Bức Chân Dung Cô Mía - Chương 17: Gia phả nhuốm tội

Mưa dầm Chợ Lớn trút xuống những con hẻm quanh co của khu lò heo cũ nồng nặc mùi bùn tanh và mỡ thối lâu năm. Tạ Viết Thành giảm ga, tắt hẳn đèn pha xe…

Nội dung chương

Mưa dầm Chợ Lớn trút xuống những con hẻm quanh co của khu lò heo cũ nồng nặc mùi bùn tanh và mỡ thối lâu năm. Tạ Viết Thành giảm ga, tắt hẳn đèn pha xe máy từ đầu ngách rồi dắt bộ chiếc xe cà tàng nép sâu vào một hốc tường gạch vỡ dưới tán cây trứng cá khẳng khiu.

Đêm Chợ Lớn về khuya tĩnh mịch đến rợn cả gáy. Tiếng bánh xe lăn sột soạt qua những vũng nước đọng hòa cùng tiếng ếch nhái râm ran từ bờ kênh rạch Hàng Bàng dội lại. Trước mặt anh, căn từ đường họ Lý sừng sững hiện ra giữa màn nước mỏng như một khối đá tảng xám xịt bị thời gian bỏ quên. Cánh cổng sắt hoen rỉ vẫn khóa chặt bằng ba vòng xích lớn, những dải giấy niêm phong trắng bệch đã rách tả tơi vì gió quật, dính bết vào chấn song như da thịt thối rữa.

Thành rút chiếc đèn pin nhỏ bọc cao su chống nước từ túi áo khoác, ngậm chuôi đèn vào miệng rồi tiến vòng ra mé hông hồi nhà. Anh thạo nghề mộc và phục chế nhà cổ, thừa hiểu những kiến trúc ba gian kiểu Hoa xây dựng từ thập niên bảy mươi hay tám mươi luôn chừa một cửa nách nhỏ thông với chái bếp hoặc khoảng sân phơi để đón gió. Quả nhiên, sau dãy tường rào phủ kín dây leo móng cọp gai góc, một cánh cửa gỗ bản hẹp cao chừng mét tám lấp ló sau những mảng vôi vữa lở loét.

Cánh cửa này đóng bằng gỗ căm xe dày dặn nhưng mép dưới đã mục nát do ngâm nước mưa nhiều năm. Ổ khóa đồng bên ngoài đóng một lớp ten xanh dày cộp, then cài bên trong bằng sắt thì gỉ sét cứng ngắc.

Thành cởi ba lô, đặt gọn lên một gờ gạch khô ráo. Anh rút chiếc bay trổ phục chế bằng thép không gỉ cán gỗ ra khỏi bao da đeo hông. Lưỡi bay mỏng manh, sắc lẹm và dẻo dai vốn dùng để bóc tách những lớp sơn dầu cổ mà không làm xước cốt gỗ. Anh luồn khéo léo đầu lưỡi bay vào khe hở giữa hai mép cánh cửa, tỉ mỉ gạt từng chút mạt rỉ sét bám quanh chốt hãm. Động tác của người thợ phục chế chuẩn xác, nhẫn nại, không phát ra bất cứ tiếng kim loại va đập thô bạo nào.

Lách cách."

Lưỡi thép lách qua khe hẹp, lựa đúng khớp then gài. Thành nín thở, ấn mạnh cổ tay theo góc nghiêng bốn mươi lăm độ. Cây then sắt bên trong phát ra một tiếng kêu khô khốc rồi trượt nhẹ sang một bên. Cánh cửa gỗ hé mở một khoảng vừa đủ cho một người nghiêng mình lách qua, phả ra luồng hơi lạnh buốt mang theo mùi ẩm mốc, mùi phân chuột và mùi tro nhang nguội ngắt đã tích tụ hàng chục năm.

Thành lách người vào trong, nhẹ tay khép hờ cánh cửa gỗ lại để chặn bớt tiếng mưa xối xả.

