Bức Chân Dung Cô Mía - Chương 12: Đứa con gái đoản mệnh
Tiếng cưa tay va vào nhau trên vách ván lách cách hồi lâu mới dứt. Gió từ con rạch sau nhà thốc từng cơn lạnh buốt qua khe cửa sắt rỉ sét, cuốn theo mùi…
Nội dung chương
Tiếng cưa tay va vào nhau trên vách ván lách cách hồi lâu mới dứt. Gió từ con rạch sau nhà thốc từng cơn lạnh buốt qua khe cửa sắt rỉ sét, cuốn theo mùi bùn sình nồng nặc và vụn mạt cưa bay là là sát mặt sàn.
Thành không nói thêm lời nào. Anh lặng lẽ ngồi xổm xuống, nhặt từng mảnh chén sành vỡ trên nền xi măng ẩm ướt gom vào góc bàn, rồi dùng vạt áo khoác lau bớt vũng nước trà đổ lênh láng trên mặt gỗ gõ đỏ. Tờ giấy xuyến chỉ vẽ phác thảo gương mặt cô gái đã ướt sũng một nửa. Nước trà Thiết Quan Âm sẫm màu ngấm vào các thớ giấy xơ xác, loang dần từ cằm lên khóe môi nụ cười vẽ dở, khiến nét than chì xám ngoét nhòe nhoẹt ra như một vệt máu bầm để lâu ngày.
Bên cạnh, chú Chấn vẫn ngồi thụp trên chiếc ghế đòn thấp lè tè. Bàn tay khẳng khiu đầy vết sẹo cưa của ông run rẩy lần vào túi áo bà ba, lôi ra một gói thuốc rê cùn mòn và mẩu giấy báo quấn dở. Ngón tay trỏ của ông quẹt diêm ba lần mới bén lửa. Đốm lửa đỏ le lói soi rõ những đường gân mu bàn tay co rút kịch liệt, khói thuốc cay nồng phả ra, cuộn đặc quánh trong gian nhà chật hẹp không có cửa sổ.
Mầy nói thiệt đi.
Giọng chú Chấn khản đặc, mắt dán chặt vào mẩu giấy than ướt sũng trên bàn.
Có phải lúc mầy róc lớp sơn dầu cũ ra, bên dưới lớp gỗ dán ba lớp có dán giấy xuyến chỉ bùa đỏ, ép thêm một mớ tóc rối không?
Thành siết chặt hai bàn tay:
Đúng vậy chú. Có cả một chùm tóc dài dính bết vào keo da trâu, cạy ra vẫn còn mùi tanh. Buồng máy ép thì bị trét kín mỡ bò với bùa chu sa. Trưa nay con vừa nạy được một mẩu xương hàm dính chiếc răng bọc vàng bị kẹt trong bánh răng gang. Vừa gắp ra thì đầu ngõ xưởng con có tai nạn xe chết người ngay tức khắc.
Nghe đến hai chữ
xương hàm.
, tàn thuốc rê trên tay chú Chấn rụng tọt xuống đùi, làm thủng một lỗ nhỏ trên nền vải đen bạc phếch. Ông già không buồn phủi đi. Khuôn mặt nhăn nheo của ông co rúm lại, hai hốc mắt sâu hoắm ầng ậng một thứ sợ hãi đã bị chôn chặt suốt mấy mươi năm.
Nghiệp quật... Đúng là trời quả báo không chừa một ai.
Chú Chấn lẩm bẩm, giọng the thé như phát ra từ kẽ răng giả lung lay.
Chiếc răng bọc vàng... Ba tao nói đúng. Con nhỏ đâu có trốn đi xứ khác, nó nằm ngay dưới đáy thùng xe suốt bao nhiêu năm nay mà không ai hay biết.
