng của miền Tây sông nước những năm sau giải phóng đã chai cứng lại theo thời gian. Nhưng ngay trên góc mép gỗ vẫn còn hằn rõ ba chữ Hán được viền bởi một khung bầu dục:
Nghĩa Hưng Mộc.
. Bên dưới hàng chữ Hán là con số khắc tay méo mó:
Ất Sửu - 1985.
.
Gỗ thao lao xẻ khối dày ba phân, đóng mộng mang cá khít rịt, không dùng một cây đinh tây nào ngoài các then chốt bằng tre đực chuốt tròn. Đây là lối đóng thùng mộc gia truyền chỉ có ở các phường thợ Chợ Lớn cũ, đặc biệt là nhóm thợ mộc gốc Triều Châu từng tụ tập quanh khu lò heo cũ gần rạch Hàng Bàng.
Thành đạp máy chiếc xe Honda Dream tàn tạ, phóng thẳng về hướng quận Năm. Gió trưa hầm hập phả vào mặt rát buốt, cuốn theo bụi bặm của những công trường đang thi công dọc đại lộ Đông Tây.
Khu vực lò heo cũ ngày nay đã chia tách thành những con hẻm ngoằn ngoèo, sâu hun hút như mạng nhện. Đường vào hẻm hẹp đến mức hai chiếc xe máy đi ngược chiều phải nghiêng tay lái mới lọt. Hai bên vách tường vôi vàng ệch tróc từng mảng lớn, để lộ lớp gạch thẻ nung thủ công đỏ quạch, ẩm mốc vì hơi nước từ hệ thống cống rãnh ngầm bốc lên.
Thành tắt máy xe, dắt bộ qua từng căn nhà ba gian kiểu xưa nép mình dưới bóng những cây bồ đề mọc hoang trên bờ tường rêu phong. Không gian nơi đây hình như trôi chậm hơn bên ngoài phố xá cả mấy mươi năm. Mùi dầu cù là Mac Phsu, mùi nhang vòng trừ muỗi và khói trầm hương từ các trang thờ Quan Công, Thổ Địa đặt sát đất xông ra nồng nặc.
Thành vừa gõ cửa từng nhà vừa bồn chồn miết đầu ngón tay cái vào ngón trỏ. Vụn sơn dầu màu da người đóng vảy từ má bức chân dung Cô Mía vẫn còn găm chặt trong kẽ móng tay anh, cộm lên đau nhức. Cứ mỗi lần ngón tay anh miết qua vụn sơn khô khốc ấy, một luồng hàn khí lại chạy dọc từ sống lưng lên đỉnh đầu.
Anh dừng lại trước một tiệm sửa đồng hồ cổ chỉ rộng chừng hai mét vuông. Bên trong, một ông già đeo kính lúp một bên mắt đang cặm cụi gắp từng chiếc bánh răng li ti.
Chú ơi, làm phiền chú một chút.
Thành cất tiếng, giọng hơi khàn vì khát nước.
Chú ở khu lò heo này lâu năm, chú có biết xưởng Nghĩa Hưng Mộc hồi xưa đóng đồ gỗ ở khúc nào không chú?
Ông già không ngẩng đầu lên, nhíp gắp vẫn giữ chặt một trục xoay nhỏ xíu:
Nghĩa Hưng nào? Khu này giải tỏa trắng từ đợt mở đường ba chục năm trước rồi. Giờ chỉ còn mấy người già chờ chết thôi, xưởng xiếc gì nữa.
Dạ, xưởng của người Tiều đóng thùng xe nước mía bằng gỗ thao lao hồi năm 1985 đó chú. Chữ Nghĩa Hưng khắc triện sắt bầu dục.
Bàn tay cầm nhíp của ông thợ sửa đồng hồ khựng lại. Cặp kính lúp trên mắt ông rủ xuống. Ông ngước nhìn Thành bằng con mắt đục ngầu màng mộng thịt, ánh mắt lộ vẻ dò xét pha lẫn khó chịu:
Mầy hỏi cái đó làm gì? Dân chơi đồ cổ hả?
Dạ không, con làm nghề phục chế biển hiệu. Con vừa nhận sửa lại một cỗ xe nước mía cũ đóng đúng năm đó, dưới đáy có dấu triện này nên muốn tìm hiểu gốc tích đặng tìm đúng loại phụ kiện thay thế.