Bên trong căn từ đường tối đen như mực. Ánh đèn pin quét thành một vệt tròn vàng vọt, soi rõ gian nhà ba gian rộng thênh thang lát gạch tàu màu đỏ thẫm. Trên trần nhà, những xà gồ bằng gỗ lim đen bóng ken dày mạng nhện, từng chùm bụi bồ hóng bám dày rủ xuống lủng lẳng. Gian chính điện đặt một bàn thờ tổ họ Lý to lớn, hai bên dựng hàng liễn đối khảm ốc xà cừ đã bong tróc trơ cả lớp xương gỗ mục ruỗng.

Mùi tro nhang nguội ở đây nồng nặc đến nghẹt thở. Cảm giác rợn cả gáy dọc sống lưng bám riết lấy từng bước chân Thành. Mỗi bước anh đạp lên nền gạch Tàu ẩm ướt đều phát ra tiếng lép xép nho nhỏ, dội ngược vào bốn bức tường rêu phong như có ai đó đang bước theo sát nút sau gót chân anh.

Thành rọi đèn lên hương án chính. Trên bàn thờ, hàng chục bài vị bằng gỗ sơn son thếp vàng xếp ngay ngắn theo từng bậc thứ bậc gia tộc, nhưng tất cả đều phủ một lớp bụi xám xịt dày cộm. Bát nhang bằng đồng thau chạm rồng đã biến thành màu xám ngoét, cắm đầy những chân nhang rục rụa gãy gục.

Nhưng đôi mắt Thành lập tức dừng lại ở góc dưới của hương án. Khác với những bàn thờ tổ thông thường, phía dưới bệ thờ này có một hệ thống tủ con ba hộc bằng gỗ mun, chạm trổ hoa văn kỳ lân ngậm cuốn thư. Chốt hộc tủ chính giữa không dùng khóa móc thông thường mà được khảm một miếng đồng hình bát quái ngược, chìm sâu vào thớ gỗ.

Đó là dạng then ngầm của thợ mộc Chợ Lớn thời trước, chuyên dùng để cất giấu văn tự mua bán đất đai hoặc sổ bộ gia tộc bí mật.

Thành quỳ một chân xuống sàn gạch ẩm ướt, ghé sát mặt vào mép hộc tủ. Đôi mắt sau tròng kính cận nheo lại, đánh giá từng đường mộng ghép. Lớp bụi dính trên rãnh then có dấu hiệu từng bị cạy ra rồi trám lại bằng sáp ong pha mạt cưa. Với con mắt nhà nghề phục chế, anh nhận ra ngay thủ pháp che giấu vội vã này.

Anh lấy con dao trổ nhỏ từ thắt lưng, dùng đầu mũi dao nạo sạch lớp sáp ong cũ kỹ. Sau đó, anh đưa đầu dẹt của chiếc bay trổ thép luồn vào khe hở dưới đáy miếng đồng bát quái. Bằng một lực bẩy dứt khoát nhưng vô cùng cẩn trọng, Thành xoay nhẹ cổ tay.

Rắc.

Miếng đồng bật nảy ra ngoài, để lộ một chốt hãm bằng gỗ mun nhỏ bằng ngón tay út. Thành ấn mạnh chốt gỗ vào trong, kéo nhẹ tay nắm.

Hộc tủ trượt ra êm ru trên hai thanh ray bôi mỡ bò đã khô quánh lại thành một chất keo màu nâu sẫm.

Bên trong lòng hộc tủ trống trơn, chỉ có một bọc vải điều đã ngả sang màu đỏ gạch cũ kỹ, mép vải viền chỉ kim tuyến cháy sém lốm đốm. Mùi long não nồng nặc xộc thẳng vào mũi Thành khi anh nhấc bọc vải ra ngoài. Bọc vải nặng trịch, vuông vức, gói ghém một vật có kích thước bằng cuốn tập học trò.

Thành đặt bọc vải lên một chiếc đôn sứ cẩn hoa văn Cây Mai gần đó. Đôi bàn tay vốn quen cầm cọ vẽ của anh khẽ run lên khi lần giở từng nếp gấp vải điều đã mủn rách.

Bên trong lớp vải là một cuốn sổ tay bìa cứng bọc da màu nâu đất, loại sổ ghi chép kế toán thường thấy ở các hiệu buôn người Hoa những năm trước đổi mới. Bìa da đã nứt nẻ chằng chịt như da rắn, góc trên bên phải dập nổi một chữ

Lý.

bằng nhũ vàng đã xỉn màu.

