Bức Chân Dung Cô Mía - Chương 8: Lời cảnh báo của lão thợ già
Nước máy chảy xối xả vào bồn rửa mặt, lạnh buốt đến thấu xương. Thành cúi gập người, dùng hai bàn tay vục từng vốc nước lớn tạt liên tục lên mặt mình, cố…
Nội dung chương
Nước máy chảy xối xả vào bồn rửa mặt, lạnh buốt đến thấu xương. Thành cúi gập người, dùng hai bàn tay vục từng vốc nước lớn tạt liên tục lên mặt mình, cố gột rửa thứ cảm giác nhờn dính kinh tởm còn sót lại sau cơn ngạt thở canh ba.
Mùi nước mía thiu ngọt lợ vẫn bám dai dẳng trong khoang mũi, lẩn quất nơi chân răng dù anh đã súc miệng bằng xà phòng thơm đến lần thứ ba. Vệt nước sánh màu vàng úa trên chiếc áo ba lỗ đã khô lại, để lại một quầng ố viền nâu sẫm cứng đờ giữa ngực. Ba sợi tóc dài màu đen nhánh lúc nãy được anh cẩn thận gắp vào một túi zip nilon nhỏ, đặt ngay ngắn trên bàn làm việc cùng chiếc điện thoại chứa những tấm ảnh chụp lá bùa hoen máu.
Đồng hồ treo tường chỉ năm giờ rưỡi sáng. Ánh ngày xám đục từ con hẻm ngoài cổng lọt qua khe cửa thông gió, soi rõ từng hạt bụi li ti lơ lửng bên trên cỗ xe nước mía.
Cỗ xe gỗ đóng năm 1985 nằm lặng câm giữa xưởng. Tấm bạt nilon bị hất tung một nửa, để lộ bức chân dung Cô Mía với nụ cười đỏ tươi và đôi mắt sơn dầu trân trối nhìn xéo về phía góc phòng. Dưới chân bệ máy ép, giọt dịch lỏng màu vàng úa rỉ ra từ kẽ ván ép ban nãy đã ngưng chảy, chỉ còn lại một vệt bết dính tròn bằng đồng xu trên thanh giằng sắt.
Thành thay chiếc áo sơ mi bạc màu, với lấy chiếc áo khoác gió sờn vai và chùm chìa khóa xe. Anh lưu toàn bộ tệp ảnh chụp lá bùa, búi tóc và cận cảnh từng đường cọ trên tấm biển hiệu vào thư mục riêng trong điện thoại. Trước khi dắt chiếc xe máy cũ qua cánh cửa sắt, anh dừng lại hồi lâu, nhìn xoáy vào bức chân dung.
Sự sợ hãi đè nặng lên từng nhịp thở, nhưng lòng tự ái và tính bướng bỉnh của một gã thợ phục chế tốt nghiệp trường Mỹ thuật không cho phép anh buông xuôi. Một đơn hàng phục chế đã nhận tiền cọc của khách, một cỗ xe chứa bí mật rùng rợn kéo dài bốn mươi năm, và trên hết là tính mạng của chính anh đang bị đe dọa. Anh phải biết rốt cuộc thứ gì đang nằm sau lớp ván ép kia.
Thành khóa chặt ba ổ khóa đồng bên ngoài cửa xưởng, nổ máy chiếc Honda Cub cũ kỹ, lao vào dòng người bắt đầu tấp nập của buổi sớm Sài Gòn.
Điểm đến của anh là hẻm Lò Gốm, nằm sâu hút trong mạng lưới đường sá chằng chịt của quận Sáu, giáp ranh khu Chợ Lớn cũ. Đó là nơi tập trung những xưởng thợ thủ công lâu đời nhất thành phố, nơi các thế hệ thợ mộc, thợ tiện gang và thợ vẽ biển hiệu cổ từng sống dựa vào nhau từ những năm trước ngày giải phóng.