Chú Chấn chống hai tay lên đầu gối, khó nhọc đứng dậy. Đôi dép nhựa mòn vẹt kéo lê lẹt xẹt trên nền xi măng lồi lõm. Ông bước chầm chậm về phía góc nhà, nơi đặt chiếc bàn thờ tổ nghề mộc Lỗ Ban bám đầy bụi cưa và muội khói. Phía dưới chân bàn thờ có một chiếc rương sắt tây cũ kỹ của lính thời trước, các góc bị gỉ sét ăn mòn nham nhở.
Ông cúi người, lôi chiếc rương ra ngoài ánh sáng leo lét của bóng đèn dây tóc. Ổ khóa đồng đã gãy ngàm từ lâu, chỉ buộc tạm bằng một sợi dây kẽm gai xoắn tròn. Chú Chấn dùng kìm bấm tháo sợi kẽm, mở nắp rương. Mùi băng phiến trộn lẫn mùi giấy mục ẩm mốc bốc lên ngột ngạt. Bên trong không có tiền bạc hay đồ nghề quý giá, chỉ chứa lộn xộn mấy cuốn sổ tay ghi chép kích thước gỗ đóng đồ cho khách từ thời trước giải phóng, vài tờ nhật trình cũ vàng ố và một hộp bánh quy bằng thiếc đã phai hết hoa văn.
Chú Chấn run rẩy mở nắp hộp thiếc. Những ngón tay gầy guộc lần giở một tập ảnh đen trắng nhỏ cỡ lòng bàn tay, mép ảnh quăn queo và giòn rụm vì hơi ẩm. Sau cùng, ông rút ra một tấm ảnh duy nhất, chần chừ vài giây rồi đặt mạnh xuống bàn trà trước mặt Thành.
Mầy nhìn đi. Coi có phải con nhỏ này không?
Thành cúi sát mặt xuống tấm ảnh chụp bằng máy phim đen trắng từ bốn mươi năm trước.
Bức ảnh chụp góc ngã tư đường sầm uất ở Chợ Lớn vào một buổi chiều nắng ráo. Phía sau lưng là biển hiệu vẽ tay bằng sơn dầu ghi dòng chữ:
Nước mía siêu sạch - Giải khát gia truyền họ Lý.
. Đứng ngay cạnh chiếc thùng xe gỗ đóng nẹp sắt bóng loáng là một thiếu nữ trạc mười bảy, mười tám tuổi.
Cô gái mặc bộ bà ba lụa màu sáng, mái tóc uốn lượn sóng phủ qua bờ vai thon thả, đúng mốt của những tiểu thư khu phố người Hoa giữa thập niên tám mươi. Gương mặt cô bầu bĩnh, sống mũi thẳng, đôi mắt bồ câu to tròn sáng rực nhìn thẳng vào ống kính máy ảnh.
Thành nín thở. Lồng ngực anh thắt nghẹn lại khi ánh mắt lướt qua gò má bên trái của thiếu nữ trong ảnh.
Ngay sát dưới xương gò má của cô có một vết bớt son hình giọt nước nhỏ bằng hạt đậu đen.
Sáng nay, khi Thành dùng dao cạo róc từng mảng sơn nứt trên tấm biển hiệu của cỗ xe, chính tại vị trí gò má ấy có một vệt ố màu đỏ thẫm ăn sâu vào thớ gỗ mít. Lúc đó, anh cứ ngỡ đó là mắt gỗ tự nhiên hoặc tì vết do thời gian ngấm nước mưa, nên đã dùng màu trắng titan quét phủ ba lớp để che đi trước khi vẽ lại lớp da mặt. Từng nét cọ phục chế mà anh tỉ mẩn dặm lên má bức chân dung hoàn toàn trùng khớp với hình dáng và kích thước của vết bớt son trên gương mặt người con gái trong bức ảnh ố vàng này.
Cô này... tên là gì vậy chú?
Thành run rẩy hỏi, cổ họng khô rát như có cát chà xát.
Lý Lệ Linh.