Thành mở trang đầu tiên.

Những dòng chữ Hán xen lẫn chữ Quốc ngữ được viết bằng bút máy Parker nét mực đen sắc lẹm, nắn nót theo phong cách kế toán viên thời trước. Những trang đầu chỉ là các khoản chi thu thông thường của hiệu nước mía họ Lý. Các khoản ở bến xe Miền Tây và các sạp buôn Chợ Lớn bao gồm: tiền mua mía bông lau ngọn dài từ Tây Ninh. Tiền cước xe tải chở về bến. Tiền trả công người cạo vỏ. Tiền đúc bánh răng máy ép bằng gang.hau tại xưởng đúc đồng Chợ Quán.

Thành lật nhanh qua các trang. Những con số chi thu đều đặn kéo dài từ năm 1980 đến giữa năm 1985 thì đột ngột dừng lại bằng một vệt gạch đỏ bằng mực chu sa dài ngoằng, cắt ngang cả trang giấy.

Từ trang tiếp theo, ngày tháng bắt đầu dày đặc hơn, nhưng nội dung không còn là chuyện buôn bán đường mía.

Nét chữ mực đen trở nên nguệch ngoạc, run rẩy, gằn sâu xuống từng thớ giấy pơ-lu mỏng tang đến mức làm rách cả mặt sau:

*Ngày 12 tháng 5 năm 1985:* *Tiệm vắng khách. Mía dạt thối đầu bến, nợ ba ngàn đồng bạc nhà xe không có trả. Thầy Ba ở miếu Quan Đế bảo vận số họ Lý đã đến hồi mạt, ba đời tích lộc nay cạn sạch. Muốn giữ lại cơ nghiệp, phải mượn đường cõi dưới.*

Thành nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng. Anh lật tiếp sang trang sau. Ánh đèn pin run rẩy soi rõ từng dòng chữ bệnh hoạn:

*Ngày 28 tháng 6 năm 1985:* *Rước thầy Lỗ Ban từ Trà Vinh lên xưởng kín. Chi một ngàn hai trăm đồng mua chu sa hảo hạng, bảy lượng bột xương sọ, một tấm gỗ mít cổ đào ở chùa hoang miệt Hóc Môn để xẻ ván làm thân xe. Thầy dặn phải chọn đứa con gái máu mủ thuần khiết sinh đúng giờ âm, khắc tuổi với chủ gia đình nhưng hợp mệnh với thần tài miếu dưới.*

*Linh con bé vừa tròn mười tám. Nó là đứa con gái ngoan, nhưng số nó sinh ra đã mang mệnh Thủy dìm mệnh Hỏa của dòng họ này. Nó không chết thì cả họ Lý đều phải ra đê mà ở.*

Cơn giận dữ bốc lên ngùn ngụt nơi lồng ngực Thành, hòa lẫn với một sự kinh tởm tột độ. Anh siết chặt góc cuốn sổ da, các khớp ngón tay trắng bệch ra.

Lý Lệ Linh không hề chết vì một tai nạn xe cộ, cũng chẳng phải ngã bệnh đoản mệnh như những lời đồn thổi vỉa hè của mấy bà bán nước quanh khu Chợ Lớn. Cô gái mười tám tuổi với ánh mắt u buồn trên tấm biển hiệu kia đã bị chính ông bố đẻ của mình đem ra làm vật tế thần.

Thành lật tiếp sang trang áp chót. Trên mặt giấy ố vàng loang lổ những vệt tròn màu nâu sẫm, dấu vết của những giọt máu đã khô lại từ bốn mươi năm trước.

Dưới cùng của trang giấy là một dòng chữ viết hoa to tướng, đè nghiến lên hàng kẻ ly bằng một nét mực chu sa đỏ lòm tàn độc:

*Đêm 18 tháng 7 năm 1985. Giờ Tý.* *Khế ước ngũ quỷ đã định. Thân xác vùi dưới bệ trục ép, hồn phách khóa chặt vào mặt gỗ chân dung. ÉP MẠNG CON LINH LẤY LỘC BA ĐỜI. Con chết thay cha, giữ lấy cơ đồ họ Lý. Bất đắc phản trắc, vĩnh viễn không siêu sinh.*

Bên dưới dòng chữ kinh hoàng đó là dấu điểm chỉ ngón tay cái bằng máu khô đét của kẻ mang tên Lý Triệu Nam.

