Công Viên Nước Hồ Thủy Tiên - Chương 11: Nhật Ký Văn 15 Năm Trước

Tiếng kim loại miết trên nền gạch hoa mục nát vừa dứt, không gian lập tức rơi vào sự tĩnh mịch nặng nề. Hơi lạnh từ đáy ngách ngầm phả thