Bức Chân Dung Cô Mía - Chương 15: Hợp đồng ma
Cơn buồn ngủ kéo sụp mí mắt Thành xuống nhưng anh không tài nào chợp mắt nổi. Ngay khi Thành vừa ngả lưng xuống chiếc ghế ba xếp ở góc quán cà phê cóc…
Nội dung chương
Cơn buồn ngủ kéo sụp mí mắt Thành xuống nhưng anh không tài nào chợp mắt nổi.
Ngay khi Thành vừa ngả lưng xuống chiếc ghế ba xếp ở góc quán cà phê cóc chân cầu Nhị Thiên Đường, phía sau gáy anh lại rịn ra một luồng khí lạnh ngắt. Luồng khí ấy mang theo mùi nước mía bị ủ chua lâu ngày, quyện với mùi bùn tanh và mùi mỡ bò của trục xích máy móc. Cứ mỗi lần anh nhắm mắt, một hơi thở the the nhè nhẹ lại thổi lướt qua chân tóc, sát sạt bên vành tai. Thành giật nảy mình ngồi bật dậy, đưa tay quờ quạng ra phía sau lưng. Sau lưng anh là vách tôn rỉ sét của quán nước, trống trơn, không có bóng người nào.
Thành cúi đầu thở dốc, hai bàn tay run rẩy bấu chặt vào mép bàn gỗ. Chiếc túi vải đỏ đựng bột chu sa và gỗ đào thầy Diệp đưa lúc nãy đang cộm lên trước ngực, nóng ấm âm ỉ, nhưng cái lạnh quái ác kia không bốc ra từ bên ngoài. Nó ngấm sâu vào trong da thịt anh từ đêm hôm trước, bám riết lấy từng chân tơ kẽ tóc.
Trời tảng sáng rồi lại chuyển sang xế chiều lúc nào Thành cũng không hay biết. Anh ngồi bất động suốt nhiều giờ đồng hồ, đầu óc căng như dây đàn. Tiếng còi xe tải, tiếng người buôn bán cá tôm ồn ào ở chân cầu dạt qua tai anh thành những chuỗi âm thanh méo mó, xa xăm.
Thành rút từ trong túi áo ra tờ biên nhận đơn hàng đã gấp làm tư.
Tờ giấy pơ-lu mỏng tang màu hồng nhạt, loại giấy in sẵn từng xấp bán ở các sạp văn phòng phẩm chợ Kim Biên. Dòng chữ viết tay bằng mực nguyên tử màu đen của người đàn ông mặc áo măng tô hiện rõ mồn một: *Lý Triệu Nam - Phục dựng thùng xe nước mía gỗ mít, hoàn thiện biển hiệu chân dung theo nguyên mẫu 1985*. Phía dưới là một dãy số điện thoại bàn sáu chữ số bắt đầu bằng đầu số 85 của khu vực Chợ Lớn cũ, và một địa chỉ: Số 44/7 hẻm Triệu Quang Phục, Phường 11, Quận 5.
Lúc nhận cọc vào tuần trước, người đàn ông tự xưng là Lý Triệu Nam này bảo rằng ông ta mua lại thùng xe từ một vựa phế liệu bên quận 8. Ông ta nói bản thân muốn mở một quán cà phê mang phong cách Sài Gòn xưa để hoài niệm thời niên thiếu. Gương mặt người đó xanh xao, giọng nói trơn tru không để lộ một chút gợn, nụ cười nhạt thếch luôn giữ đúng một góc độ trên môi. Thành lúc đó chỉ chăm chăm vào cọc tiền mặt dày cộm đặt trên bàn mà bỏ qua những chi tiết bất thường.
Thành đứng dậy, bước sang sạp tạp hóa đối diện quán cà phê. Ở đó có một chiếc máy điện thoại bàn vỏ nhựa màu cam gắn hộp đếm cước, chuyên dùng cho khách vãng lai gọi dịch vụ tính tiền theo phút.
Bà chủ quán tóc uốn xoăn tít, miệng ngậm tăm tre, liếc mắt nhìn Thành:
Gọi nội hạt hay đi tỉnh? Một ngàn một phút, nói xong đưa tiền liền nghen con trai.
Dạ, con gọi nội hạt.
Thành cầm lấy ống nghe màu đen bóng mỡ, nhét tờ biên nhận kẹp vào kẽ ngón tay. Anh nhấc ống nghe áp vào tai, tiếng tút dài tẻ ngắt vang lên. Bằng những ngón tay dính đầy bụi sơn khô, Thành bấm từng phím số: 8 - 5 - 2... từng tiếng tít tít cơ học khô khốc gõ vào màng nhĩ.
Đầu dây bên kia đổ chuông.
Hồi... hồi... hồi...
Tiếng chuông reo chậm rãi, kéo dài từng nhịp như vọng lại từ một gian phòng trống rỗng không có người ở. Thành nín thở, ngón tay bấu chặt vào ống nghe bằng nhựa đến mức khớp xương trắng bệch.
Chuông reo đến hồi thứ tư thì ngắt phụt.
Một tiếng
cạch.
khô khốc vang lên, báo hiệu có người ở đầu dây bên kia vừa nhấc máy. Nhưng tuyệt nhiên không có tiếng
A-lô.
, cũng không có tiếng chào hỏi thường thấy.
A-lô? Bác Nam phải không? Tôi là Thành, người nhận phục chế thùng xe nước mía ở Bình Chánh đây.
Thành vội vàng cất tiếng, giọng anh khàn đặc sau một đêm thức trắng.
Đáp lại lời anh là một khoảng im lặng đặc quánh.
Thành áp chặt ống nghe vào sát lỗ tai, cố gắng lắng nghe. Qua màng rung kim loại của chiếc ống nghe cũ kỹ, anh bắt đầu nghe thấy một thứ tạp âm kỳ dị. Đó là tiếng nước rỏ giọt tí tách đều đặn, hòa lẫn với tiếng kim loại ma sát chói tai -
kèn kẹt... kèn kẹt.
. Tiếng rít ấy giống hệt như âm thanh phát ra từ ba trục ép bằng gang của cỗ xe nước mía mỗi khi có ai đó quay bánh đà bằng tay.
Rồi trong mớ âm thanh cơ khí rợn cả gáy đó, một tiếng thở dài thườn thượt lọt vào ống nghe. Tiếng thở nặng nề, ẩm ướt, mang theo một âm thanh the thé như tiếng rên rỉ nghẹn ngào của một người con gái bị bóp nghẹt cổ họng:
Đói... lạnh quá... trả lại cho tôi...
Thành giật bắn mình, buông rơi ống nghe xuống mặt bàn kính. Chiếc ống nghe đập mạnh phát ra tiếng chan chát, dây lò xo co giật liên hồi. Hộp đếm cước của tiệm tạp hóa nhảy số lách cách, màn hình tinh thể lỏng hiện lên con số ba mươi giây.
Bà chủ quán tạp hóa trừng mắt nhìn Thành, nhổ toẹt cây tăm tre ra đất:
Làm cái trò gì vậy hả mày? Tính đập bể đồ của người ta hay sao? Mười ngàn, đưa tiền lẹ rồi biến đi chỗ khác!
Thành run rẩy rút tờ tiền hai mươi ngàn nhét vào tay bà ta rồi quay lưng bỏ chạy, không thèm chờ thối lại tiền thừa. Tiếng rên rỉ bên trong ống nghe vẫn còn dội lại bên tai anh, rõ ràng và chân thực đến mức không thể là một sự nhầm lẫn của đường truyền bưu điện. Số điện thoại đó vẫn có người nhấc máy, hoặc một thứ đáng sợ đang bám lấy sợi dây đồng dẫn về căn nhà trong hẻm sâu Chợ Lớn.
Anh dắt chiếc xe máy cà tàng ra khỏi bóng râm chân cầu. Trời chiều Sài Gòn bỗng nhiên sầm tối lại một cách nhanh chóng. Mây đen từ phía tây nam cuồn cuộn kéo về, che khuất hoàn toàn ánh hoàng hôn yếu ớt cuối ngày. Những hạt mưa đầu tiên rơi lộp độp xuống mặt đường nhựa nóng ran, bốc lên một mùi khét lẹt ngột ngạt.
Chỉ mười phút sau, cơn mưa giông lớn trút nước xối xả xuống khắp các ngả đường.
Thành kéo sụp chiếc nón bảo hiểm cũ, không thèm mặc áo mưa. Nước mưa lạnh buốt táp rát cả mặt mày, làm nhòe nhoẹt tầm nhìn qua tấm kính chắn gió trầy xước. Anh vặn ga hết cỡ, phóng xe lao thẳng về hướng trung tâm Chợ Lớn. Anh phải đến tận nơi để đối chất. Anh không thể ngồi yên chờ đợi cỗ xe gỗ ở xưởng vẽ tiếp tục rút cạn mạng sống của người khác rồi biến bản thân anh thành vật thế mạng tiếp theo cho cái thuật Ngũ Quỷ man rợ đó.
Đường phố Chợ Lớn trong cơn mưa đêm hiện ra mờ ảo dưới ánh đèn đường vàng vọt. Nước ngập ngang mắt cá chân ở những đoạn trũng gần chợ An Đông, cuộn theo rác rưởi và những cuống rau úng trôi dạt vào mép vỉa hè. Những căn nhà phố cổ kiểu người Hoa xây dựng từ đầu thế kỷ trước đóng kín cửa sắt, mái ngói âm dương rêu phong xám xịt nhô ra dưới màn mưa trắng xóa. Mùi thuốc bắc từ các hiệu thuốc Đông y trên đường Lương Nhữ Học bốc lên nồng nặc, quyện với mùi ẩm mốc của những mảng tường gạch vôi vữa rụng trơ cả lõi.
Thành tấp xe vào đầu con hẻm Triệu Quang Phục.
Con hẻm này hẹp đến mức hai chiếc xe gắn máy đi ngược chiều phải nghiêng tay lái mới lọt qua được. Lòng hẻm không trải nhựa mà lát bằng những phiến đá xanh xẻ rãnh từ thời Pháp thuộc, trơn trượt và đóng đầy rêu nhớt. Hai bên tường hẻm là những dãy nhà ba tầng cất theo kiểu chữ Đinh, ban công nhô ra che khuất cả khoảng trời bên trên, tạo thành một đường hầm hun hút tối tăm. Dưới cơn mưa xối xả, con hẻm vắng ngắt không một bóng người qua lại. Những chiếc lồng đèn đỏ treo trước hiên nhà ai đó bị gió quăng quật, lắc lư qua lại như những quả tim treo lơ lửng giữa không trung.
Thành dựng chân chống xe máy, lôi tờ giấy biên nhận ra nhìn lại một lần nữa dưới ánh đèn pha mờ mịt. Mực bút bi đã bị nước mưa thấm ướt lem nhem, nhưng con số 44/7 vẫn còn hằn sâu trên thớ giấy mỏng.
Anh dắt bộ chiếc xe đi sâu vào trong ngõ. Tiếng bánh xe lăn sột soạt trên mặt đá xanh hòa cùng tiếng nước mưa chảy ồ ồ từ các ống máng xối trên mái ngói dội xuống đất.
Số nhà 44/1 là một tiệm làm mì sợi đóng cửa then cài. Số 44/3 là một căn nhà kho chất đầy thùng carton phế liệu bốc mùi ẩm mốc. Số 44/5 là một khoảng sân nhỏ bỏ hoang, cỏ dại mọc lút đầu gối, bên trong có một miếu thờ Thổ Địa nhỏ xíu bị vỡ mất một góc mái, chân nhang đã mục rữa từ lâu.
Và rồi, con hẻm cụt lại ở số nhà 44/7.
Thành dừng bước, sững sờ nhìn về phía trước.
Nơi này hoàn toàn trái ngược với những gì anh mường tượng. Anh từng nghĩ kẻ đặt hàng phục chế chiếc xe nước mía sẽ là một ông chủ tiệm đồ cổ giàu có, hoặc một tay chơi sưu tầm xe máy cổ sống trong một căn nhà phố khang trang được bài trí theo phong cách phong lưu của giới thương nhân Chợ Lớn.
Hiện ra trước mắt anh là một cánh cổng sắt to lớn, cao hơn ba mét, chắn ngang toàn bộ bề ngang của hẻm cụt.