Gió sớm thổi rát rạt qua lớp vải áo khoác, cuốn theo mùi khói xăng pha nhớt và hơi ẩm mốc bốc lên từ dòng kênh đen ngòm bên đường Hồng Bàng. Càng đi sâu vào lòng Chợ Lớn, nhịp sống càng mang một sắc thái khác biệt. Những dãy nhà phố hẹp ngang xây từ thời Pháp thuộc chìa những ban công sắt rỉ sét ra giữa khoảng không, dưới hiên treo lủng lẳng lồng chim và những phong phong đỏ dán chữ Tiều đã bạc màu mưa nắng.
Thành rẽ xe vào con hẻm ngoằn ngoèo rải đá mi vụn dẫn xuống mạn rạch Lò Gốm. Tiếng xẻ gỗ, tiếng búa gõ lách cách vào sắt tấm và mùi hăng nồng của dầu bóng, dung môi pha sơn xộc thẳng vào mũi anh.
Sau khi hỏi thăm ba người thợ già sửa xe đạp đầu hẻm, Thành dắt bộ xe dừng lại trước một căn nhà cấp bốn xây bằng gạch thô, mặt tiền thụt sâu vào một góc ngoặt ẩm thấp. Phía trước hiên nhà dựng la liệt những tấm biển thiếc cũ, biển gỗ xà cừ khắc chữ nổi mạ đồng và hàng chục hộp sơn nhãn hiệu Con Lạc Đà đã cạn khô. Trên tấm biển tôn nhỏ đóng xiêu vẹo cạnh cửa gỗ lim, dòng chữ sơn tay nét chân phương ghi rõ:
Ba Thao - Nhận cẩn ốc, vẽ biển hiệu tiệm vàng, xe kiếng Chợ Lớn.
.
Bên trong gian nhà chật chội, một người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi đang ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít thấp tè. Ông lão mặc chiếc áo bà ba màu nâu đất cài cúc chéo, mái tóc hoa râm búi gọn sau gáy theo kiểu cũ, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt gân xanh và những vết thẹo lem luốc vệt sơn đen, sơn đỏ ăn sâu vào kẽ móng.
Trước mặt lão là một tấm biển hiệu tiệm bánh pía bằng gỗ dầu đang được dặm lại lớp chữ Hán thếp vàng. Lão thợ già cầm cây cọ tỉa lông thỏ mảnh như sợi chỉ, chấm từng giọt keo da trâu một cách tỉ mỉ, miệng ngậm tẩu thuốc rê nhả khói xanh mờ mịt.
Thành dựng chân chống xe, đứng nép ngoài bậu cửa, cất tiếng chào bằng giọng kính cẩn:
Chú Ba Thao phải không chú? Chú Ba Cảnh bên đồ cổ Đa Kao giới thiệu con qua tìm chú. Con là Thành, thợ phục chế tranh và biển gỗ.
Nghe nhắc đến tên Ba Cảnh, lão thợ già dừng tay cọ. Ngọn cọ lơ lửng giữa không trung cách mặt chữ Hán nửa phân rồi hạ xuống chiếc giá đỡ bằng sứ. Lão Ba Thao ngẩng đầu lên, nheo mắt nhìn Thành qua cặp kính lão gọng đồi mồi dày cộp trễ xuống tận cánh mũi.
Đôi mắt lão đùng đục màu nước hến nhưng đáy mắt sắc lẹm, đảo một lượt từ đầu đến chân Thành rồi dừng lại ở hõm cổ của anh. Cánh mũi lão hơi chun lại, khẽ khịt một cái như vừa ngửi thấy một mùi vị khác lạ xộc vào gian phòng.
Thằng Ba Cảnh dạo này còn chơi lư đồng với đồ gốm Cây Mai không?
Giọng lão khàn đục, mang âm sắc pha trộn giữa tiếng Việt giọng Nam rặt và âm hưởng nặng trịch của người Triều Châu.
Nó kêu mày qua đây làm gì? Tao giải nghệ mười năm nay rồi, giờ chỉ nhận dặm vài ba cái biển tiệm bánh của người quen lấy tiền hút thuốc rê thôi. Mày kiếm thợ phục chế thì lên mạn quận Nhất, tìm mấy đứa học trường mỹ thuật ra mà làm.
Chú Ba Cảnh bảo chuyện này chỉ có một mình chú tường tận.