Ép mạng con Linh lấy lộc ba đời...

Câu chữ tàn ác như những mũi gai độc đâm thẳng vào mắt Thành. Một ông bố có thể nhẫn tâm đem đứa con gái ruột thịt ép chết vào cỗ máy gang, giam hãm hồn phách non trẻ của con mình vào thớ gỗ sơn dầu suốt bốn mươi năm chỉ để đổi lấy vài ba đồng bạc buôn may bán đắt.

Từng mảnh ghép rời rạc trong suốt những ngày qua bỗng chốc khớp lại thành một bức tranh tàn khốc. Người đàn ông trung niên tìm đến xưởng của anh, kẻ đưa tiền cọc và ký tên vào bản hợp đồng phục chế,

chính là oán linh hoặc tàn thức sót lại của kẻ thủ ác năm xưa. Chúng cố tình dùng bàn tay của một thợ phục chế. Thợ ấy sẽ hoàn tất nghi thức giải phóng con ác quỷ mà hắn đã tạo ra, tiếp tục chuỗi ngày hút máu người sống.

Một làn gió lạnh buốt từ đâu thốc mạnh vào gáy Thành. Mùi ẩm mốc trong gian từ đường bỗng chốc biến mất, nhường chỗ cho một mùi tanh tưởi ngọt lịm đặc sệt của nước mía lên men hòa lẫn với máu người.

Thành giật thót mình, vội vàng gấp cuốn sổ da nhét chặt vào trong ngực áo khoác gió. Anh với tay chụp lấy chiếc đèn pin trên đôn sứ.

CẠCH!

Một tiếng động khô khốc, nặng nề vang lên xé toang không gian tĩnh mịch.

Cánh cửa ngách bằng gỗ căm xe phía sau lưng anh bỗng nhiên tự động đóng sập lại. Thanh then sắt rỉ sét bên trong trượt qua một cách chuẩn xác, khóa chặt lối ra duy nhất.

Thành lao vội về phía cửa nách, nắm lấy tay cầm bằng đồng giật mạnh. Cánh cửa gỗ dày cộp trơ ra như đá tảng, không hề nhúc nhích. Không khí xung quanh anh đột ngột hạ xuống buốt giá, từng hơi thở thở ra ngưng tụ thành những làn khói trắng mờ trong ánh đèn pin.

Trên trần nhà, tiếng rui mè cọ xát vào nhau kẽo kẹt rợn cả gáy.

Từ phía sau lưng Thành, nơi bàn thờ gia tiên họ Lý ngập ngụa tro tàn, hàng chục bài vị bằng gỗ sơn son bắt đầu rung lên bần bật. Tiếng gỗ va đập vào nhau lách cách dồn dập như tiếng răng người va vào nhau vì lạnh cóng. Bụi bồ hóng rơi lả tả xuống sàn gạch đỏ thẫm.

Thành quay phắt người lại, lưng áp chặt vào cánh cửa đã bị khóa chết. Ánh đèn pin trong tay anh quét một vòng qua gian chính điện.

Trên chiếc bàn thờ phủ đầy bụi, một luồng khói đen đặc quánh như hắc ín đang từ từ bốc lên từ chiếc bát nhang bằng đồng. Những chân nhang rục rụa bỗng nhiên bùng lên những đốm lửa ma trơi xanh lét, lập lòe trong bóng tối.

Một chuỗi âm thanh rên rỉ the thé, nghẹn ứ vang lên từ bốn góc tường vôi:

Trả... trả mạng... lại cho tao...

Đó là giọng nói của đàn ông, khản đặc và ngập tràn oán độc, hòa lẫn cùng tiếng kim loại nghiến vào nhau ken két của một chiếc máy ép mía đang quay cuồng trong vô thức.