Chú Chấn ngồi phịch xuống ghế, hai mắt nhìn trừng trừng vào bức ảnh.
Con gái đầu lòng của lão Lý Sùng Minh. Năm đó con nhỏ mới mười tám tuổi. Nhan sắc nó nức tiếng cả cái chợ Bình Tây, tánh tình lại hiền lành nết na, ngày nào cũng ra đứng quay máy ép mía phụ ba má nó buôn bán. Khách khứa tới mua nước mía xếp hàng dài từ đầu ngõ tới cuối đường, phân nửa là vì nước ngọt mát, phân nửa là vì muốn nhìn mặt con nhỏ.
Thành nhìn kỹ nụ cười e ấp của Lệ Linh trong bức ảnh. Nụ cười ấy hoàn toàn trái ngược với cái miệng ngoác rộng đầy oán hận mà anh vừa chứng kiến trên tấm biển hiệu trưa nay.
Rồi chuyện gì đã xảy ra với cô ấy vào năm 1985?
Thành gặng hỏi.
Tại sao mẩu xương hàm của cô ấy lại nằm kẹt trong trục bánh răng?
Chú Chấn rít một hơi thuốc thật sâu, tàn thuốc cháy bùng lên đỏ quạch trong bóng tối mờ mờ của góc xưởng. Khói thuốc bay là là qua mặt bàn, che mờ gương mặt thiếu nữ trong bức ảnh cũ.
Đêm giao thừa năm Ất Sửu, tức là cuối tháng hai năm 1985.
Giọng ông già trầm xuống, rung lên từng chặp theo tiếng gió đập vào mái tôn.
Năm đó kinh tế khó khăn, người ta chỉ mong tới Tết để buôn bán gỡ gạc lại chút đỉnh. Chiều ba mươi Tết, cả khu Chợ Lớn rộn rã tiếng pháo nổ đón năm mới. Nhà nhà đỏ đèn cúng rước ông bà, riêng tiệm nước mía của lão Lý Sùng Minh thì đóng kín cửa sắt từ lúc chập tối.
Chú Chấn dừng lại, đưa tay áo quẹt mồ hôi đang rịn ra đầy trán dẫu cho gió ngoài rạch thổi vào buốt lạnh.
Nhà ba tao hồi đó ở sát vách tiệm nước mía họ Lý. Tầm mười một giờ đêm, lúc ngoài đường vắng tanh không còn một bóng người qua lại, bỗng nhiên ba tao nghe thấy trong căn nhà đóng kín của lão Minh phát ra tiếng máy móc chạy rầm rì. Tiếng động cơ Liên Xô cũ kéo ba cái trục ép bằng gang quay ken két, kẽo kẹt từng hồi não nuột. Ba tao tưởng lão Minh tranh thủ ép mía để sáng mùng Một mở hàng sớm, nên cũng không để ý. Nhưng tiếng máy ép chỉ chạy chừng năm phút thì đột ngột khựng lại, phát ra một tiếng rắc rất lớn, giống như có vật gì cứng bằng sắt bị cuốn phăng vào giữa các bánh răng. Ngay sau đó là một tiếng thét thất thanh của con gái, bị bóp nghẹt lại nửa chừng rồi tắt ngấm.
Thành rùng mình, nhớ lại vết mẻ sâu hoắm trên chiếc bánh răng gang lớn mà anh đã nhìn thấy lúc cạy buồng máy.
Tiếng thét của cô Linh sao chú?
Phải, chính là tiếng con nhỏ Linh.
Chú Chấn gật đầu, đồng tử co rút lại.
Ba tao nghe tiếng động lạ liền chạy sang đập cửa sắt hỏi thăm coi có chuyện gì, nhưng bên trong im phăng phắc. Đèn đuốc trong nhà tắt ngúm. Một lúc sau, lão Lý Sùng Minh mới hé cửa ra một khe nhỏ, mặt mày cắt không còn hột máu, tay chân run lẩy bẩy nói là máy bị kẹt khúc mía cứng nên đứt dây curoa, không có chuyện gì nghiêm trọng. Ba tao thấy vậy thì quay về lo cúng giao thừa.