Thành bước qua bậu cửa, hạ giọng nói nhỏ.
Con không tới nhờ chú phục chế giùm. Con tới để hỏi chú về gốc tích một chiếc xe nước mía cũ đóng năm 1985. Trên thùng xe có bức chân dung Cô Mía vẽ bằng sơn dầu trên ván ép ba lớp.
Hai ngón tay đang cầm tẩu thuốc của lão Ba Thao bỗng khựng lại. Đốm than đỏ trên đầu tẩu tắt ngấm.
Lão không đáp lời ngay, chỉ nhìn chằm chằm vào mặt Thành. Bầu không khí trong gian nhà chật chội đột ngột chùng xuống, chỉ còn tiếng tích tắc khô khốc của chiếc đồng hồ quả lắc Odo treo trên bức tường loang lổ vết ẩm.
Xe nước mía năm tám lăm?
Lão thợ già lặp lại từng chữ, giọng gằn xuống sau cổ họng.
Mày nói xe của ai?
Thành rút điện thoại từ túi quần ra, mở sẵn tập ảnh rồi bước lại gần chiếc bàn gỗ phủ đầy mạt cưa và giẻ lau ngâm xăng. Anh đặt màn hình điện thoại trước mặt lão thợ già.
Chiếc xe này con nhận từ một kho phế liệu gỗ mạn Bình Hưng Hòa. Khách trả tiền cọc để con phục dựng lại lớp tranh chân dung và phần khung gỗ. Nhưng đêm qua, khi con nạy nẹp nắp hộc ngầm bên dưới thùng xe, con tìm thấy thứ này.
Thành quẹt ngón tay trên màn hình, lướt qua bức ảnh chụp toàn cảnh cỗ xe gỗ, rồi dừng lại ở bức ảnh chụp cận cảnh lá bùa hoàng chỉ và mảng keo dán lọn tóc đen sau thớ ván ép.
Ánh sáng từ màn hình điện thoại hắt lên đôi tròng kính lão của Ba Thao.
Ngay khi đôi mắt già nua nhìn thấy nét chu sa ngoằn ngoèo tựa hồ chiếc máy ép mía và búi tóc người ép chặt trong chất keo màu nâu xám, toàn thân lão Ba Thao giật nảy lên một cái như bị điện giật. Bàn tay cầm tẩu thuốc run bần bật, làm rơi tẩu xuống mặt bàn, tàn thuốc đỏ văng tung tóe lên xấp giấy ráp mịn.
Lão vội vàng vươn bàn tay gầy guộc chộp lấy chiếc tách gốm men lam đang uống dở để dập tàn thuốc, nhưng ngón tay run rẩy khiến chiếc tách tuột khỏi lòng bàn tay.
Choảng!
Chiếc tách sứ rơi xuống nền xi măng nứt nẻ, vỡ toang làm nhiều mảnh vụn. Nước trà quao màu vàng sậm bắn tung tóe lên ống quần bà ba của lão thợ già và dính lên cả mũi giày của Thành.
Lão Ba Thao không màng tới chiếc tách vỡ. Lão chồm người về phía trước, hai mắt trợn trừng nhìn trân trối vào màn hình điện thoại, hơi thở bắt đầu dồn dập, hổn hển qua kẽ răng vàng ố khói thuốc.
Chú Ba, chú nhận ra nó phải không?
Thành gặng hỏi, lòng dâng lên một cơn ớn lạnh khi thấy phản ứng dữ dội của lão thợ già.
Lá bùa này là thứ gì? Tóc này là của ai? Tại sao lại có bùa yểm dán bằng máu phía sau bức tranh chân dung?
Lão Ba Thao đột ngột ngẩng phắt dậy. Khuôn mặt nhăn nheo của lão tái mét, những đường gân xanh nơi thái dương giật giật liên hồi. Lão buột miệng thốt ra một tràng tiếng Triều Châu giận dữ, âm sắc the thé và gấp gáp:
Tí tịu... Huyết ngải trừng gia... A phiến tử trảo hồn...
Lão giơ bàn tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Thành, giọng lạc hẳn đi:
Mày... mày đã đụng tay vào lá bùa đó chưa? Mày đã dùng dao rọc giấy cạo lớp keo đó ra chưa? Nói mau!