Thành biết mình không thể chần chừ thêm một giây nào nữa. Căn từ đường này là một cái bẫy, và sự thật trong cuốn sổ da anh đang giữ đã đánh thức toàn bộ oán khí của những kẻ thủ ác lẫn nạn nhân bị chôn vùi tại đây.

Anh không cố công phá then cửa sắt nặng trịch nữa. Ánh mắt Thành lia nhanh sang vách tường bên phải gian chính. Ở đó có một ô cửa sổ con chấn song bằng gỗ hình chữ thọ, mép ngoài nhìn thẳng ra con hẻm đất trũng đầy bùn nước.

Thành lao tới bên cửa sổ. Những chấn song gỗ lim tuy dày nhưng chân mộng cắm vào tường gạch đã bị mục rỗng do hơi ẩm tích tụ lâu ngày.

Anh rút chiếc bay trổ bằng thép không gỉ giắt bên hông ra, cắm ngập lưỡi bay vào chân mộng mục nát của chấn song chính giữa. Dồn hết trọng lượng cơ thể vào hai bàn tay, Thành bẩy mạnh một cú dứt khoát.

Rắc! Rắc!

Khung gỗ mục gãy vụn ra từng mảng. Thành vung chân đạp mạnh thêm một phát nữa, hai chấn song gỗ văng tung ra ngoài sân đất, tạo thành một lỗ hổng vừa đủ cho một người trưởng thành chui qua.

Phía sau lưng anh, chiếc bát hương đồng trên bàn thờ tổ bỗng nhiên nổ tung đánh

đoàng.

một tiếng. Đất cát, tàn tro và những đốm lửa xanh bay tứ tung trong không khí. Một luồng âm khí đen ngòm cuộn tròn lại thành hình một bàn tay khổng lồ gầy guộc chộp thẳng về phía gáy anh.

Thành cúi rạp người, lao mình qua khung cửa sổ vỡ vụn.

Cả thân người anh ngã nhào xuống vũng bùn nước nhơ nhớp bên ngoài con hẻm. Mảnh gỗ vụn cào rách một mảng áo khoác gió, cứa vào bắp tay anh một vết dài rát bỏng. Thành không màng đến cơn đau, anh lồm cồm bò dậy giữa màn mưa xối xả, hai tay ghì chặt lấy ngực áo, nơi cuốn sổ bìa da bọc vải điều vẫn nằm im lìm tỏa ra hơi lạnh thấu xương.

Sau lưng anh, bên trong ô cửa sổ tối đen của căn từ đường hoang phế, tiếng gầm gừ giận dữ của oán linh rít lên từng hồi rồi chìm dần vào tiếng sấm rền vang trên bầu trời Chợ Lớn.

Thành chạy thục mạng về phía bụi cây trứng cá, dựng chiếc xe máy cà tàng dậy. Anh đạp cần khởi động ba lần liên tiếp. Tiếng máy nổ bành bạnh vang lên giữa đêm mưa nghe như tiếng còi báo tử.

Thành vít hết ga, lao chiếc xe vút ra khỏi con hẻm lò heo tăm tối.

Nước mưa táp rát mặt, nhưng trong lòng Thành lúc này chỉ có một nỗi kinh hoàng tột độ đang bóp nghẹt lấy lồng ngực. Sự thật về tội ác man rợ của gia tộc họ Lý đã bị phơi bày ra ánh sáng, và anh hiểu rằng, việc mở phong ấn cuốn sổ này không hề làm mọi chuyện lắng xuống.

Ngược lại, nó vừa chọc giận một thứ tà thuật khủng khiếp đã bị đè nén suốt bốn mươi năm.

Túi bùa chu sa trước ngực Thành bỗng nóng rực lên như hòn than đỏ, bỏng rát qua lớp áo ướt sũng. Phía xa, hướng về xưởng vẽ của anh ở vùng ven, một cảm giác bất an trào dâng dữ dội.

Cỗ xe nước mía với nụ cười nhuốm máu của Lý Lệ Linh đang đợi anh ở đó. Và đêm nay, trục gang nghiền nát thân xác cô gái năm xưa chắc chắn sẽ không chịu nằm yên trong bóng tối thêm nữa.

Chương khác

Xem thêm