Cánh cổng được đúc bằng sắt đặc kiểu cổ, bên trên uốn thành những hoa văn hình mây lượn và đầu thú dữ tợn. Lớp sơn màu xám chì nguyên thủy đã bị oxy hóa hoàn toàn, bong tróc từng mảng lớn nhường chỗ cho những vệt rỉ sét màu nâu đỏ sùi lên như vảy nến. Một sợi xích sắt to bằng cổ tay trẻ con quấn chằng chịt quanh hai then cửa, khóa chặt bằng một ổ khóa đồng to bản hình mu rùa. Ổ khóa đóng một lớp gỉ xanh dày cộp, chứng tỏ từ rất nhiều năm nay chưa từng có ai tra chìa vào ổ.
Thành ngước mắt nhìn lên phía trên vòm cổng.
Gắn chặt vào bức tường gạch xám phía trên cánh cổng sắt là một tấm biển hiệu bằng gỗ lim đen bóng, viền quanh bằng những đường chạm khắc hoa sen và chữ Vạn đã mòn vẹt. Trên mặt biển, ba chữ Hán thếp vàng lớn đã phai màu, bên dưới khắc kèm một dòng chữ Quốc ngữ viết theo lối chữ chân phương trước thập niên tám mươi:
*LÝ THỊ TỪ ĐƯỜNG*
Căn nhà này là một khu từ đường dòng họ, nơi thờ tự tổ tiên của gia tộc họ Lý.
Thành đưa tay quệt nước mưa trên mặt, mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng trong lồng ngực. Anh tiến lại gần cánh cổng, nắm lấy hai thanh sắt rỉ sét rồi nhìn qua khe hở rộng chừng một gang tay.
Ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường ngoài hẻm chỉ rọi tới khoảng sân lát gạch tàu bên trong. Khoảng sân rộng mênh mông, ngập ngụa nước mưa đen ngòm và lá mục. Giữa sân, ba chậu sành lớn dùng để nuôi hoa súng đã nứt toác làm đôi, đất bùn bên trong khô cằn trơ trọi. Phía sau khoảng sân là tòa nhà chính xây theo lối kiến trúc đình miếu cổ của người Triều Châu, với mái ngói lưu ly uốn cong vút ở bốn góc, trên nóc chạm nổi hình đôi rồng chầu mặt trăng nhưng phần đầu rồng đã bị gãy rụng từ bao giờ.
Toàn bộ căn nhà chìm trong bóng tối dày đặc, không có lấy một ánh đèn, không có một tiếng động của sự sống. Những cánh cửa gỗ bức bàn của gian chính điện đều đóng chặt, dán đầy những dải giấy niêm phong màu trắng đã rách bươm, bay phần phật trong gió mưa như những cánh bướm ma.
Một căn nhà hoang phế từ mấy mươi năm trước.
Thành cúi đầu nhìn xuống tờ biên nhận trên tay mình, mồ hôi lạnh túa ra hòa cùng nước mưa đang chảy ròng ròng trên má.
Lý Triệu Nam đã dùng địa chỉ của một căn từ đường bỏ hoang bị khóa xích rỉ sét để làm hợp đồng giao dịch với anh. Một địa chỉ không có người ở, một nơi chỉ dành cho người chết và những bài vị mục rữa. Vậy số điện thoại bàn mà anh vừa bấm gọi cách đây nửa tiếng đồng hồ là đường dây nối tới đâu? Ai đã nhấc máy, ai đã phát ra tiếng thở the thé và tiếng rên rỉ đòi mạng trong ống nghe?
Thành nắm chặt then sắt, lay mạnh cánh cổng:
Có ai ở bên trong không? Ông Lý Triệu Nam! Ông có ở trong đó không?
Cánh cổng sắt rung lên bần bật, phát ra những tiếng kim loại va đập nặng nề:
Keng... keng... keng...
. Tiếng kêu vang dội vào khoảng sân vắng, đập vào những vách tường gạch rêu phong rồi dội ngược lại tai anh như tiếng cười mỉa mai.
Không một ai trả lời. Chỉ có tiếng mưa rơi lộp độp trên những phiến ngói vỡ và tiếng gió rít qua những khe nứt của bức tường cổ.