Ông già liếc nhìn bàn tay Thành đang miết chặt vào quai ba lô. Khóe mắt ông giật giật hai cái rồi ông cúi gằm mặt xuống đống bánh răng:
Không biết. Đi chỗ khác hỏi đi. Hẻm này không ai rảnh nhớ chuyện bốn mươi năm trước đâu. Đi mau, tui đang làm việc.
Thành thở dài, khẽ gật đầu chào rồi lùi bước. Thái độ lảng tránh đột ngột của ông già sửa đồng hồ càng củng cố mối nghi ngờ của anh. Người dân quanh đây không hẳn là quên, mà hình như họ đang sợ hãi một điều khó nói đã bị chôn vùi quá lâu.
Anh tiếp tục đi sâu vào hẻm nhánh. Nơi này vắng vẻ hơn, mặt đường lát đá xanh nhẵn thín trơn trượt bởi rêu bùn. Mấy bà cụ ngồi nhặt rau muống bên hiên nhà sàn nhìn Thành với ánh mắt lạnh tanh. Mỗi khi anh cất tiếng hỏi về tiệm nước mía họ Lý hay cỗ xe gỗ thao lao năm 1985, câu trả lời nhận được chỉ là những cái lắc đầu nguầy nguậy hoặc những cánh cửa gỗ then cài đóng sầm lại trước mặt.
Càng đi, mùi mía đường cháy khét trong tâm tưởng Thành lại càng rõ rệt. Cảm giác gai lạnh sau gáy vẫn không hề thuyên giảm, giống như một sợi dây vô hình đang cột chặt số phận anh vào cỗ máy bằng sắt gang han rỉ kia, kéo anh đi vòng quanh mê cung Chợ Lớn.
Mãi đến cuối con ngõ cụt sát chân cầu chữ U cũ, nơi dòng nước đen ngòm của con rạch phả lên mùi xú uế tanh tưởi, Thành mới thấy một căn nhà gỗ xiêu vẹo lợp tôn ximăng. Phía trước sân chất đầy những khúc gỗ dầu, gỗ sao đã cưa thành phiến, bám đầy mạt cưa và bụi mạng nhện.
Trên vách ván ép mục nát treo lủng lẳng mấy chiếc cưa tay kiểu cổ, thước góc bằng đồng rỉ xanh và những chiếc bào gỗ đã sứt mẻ.
Một ông thợ mộc già trạc ngoài bảy mươi tuổi, thân hình gầy guộc như một cành củi khô, đang ngồi xổm trên chiếc ghế đòn thấp. Ông mặc chiếc áo thun ba lỗ ố vàng màu cháo lòng, chiếc quần đùi xắn cao để lộ đôi chân gầy guộc chằng chịt những vết sẹo do mạt gỗ và đục sắt cắn trúng. Ông đang dùng giấy ráp mịn đánh bóng bề mặt của một chiếc cơi trầu bằng gỗ hương, động tác chậm rãi, kiên nhẫn từng li.
Bên cạnh ông là một chiếc bàn trà con bằng gỗ tạp. Trên bàn đặt chiếc ấm đất tử sa đã lên nước bóng loáng cùng hai chiếc chén sành da lươn cáu bẩn cặn trà Thiết Quan Âm.
Thành đứng lại ở mép sân, khẽ hắng giọng:
Dạ thưa chú... Chú có phải là thợ mộc của xưởng Nghĩa Hưng ngày trước không ạ?
Ông thợ mộc già không dừng tay ráp. Tiếng ràn rạt khô khốc của giấy nhám cọ vào thớ gỗ vang lên đều đặn giữa trưa vắng. Khói thuốc rê từ điếu thuốc cắm sâu nơi khóe môi ông bay lên, làm nhăn nheo thêm khuôn mặt khắc khổ đầy nếp gấp.
Nghĩa Hưng dẹp tiệm từ hồi ông cụ thân sinh tui qua đời năm chín mươi mốt rồi. Giờ tui chỉ nhận sửa lặt vặt cho mối quen thôi. Cậu muốn đóng bàn ghế hay sửa tủ thờ thì tìm tiệm lớn ngoài đường lớn đi.