Chú Chấn hớp một ngụm nước trà nguội ngắt còn sót lại trong chiếc chén sứt dưới sàn, rồi tiếp tục bằng giọng thì thào:
Sáng mùng Một Tết, tiệm nước mía không mở cửa. Cả xóm xôn xao vì lão Minh loan tin con gái lớn của lão đã thu dọn quần áo, ôm theo một mớ vàng vòng trốn nhà đi vượt biên cùng với một thằng thanh niên lái xe đò từ nửa đêm hôm trước. Ai nấy đều bán tín bán nghi, bởi vì con Linh xưa giờ nổi tiếng ngoan ngoãn hiền thục, không bao giờ dám cãi lời cha mẹ nửa câu, làm sao dám liều mạng trốn đi biển một mình trong đêm giao thừa như vậy được? Nhưng lão Minh làm ầm ĩ lên, tuyên ba từ mặt con gái, rồi khóa chặt cửa nhà suốt ba ngày Tết.
Thành siết chặt chiếc kẹp sắt trong túi áo khoác, nơi mẩu răng bọc vàng vẫn còn đang tỏa ra luồng hàn khí buốt nhức:
Khóa cửa suốt ba ngày Tết? Vậy còn chiếc máy ép mía?
Đó mới là chỗ quái gở nhất, khiến ba tao ám ảnh tới tận ngày nhắm mắt xuôi tay.
Chú Chấn rùng mình một cái thật mạnh, giọng run bần bật.
Suốt ba ngày mùng Một, mùng Hai, mùng Ba Tết năm đó, căn nhà họ Lý cửa đóng then cài, bên trong không hề đỏ lửa nấu nướng, cũng không có tiếng cười nói chúc Tết. Nhưng chiếc máy ép mía trong góc nhà thì cứ chốc chốc lại tự động chạy rầm rì giữa đêm khuya. Tiếng trục gang nghiến vào nhau kẽo kẹt rợn cả gáy rỉ qua khe cửa sắt.
Ông già ghé sát mặt lại gần Thành, hạ giọng xuống mức thấp nhất:
Ba tao để ý thấy, ở cái rãnh thoát nước thò ra từ thềm cửa sắt nhà họ Lý, có một thứ nước ngọt sền sệt cứ rỉ ra từng giọt, từng giọt suốt ba ngày đêm. Ban đầu người ta tưởng là nước mía sót lại trong máng ép bị lên men chua loét. Nhưng nước đó chảy ra tới đâu là ruồi nhặng bu kín tới đó, bốc lên một mùi hôi thối nồng nặc trộn lẫn mùi mía đường ủng nước. Đến ngày mùng Ba Tết, vũng nước đọng ở rãnh cống trước cửa nhà lão Minh chuyển sang một màu đỏ thẫm sền sệt, đặc quánh lại như tiết bò.
Thành nuốt khan một ngụm nước bọt, cảm thấy da đầu mình tê rần từng mảng.
Thứ nước đỏ sẫm chảy ra từ máng ép suốt ba ngày Tết đó hoàn toàn không phải là nước giải khát. Cỗ máy ép gang đã nghiền nát cơ thể cô gái, nhưng thay vì phi tang xác chết ra sông rạch hay chôn lấp dưới đất sâu, gia tộc họ Lý đã để thi thể người con gái đoản mệnh phân hủy và hòa tan ngay bên trong buồng máy kín mít.
Rồi sau đó thì sao nữa chú? Đến mùng Bốn Tết thì chuyện gì xảy ra?
Rạng sáng mùng Bốn Tết năm đó, lão Lý Sùng Minh đích thân sang gõ cửa nhà tao.