Thành buông tay khỏi thanh sắt, lùi lại hai bước. Ánh mắt anh vô tình dừng lại ở góc dưới bên phải của cánh cổng sắt, nơi có một khe hẹp dùng để nhét thư từ thời xưa.
Nằm kẹt giữa khe sắt rỉ sét và mặt đất ẩm ướt là một thứ đáng sợ màu vàng nhạt.
Thành ngồi thụp xuống, thò ngón tay vào vũng nước mưa lạnh ngắt, cẩn thận lôi vật đó ra ngoài.
Đó là một xấp phong bì thư bằng giấy pơ-lu vàng úa, đã bị nước mưa làm cho mủn nát một nửa. Bên ngoài phong bì không dán tem bưu điện, chỉ có một dòng chữ viết bằng mực tàu màu đen, nét chữ sắc nhọn, cứng cỏi và quen thuộc đến rợn cả gáy.
Nét chữ đó giống hệt nét chữ của người đàn ông tên Lý Triệu Nam đã ký vào tờ biên nhận ở xưởng của anh.
Trên mặt phong bì chỉ ghi vỏn vẹn một dòng chữ Hán kèm theo một dòng lạc khoản bằng chữ Quốc ngữ nguệch ngoạc:
*Minh hôn bất thành, ngũ quỷ hoàn hồn. Nhất cửu bát ngũ niên.* (Hôn sự cõi âm không thành, năm quỷ quay về nhập xác. Năm 1985.)
Thành run rẩy bóc lớp giấy phong bì đã mủn ra. Bên trong không có thư từ, mà chỉ có một bức ảnh đen trắng nhỏ cỡ ba-bốn, mép ảnh đã bị cháy xém một góc.
Dưới ánh đèn pha của chiếc xe máy, bức ảnh hiện lên rõ nét.
Trong ảnh là một người đàn ông trung niên mặc áo măng tô sẫm màu, đứng cạnh một thiếu nữ trạc mười tám tuổi mặc chiếc áo dài trắng cổ thuyền. Người con gái đó có gương mặt trái xoan, khóe môi hơi mím lại và đôi mắt to tròn nhưng u uất lạ kỳ. Đó chính là người con gái trên bức chân dung của cỗ xe nước mía - Lý Lệ Linh.
Người đàn ông đứng cạnh cô ta, với nụ cười nhạt thếch và ánh mắt lẩn tránh, chính là người đã tìm đến xưởng của Thành vào tuần trước.
Nhưng điều khiến tim Thành như ngừng đập nằm ở góc dưới của bức ảnh đen trắng.
Ở đó có một dòng chữ ghi chú bằng bút mực tím đã phai màu theo năm tháng:
*Lý Triệu Nam và con gái Lý Lệ Linh. Chụp ngày 15 tháng 7 năm 1985. Trước ngày tạ thế ba ngày.*
Năm 1985.
Người đàn ông đứng trước mặt Thành tuần trước, kẻ đã ký tên vào tờ hợp đồng phục chế, kẻ đã tự tay đưa cho anh cọc tiền mặt còn thơm mùi sơn mới... trên thực tế đã chết từ bốn mươi năm về trước cùng với đứa con gái của mình.
Tờ biên nhận trong tay Thành không phải là một hợp đồng kinh tế bình thường của một tay chơi đồ cổ.
Nó là một bản hợp đồng ma, một khế ước của cõi âm được ký bằng danh tính của một kẻ đã nằm sâu dưới ba tấc đất từ gần nửa thế kỷ trước, nhằm lừa một người còn sống như Thành mở ra phong ấn cho con quỷ dữ đang bị giam cầm.
Thành đứng chết trân giữa cơn mưa rào Chợ Lớn. Gió đêm thốc mạnh qua khe cổng sắt của căn từ đường họ Lý, mang theo mùi nhang tàn mục rữa và hơi lạnh ngắt của một hầm mộ vừa bị cạy nắp. Sau lưng anh, tiếng máy nổ cà tàng của chiếc xe máy bỗng nhiên lịm dần rồi tắt phụt, dìm cả con hẻm cụt vào một màn đêm đen kịt không đáy.