Con... con chỉ mới dùng dao trổ nạy hở một góc lớp ván ép ra thôi.
Thành giật mình lùi lại nửa bước trước vẻ mặt hung hãn lẫn hoảng loạn tột cùng của ông lão.
Con thấy bên trong có kẽ hở nhét bùa nên chụp ảnh lại, rồi nhắn cho chú Ba Cảnh.
Lão Ba Thao thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp vải bà ba xộc xệch. Lão đưa bàn tay khẳng khiu lên vuốt trán, mồ hôi hột đã rịn ra đầy những nếp nhăn sâu hoắm quanh chân mày.
May cho cái mạng chó của mày là chưa cạo sạch lớp keo phong ấn đó.
Lão nói, giọng trầm xuống, rít qua kẽ răng.
Mày mà róc đứt lọn tóc đó ra khỏi thớ gỗ, sáng nay thằng Ba Cảnh đã phải chuẩn bị tiền đi viếng đám ma mày rồi, chứ không có chuyện mày đứng đây cầm điện thoại đưa tao coi đâu!
Thành nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng khô khốc:
Rốt cuộc bức tranh đó vẽ ai vậy chú? Khách của con nói đây chỉ là chiếc xe bán nước giải khát bình thường của một gia đình người Hoa ở quận Năm hồi thập niên tám mươi...
Bình thường cái mả mẹ nó!
Lão Ba Thao đập bàn đánh rầm một tiếng, làm mấy lọ mực tàu nảy lên lách cách.
Nhà họ Lý bên Chợ Quán! Mày biết gia tộc họ Lý hồi năm tám mươi làm cái nghề gì không? Bề ngoài mở xưởng ép mía, vựa đường cát dọc bến Bình Đông, bên trong ngấm ngầm làm mạng lưới vận chuyển thuốc phiện và vàng lá từ biên giới về Chợ Lớn!
Lão thợ già chống tay lên bàn, nghiêng người sát về phía Thành. Mùi thuốc rê nồng nặc phả thẳng vào mặt anh:
Bức tranh Cô Mía đó chính tay tao căng khung gỗ, chính tay tao pha lớp sơn lót dầu lanh cho thằng thợ vẽ người Triều Châu tên A Tống đặt cọ vẽ vào mùa thu năm tám lăm. Người trong tranh không phải người mẫu quảng cáo nước ngọt vỉa hè. Nó là con gái thứ ba của lão Lý Côn Sinh, chủ chuỗi tiệm nước giải khát họ Lý!
Lồng ngực Thành thắt lại. Từng mảnh ghép hỗn độn trong đầu anh bắt đầu va đập vào nhau.
Cô gái đó... đã chết rồi sao chú?
Lão Ba Thao cười gằn một tiếng, nụ cười méo mó trên gương mặt già nua đầy sợ hãi:
Chết? Nếu chết êm thấm vì bệnh tật hay tai nạn thì đã chẳng có chuyện phải dùng đến Thoa Hồn Phù! Con nhỏ đó chết oan, chết trong cái hầm máy ép mía của chính gia đình nó vào đêm rằm tháng bảy năm tám lăm! Người ta đồn nó phát hiện ra lão Lý dùng thùng xe chở hàng trắng, đòi đi báo công an nên bị người trong nhà thủ tiêu. Xác nó bị ép nát vụn dưới bánh răng rulo gang, máu thịt trộn lẫn vào bã mía rồi chở đi đổ tuốt ngoài bãi rác ngoại ô!
Thành chết sững. Cơn buồn nôn đột ngột trào ngược lên tận cuống họng. Hình ảnh bánh răng gang tự quay kẽo kẹt giữa đêm và thứ chất lỏng ngọt lợ bốc mùi thiu rữa tràn vào khí quản anh trong cơn ác mộng canh ba bỗng chốc hiện rõ mồn một.