Chú Chấn đưa bàn tay chai sạn lên xoa xoa vầng trán nhăn nheo.
Lão cầm theo một cây vàng lá, quỳ sụp xuống van xin ba tao sang đóng gấp cho lão một cái thùng xe mới bằng gỗ mít, bọc phủ kín toàn bộ cái khung máy ép cũ lại. Ba tao nhận lời vì số tiền quá lớn thời bấy giờ. Khi ba tao vác đồ nghề sang, lão Minh đã dọn dẹp sạch sẽ sàn nhà, chỉ còn lại cỗ máy ép bốc mùi hôi thối nồng nặc được trét kín một lớp keo đen sì với mỡ bò.
Lời mách bảo từ cha ông chú Chấn:
Ba tao kể, lúc ông đặt từng tấm ván ép ba lớp lên khung sắt để bắt vít, lão Minh dẫn theo một ông thầy cúng người Tiều vào nhà. Lão thầy cúng lấy ra mấy lá bùa màu vàng vẽ chữ Hán ngoằn ngoèo bằng máu gà trống pha chu sa, dán thẳng vào vách gỗ bên trong. Sau đó, lão Minh lôi ra một lọn tóc dài đen nhánh, bắt ba tao phải kẹp chặt lọn tóc đó vào giữa hai lớp ván rồi dùng keo da trâu dán kín lại. Ba tao nghi ngờ buồng máy bên trong có chuyện mờ ám, nhưng lão Minh cầm con dao bầu đứng kè kè ngay sau lưng, mắt đỏ ngầu đe dọa nếu tiết lộ nửa lời ra ngoài thì cả nhà tao không ai sống sót rời khỏi Chợ Lớn.
Ba chú đã đóng kín chiếc xe đó lại mà không dám báo công an?
Thành ngắt lời, giọng nghẹn lại vì phẫn uất.
Thời buổi đó, lộn xộn dữ lắm mầy ơi!
Chú Chấn lắc đầu cay đắng.
Nhà lão Minh có họ hàng làm lớn, buôn bán thuốc bắc với vàng bạc khắp vùng Chợ Lớn. Ba tao chỉ là một người thợ mộc nghèo nuôi bốn miệng ăn, làm sao dám đối đầu với bọn họ? Sau khi đóng xong cái thùng gỗ, lão Minh còn thuê một ông thợ vẽ bảng hiệu nổi tiếng ở khu Chợ Quán về vẽ chân dung con Linh lên mặt trước tấm biển hiệu. Lão dặn phải vẽ con Linh đang cười tươi, tay cầm ly nước mía đầy bọt, hai bên má ửng hồng. Lão nói đó là để tưởng nhớ đứa con gái đã trốn nhà đi xa...
Chú Chấn cười khẩy một tiếng đầy chua xót, ngón tay run rẩy chỉ vào bức ảnh đen trắng:
Nhưng ba tao biết tỏng tòng tong. Lão Minh không phải tưởng nhớ gì con nhỏ hết. Lão mời thầy bùa về yểm vong linh con gái ruột của mình vào trong chính cỗ máy đã nghiền nát nó, biến hồn ma con Linh thành một thứ quỷ giữ của để hút tài lộc cho tiệm nước mía họ Lý! Kể từ ngày chiếc xe bọc gỗ hoàn thành, tiệm nước mía của lão Minh đông nghẹt khách một cách kỳ lạ. Người ta từ khắp nơi đổ về mua nước, xếp hàng dài cả cây số. Ai uống một ngụm nước mía của lão xong cũng khen ngọt đậm đà, mê mẩn như bị bỏ bùa mê thuốc lú, ngày nào không uống là bứt rứt không chịu nổi. Lão Minh phất lên như diều gặp gió, mua thêm ba căn nhà mặt tiền đường Khổng Tử, vàng bạc chất đầy rương.