Giọng ông rặt tiếng Chợ Lớn pha âm Tiều đặc sệt, nghe đùng đục như tiếng gõ vào khúc gỗ mục.
Thành bước lên hai bậc thềm xi măng nứt toác, mở chiếc túi vải đeo bên hông, lấy ra tờ giấy can mà anh đã áp lên đáy thùng xe để cạo lại vết mộc triện sắt:
Chú ơi, con không đến để đặt đóng đồ. Con muốn nhờ chú xem giùm con dấu mộc này có phải của xưởng nhà mình đóng hồi năm 1985 không.
Ông thợ mộc già nhả một ngụm khói trắng đục, cặp mắt ti hí giấu sau hàng lông mày bạc hoa râm khẽ liếc qua mép giấy. Ngón tay trỏ chai sần như da cóc của ông chạm nhẹ vào vết mực đen in hình bầu dục trên giấy can.
Bàn tay ông khựng lại. Khói thuốc rê bốc thẳng lên trần nhà mà không có hơi rít tiếp theo.
Gỗ thao lao ba phân...
Ông lẩm bẩm bằng tiếng Hoa vài từ rồi đổi sang tiếng Việt.
Thao lao đóng mộng cá, bắt chốt tre đực. Dấu mộc này đúng là của ba tui đóng. Hồi năm tám lăm, ba tui chỉ đóng đúng một cái thùng xe duy nhất bằng loại gỗ thao lao dầu này thôi. Vì năm đó gỗ cấm, muốn có ba phiến ván thao lao nguyên khối dày cỡ đó phải mua lậu từ cánh thợ rừng dưới Rạch Giá chở ghe lên.
Thành nén tiếng thở dài nhẹ nhõm, vội vàng ngồi thụp xuống chiếc ghế đòn đối diện:
Dạ đúng rồi chú! Cỗ xe nước mía! Xe có gắn bộ ba lô ép mía bằng gang đúc nặng trịch, mặt trước có khung gỗ dán ba lớp căng biển hiệu vẽ sơn dầu!
Vừa nghe đến bốn chữ
xe nước mía.
, sắc mặt ông thợ mộc già bỗng biến đổi. Nếp nhăn quanh khóe miệng ông co giật liên hồi. Điếu thuốc rê trên môi ông rơi thẳng xuống đống mạt cưa dưới chân, bốc lên một sợi khói mảnh khét lẹt.
Ông vội vàng dập tắt đóm lửa tàn bằng mũi dép cao su mòn vẹt, đôi mắt vẩn đục nhìn chòng chọc vào mặt Thành:
Mầy... mầy thấy cỗ xe đó ở đâu?
Con nhận phục chế lại nó từ một khách hàng. Thùng xe còn nguyên, nhưng biển hiệu đã phai màu hết. Con đang cạo lớp sơn cũ để vẽ lại theo mẫu...
Thành chưa dứt lời thì đã vội vã lôi ra từ trong tập tài liệu một tờ giấy xuyến chỉ. Trên đó, anh đã dùng than chì phác thảo lại đường nét nguyên bản của khuôn mặt thiếu nữ trên tấm biển hiệu. Đường nét phác thảo trước khi lớp sơn bị biến dạng: đôi gò má bầu bĩnh, mái tóc uốn lượn sóng phủ qua vai áo bà ba trắng. Đặc biệt là đôi mắt bồ câu to tròn với ánh nhìn lúng liếng.
Thành đặt bức phác thảo lên chiếc bàn trà nhỏ, ngay cạnh chiếc ấm tử sa.
Ông thợ mộc già cúi người xuống, nheo mắt nhìn vào nét vẽ than chì.
Gió từ con rạch sau nhà thốc lên một luồng khí ẩm ướt, lạnh ngắt, hất tung mấy mẩu mạt cưa vương vãi trên bàn trà. Ánh nắng trưa rọi xiên qua kẽ tôn thủng, chiếu thẳng vào đôi mắt người con gái trên bức vẽ. Dưới ánh sáng vàng nhạt, nét vẽ than chì màu xám đen như có sự sống, sâu hun hút và lạnh toát.
Đồng tử của ông già co thắt lại dữ dội. Toàn bộ cơ mặt ông giật nảy lên như bị kim châm.
Choảng!