Sau khi nó chết, - Lão Ba Thao tiếp tục hạ giọng, tiếng thì thầm rợn cả gáy như vọng lên từ lòng đất lạnh - hồn con nhỏ không siêu thoát, đêm nào cũng về gõ cửa sắt xưởng ép mía đòi xác. Lão Lý Côn Sinh sợ hãi, nhưng thay vì mời thầy lập đàn cầu siêu, lão nghe lời một tên thầy bùa Mao Sơn gốc Quảng Đông,
bày ra trò ác độc nhất trần đời. Chúng dùng chính lọn tóc cắt từ đỉnh đầu lúc nó còn sống. Chúng hòa máu tươi nơi cổ họng vào chu sa, vẽ thành lá Thoa Hồn Phù rồi ép dán chết sau bức chân dung của nó trên thùng xe mía.
Để làm gì chú?
Giọng Thành run lên bần bật.
Để trấn hồn, và để hút vía giữ của!
Lão Ba Thao nghiến răng.
Lão Lý muốn giam chặt hồn con gái mình vào cỗ xe gỗ, bắt cái vong hồn oan khuất đó ngày đêm phải đứng mỉm cười nơi vỉa hè để câu kéo khách vãng lai, hút sinh khí của người qua đường biến thành tài lộc cho gia tộc họ Lý. Khách uống nước mía cỗ xe đó càng đông, buôn bán càng phát tài, thì linh hồn con nhỏ bị giam cầm trong thớ ván càng đau đớn, quằn quại, không bao giờ được đầu thai chuyển kiếp!
Gian nhà rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở. Ngoài ngõ, tiếng xe máy gầm rú xé tan bầu không khí đặc quánh nhưng không xua đi được luồng khí lạnh buốt đang bao trùm lấy Thành.
Thành nhớ lại cảm giác ướt đẫm trên ngực áo, nhớ lại ba sợi tóc dài màu đen nhánh rơi ra từ hõm cổ mình sau cơn bóng đè.
Chú Ba... Đêm qua, con ngửi thấy mùi nước mía thiu. Trong lúc ngủ, con bị đè nghẹt thở, và khi tỉnh dậy thì có chất dịch vàng rỉ ra từ kẽ ván...
Lão Ba Thao nghe đến đó thì mặt mày biến sắc, toàn thân lùi phắt lại phía sau, lưng đập mạnh vào tủ kính chứa cọ vẽ khiến những lọ phẩm màu rung lên bần bật. Lão trố mắt nhìn vào cổ áo Thành, run giọng thốt lên:
Mày bị nó bóp cổ rồi... Mày đã mở một góc bùa phong ấn, cái vía của nó bắt đầu thoát ra ngoài để tìm kẻ thế mạng!
Đột nhiên, lão Ba Thao túm lấy một chiếc chổi đót dựng ở góc tường, hung hãn quơ mạnh về phía Thành:
Cút! Mày cút ngay ra khỏi nhà tao! Đừng mang cái của nợ dính máu người chết đó tới đây ám tao! Đi mau!
Chú Ba! Chú nghe con nói đã!
Thành đưa hai tay lên đỡ cán chổi, giậm chân kêu lên.
Giờ con phải làm sao? Có cách nào giải được lá bùa đó không? Khách của con họ chuẩn bị tới lấy xe rồi!
Giải cái con khỉ mốc!
Lão thợ già điên cuồng vung chổi xua đuổi, ánh mắt lộ rõ sự khiếp đảm tột bực.
Mày muốn sống thì đẩy cỗ xe đó ra bờ kênh Tàu Hủ, đổ một can dầu hỏa lên mà châm lửa đốt cho thành tro bụi đi! Còn nếu tiếc tiền cọc, tao cảnh cáo mày một câu sống chết: tuyệt đối không được dùng dao cạo hay dung môi đụng vào lớp keo niêm phong phía sau lưng bức tranh! Lớp keo đó là xiềng xích cuối cùng giữ cái vong hồn đó lại với thớ gỗ. Mày mà cạo sạch lớp keo phong ấn đó ra, con quỷ trong tranh sẽ bẻ gãy cổ mày ngay trong đêm nay!
Lão Ba Thao dùng hết sức đẩy Thành lảo đảo bước qua bậu cửa, rồi giật mạnh cánh cửa gỗ lim dập sầm lại.