Thành siết chặt tay cầm chiếc ba lô đặt trên đùi. Những mảnh ghép rời rạc trong tâm trí anh nãy giờ bắt đầu khớp lại thành một bức tranh tàn khốc và ghê rợn. Chiếc răng bọc vàng kẹt giữa bánh răng, lớp bùa phong ấn chu sa, lọn tóc kẹp giữa khe gỗ dán, và nụ cười rạng rỡ của bức chân dung Cô Mía trên khắp các nẻo đường Sài Gòn suốt mấy thập kỷ qua. Tất cả đều bắt nguồn từ một vụ án mạng bị bưng bít vào đêm trừ tịch năm 1985.
Nếu gia tộc họ Lý nhờ chiếc xe đó mà phát tài, tại sao cỗ xe này lại bị bỏ phế trong kho hàng cũ ở Hóc Môn suốt bao nhiêu năm qua?
Thành đặt câu hỏi mấu chốt.
Chú Chấn thở dài một tiếng nặng nề, tàn thuốc trên tay đã lụi tắt từ bao giờ:
Của thiên trả địa thôi mầy. Bùa ngải nuôi quỷ thì trước sau gì cũng bị quỷ vật lại. Khoảng mười năm sau ngày con Linh chết, tức là tầm năm 1995, quanh cái ngã tư tiệm nước mía họ Lý liên tục xảy ra tai nạn giao thông kinh hoàng. Cứ hễ có người chết đường chết chợ ngay trước cửa tiệm là nước mía trong thùng lại ngọt lịm bất thường, tiền thu vào đếm không xuể. Nhưng rồi tai họa ập thẳng vào nhà họ Lý. Thằng con trai út của lão Minh bị xe tải cán nát hai chân ngay trước thềm tiệm mía. Vợ lão thì phát điên, nửa đêm hay trèo lên thùng xe cào cấu vào tấm biển hiệu, miệng liên tục gào thét đòi con Linh trả mạng.
Giọng người thợ mộc già run lên cầm cập:
Lão Minh sợ quá, biết là oán khí của con Linh tích tụ mười năm đã quá mạnh, bùa chú không còn đè nén nổi nữa. Lão mới âm thầm nhờ người mang cỗ xe đi giấu thật xa, trét thêm một lớp keo niêm phong buồng máy rồi bỏ hoang trong kho suốt ba mươi năm nay, không ai dám đụng tới. Ba tao trước khi chết có trăn trối lại, dặn tao đời đời kiếp kiếp không được bén mảng tới những cỗ xe nước mía có vẽ hình con nhỏ Lệ Linh. Vong hồn nó bị giam cầm trong gỗ mít, bị máu và mỡ người ngấm vào từng thớ thịt của cỗ máy, không thể siêu thoát được. Nó hận gia tộc họ Lý một, nhưng nó hận cái cỗ máy và những người tiếp tay phong ấn nó tới mười!
Chú Chấn ngước đôi mắt đục ngầu lên nhìn Thành, giọng nói như van lơn:
Mầy cạy mẩu xương kẹt trong bánh răng ra, tức là mầy đã mở chốt khóa cho một phần oán khí của nó thoát ra ngoài rồi. Cái tai nạn chết người ở đầu ngõ xưởng mầy trưa nay mới chỉ là chén nước giải khát đầu tiên nó uống sau bốn mươi năm bị bỏ đói thôi! Mầy quay về xưởng, lập tức đốt bỏ cỗ xe đó đi, rồi đi tìm chùa chiền mà nương nhờ, may ra còn giữ được cái mạng!
Thành đứng bật dậy khỏi ghế đòn. Trái tim trong lồng ngực anh đập thình thịch từng hồi loạn xạ. Những lời cảnh báo của chú Chấn vang vọng bên tai như những nhát búa nện vào tâm can.