Cánh tay gầy guộc của ông run rẩy hất mạnh vào khay trà. Chiếc chén sành da lươn rơi cắm xuống nền xi măng, vỡ toác làm đôi, nước trà Thiết Quan Âm sẫm màu đổ lênh láng, chảy tràn qua mép tờ giấy xuyến chỉ, thấm đẫm vào phần chân dung người con gái.
Ông thợ mộc già lùi phắt lại phía sau, lưng đập mạnh vào vách ván ép khiến hàng cưa tay trên tường va vào nhau loảng xoảng. Mặt ông cắt không còn một giọt máu, hai môi run bần bật, hàm răng giả va lập cập vào nhau thành từng tiếng lách cách rợn cả gáy.
Lấy đi... Mầy dẹp ngay cái hình đó đi!
Ông thợ mộc giơ hai bàn tay chai sần, gân guốc lên xua lia lịa vào không khí như đang xua đuổi một thứ tà ma vô hình đang hiển hiện trước mặt.
Mau cút ra khỏi nhà tui! Đi ngay!
Thành giật mình đứng bật dậy, hai tay bám chặt vào mép bàn trà:
Chú ơi! Chú bình tĩnh nghe con nói đã! Bức tranh này rốt cuộc là ai? Năm 1985 rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì với tiệm nước mía đó? Tại sao trong buồng máy ép lại có...
Câm mồm! Mầy im ngay cái miệng lại!
Ông thợ mộc già gào lên the thé, giọng khàn đặc vì hoảng loạn tột cùng.
Ông vớ lấy chiếc thước góc bằng đồng rỉ xanh trên vách, vung vẩy về phía Thành, đuôi mắt hằn lên những tia máu đỏ sọc:
Mầy muốn chết thì nhảy xuống sông Tàu Hủ mà chết một mình, đừng có kéo tao theo! Tao đã thề với vong linh ba tao là không bao giờ nhắc tới cái thứ ma quỷ đó nữa! Mầy cút ngay! Đem cái của nợ đó cút xéo khỏi hẻm này!
Thành không lùi bước. Anh nhìn thẳng vào nỗi kinh hoàng tột độ đang chiếm trọn đôi mắt vẩn đục của người thợ mộc già. Mùi khói thuốc rê tàn quyện với mùi nước trà đổ thiu thối bốc lên từ nền nhà, nhưng cái lạnh buốt sau gáy anh lại càng lúc càng đè nặng xuống bả vai, nhắc nhở anh về những giọt dịch đỏ và mẩu xương hàm sắc nhọn đang giấu trong ba lô.
Chú Chấn, con không thể vứt nó được!
Thành gằn giọng, từng chữ đanh lại.
Trưa nay, lúc con vừa cạy lớp keo phong ấn ở buồng máy ép ra, đầu ngõ xưởng con đã có người bị xe tải cán nát xác! Máu từ lưng tấm biển chảy ra sền sệt, nụ cười của cô gái trong tranh tự méo xệch đi! Con không tìm ra sự thật thì người tiếp theo kẹt dưới gầm xe chính là con đó chú!
Lời nói của Thành như một cú búa nện thẳng vào màng nhĩ của người thợ già.
Cánh tay cầm thước đồng của ông Chấn từ từ hạ xuống. Cả cơ thể tiều tụy của ông xẹp xuống như một quả bóng xì hơi. Chiếc thước đồng rơi tuột khỏi tay, va
keng.
một tiếng khô khốc xuống nền xi măng ẩm mốc.
Ông thở dốc từng cơn, hai vai run rẩy bần bật. Đôi mắt già nua nhìn trừng trừng vào vũng nước trà đang loang đỏ trên bức vẽ than chì, nơi đôi mắt cô gái hình như đang ngước nhìn lên từ dưới vũng nước đục ngầu.
Ông Chấn đưa bàn tay khẳng khiu lên ôm lấy ngực, lảo đảo ngồi thụp xuống chiếc ghế đòn, giọng nói hạ xuống chỉ còn là một tiếng thì thào run rẩy, đầy vẻ ai oán và tuyệt vọng:
Nghiệp chướng... Bốn mươi năm rồi mà oan hồn nó vẫn chưa chịu tan... Cái thùng đó nuốt mạng người ta, mầy rước về xưởng làm chi cho rước họa?