Rầm!
Tiếng then sắt cài chặt từ bên trong vang lên khô khốc.
Thành đứng chôn chân trên nền đá mi ẩm ướt của con hẻm Lò Gốm. Những mảnh sứ vỡ của chiếc tách trà vẫn còn dính vệt nước sậm màu dưới mũi giày anh. Bên trong căn nhà, lão Ba Thao hình như đang vội vã thắp nhang trên bàn thờ Quan Công, mùi trầm hương nồng gắt bắt đầu bay qua khe cửa hẹp, hòa lẫn vào cái nắng chói chang của buổi sáng Chợ Lớn.
Mặt trời đã lên cao, rọi những tia nắng gay gắt xuống từng mái tôn rỉ sét ven rạch. Hơi nóng hầm hập bốc lên từ lòng đường bê tông, nhưng sống lưng Thành vẫn lạnh toát như ngâm trong nước đá.
Lời cảnh báo của lão Ba Thao vang vọng trong đầu anh như một hồi chuông báo tử: *Đốt cỗ xe thành tro bụi... Tuyệt đối không được cạo lớp sơn niêm phong...*
Thành bước chầm chậm về phía chiếc xe Cub. Bàn tay anh nắm chặt lấy ghi-đông, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì bóp chặt.
Đốt cỗ xe ư?
Nếu đốt cỗ xe, anh sẽ phải đền toàn bộ hợp đồng phục chế, mất trắng danh tiếng gầy dựng suốt mấy năm qua trong giới đồ cổ Sài Gòn. Nhưng quan trọng hơn cả món tiền phạt, trong lòng gã thợ vẽ trẻ tuổi đang bùng lên một ngọn lửa ngờ vực dữ dội.
Một vụ sát hại man rợ bị che giấu suốt bốn mươi năm. Một cô gái trẻ bị chính ruột thịt nghiền nát thân xác rồi dùng tà thuật giam hãm linh hồn để trục lợi làm giàu. Nếu những lời lão Ba Thao nói là sự thật, thì cỗ xe gỗ kia không đơn thuần là một món đồ cổ mang lại vận xui, mà nó là một hiện trường tội ác bị niêm phong bằng chu sa và máu thối.
Lão Ba Thao bảo anh không được cạo lớp keo. Lão bảo cạo lớp keo là giải thoát cho con quỷ.
Nhưng Thành là một thợ phục chế. Bản năng nghề nghiệp dạy anh rằng muốn cứu một tấm gỗ bị mối mọt đục ruỗng từ bên trong, người thợ phải nạo sạch lớp mùn thối rữa, bóc trần vết thương cũ dưới ánh mặt trời chứ không phải quét một lớp sơn mới lên trên để che đậy sự mục ruỗng dối trá.
Anh vặn ga chiếc xe Cub, phóng vụt ra khỏi con hẻm Lò Gốm. Gió ngược chiều thổi bay vạt áo khoác, cuốn trần trụi sự do dự cuối cùng ra khỏi tâm trí anh.
Thành không đi về phía bờ kênh để mua dầu hỏa. Anh quay đầu xe, lao thẳng về xưởng vẽ ngoại ô với tốc độ nhanh nhất có thể.
Anh phải tự mình kiểm chứng.
Cánh cửa sắt của xưởng vẽ mở toang ra dưới ánh nắng trưa chang chang. Cỗ xe gỗ vẫn đứng đó, ngạo nghễ và ma quái giữa những khung tranh phục chế dở dang.
Thành tháo áo khoác, bước thẳng tới bàn đồ nghề, nhấc lên chiếc dao nạo bằng thép carbon sắc lẹm và một chai dung môi hữu cơ tẩy sơn cực mạnh. Đôi mắt anh nhìn thẳng vào nụ cười đỏ chót của Cô Mía trên tấm biển gỗ dán ba lớp.
Lưỡi dao thép sáng loáng phản chiếu ánh mặt trời le lói qua chấn song sắt. Anh bước lại gần mép ván ép, đưa mũi dao sắc lạnh nhắm thẳng vào mảng keo dán phong ấn đang phập phồng sau thớ gỗ.