Anh nhìn xuống tờ giấy phác thảo trên bàn. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dây tóc, vệt nước trà ố vàng đã ngấm trọn vào nửa khuôn mặt của Lệ Linh, khiến đôi mắt vẽ bằng than chì như đang đẫm lệ nhìn thẳng vào anh, ai oán và tuyệt vọng.
Con không đốt được.
Thành gằn từng tiếng, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào người thợ già.
Chiếc xe này là hợp đồng phục chế con đã ký nhận tiền cọc của người ta. Hơn nữa, nếu con đốt chiếc xe, oán khí của cô ấy sẽ mất đi nơi trú ngụ, lúc đó tai họa sẽ giáng xuống bất kỳ ai ở gần. Con phải tìm ra kẻ đã giao cỗ xe này cho con, và con phải tìm cách giải thoát cho cô ấy.
Chú Chấn nhìn Thành trừng trừng, khóe môi run rẩy muốn nói thêm điều khó nói nhưng cuối cùng chỉ buông ra một tiếng thở dài thườn thượt. Ông xua tay một cách mệt mỏi:
Tùy mầy. Mầy cứng đầu thì ráng mà gánh lấy cái nghiệp này. Cầm tấm hình con Linh đi đi, để lại đây tao nhìn tao tổn thọ ráng chịu.
Thành cẩn thận cầm lấy tấm ảnh chụp năm 1985 của Lý Lệ Linh, nhét vào ngăn trong cùng của chiếc áo khoác gió, cạnh chỗ để mẩu răng bọc vàng. Anh cúi đầu chào người thợ già rồi bước vội ra khỏi căn nhà xưởng ẩm thấp.
Trời Sài Gòn lúc này đã ngả hẳn sang màu xám xịt của buổi hoàng hôn muộn. Gió chiều thốc lên từ mé rạch Tàu Hủ mang theo hơi nước tanh nồng, táp rát rạt vào mặt Thành. Anh nổ máy chiếc xe máy cà tàng, lao vút ra khỏi con hẻm ngoằn ngoèo của khu người Hoa, hướng thẳng về phía xưởng vẽ ngoại ô ở Bình Chánh.
Dọc đường đi, tâm trí Thành quay cuồng với hình ảnh giọt nước sền sệt màu đỏ rỉ ra từ kẽ cửa sắt suốt ba ngày Tết năm 1985. Người con gái mười tám tuổi đoản mệnh ấy đã chết một cách tức tưởi dưới bàn tay của chính gia đình mình, chỉ để đổi lấy sự giàu sang tột đỉnh cho tiệm nước mía mang tên dòng họ.
Hơn một tiếng đồng hồ sau, Thành về tới đầu con đường đất dẫn vào xưởng vẽ.
Khúc cua ngã ba trước cửa xưởng vắng tanh, chỉ có vài ba bóng đèn đường vàng vọt hắt xuống mặt đường nhựa nham nhở. Đống mảnh vỡ thủy tinh và vệt cát loang lổ do vụ tai nạn xe tải trưa nay vẫn còn nguyên đó, chưa kịp dọn dẹp. Một dải băng nhựa màu trắng đỏ của công an căng ngang qua hàng rào gãy nát, phần phật bay trong gió đêm.
Thành giảm ga, từ từ cho xe rẽ vào khúc cua ngã ba để tiến về phía cổng xưởng.
Đúng lúc mũi xe của anh vừa chạm tới ranh giới của vệt máu khô trên mặt đường, từ phía cánh cửa sắt đóng kín của xưởng vẽ, một chuỗi âm thanh khô khốc, rợn cả gáy bỗng nhiên vọng ra giữa màn đêm tĩnh mịch.
Đó là tiếng kim loại cọ xát ken két của các bánh răng gang truyền động, hòa lẫn với tiếng trục lăn bằng thép đang quay tròn kẽo kẹt đều đặn bên trong buồng máy ép mía, dù nguồn điện tổng của toàn bộ căn nhà xưởng đã bị anh dập cầu dao từ sáng sớm.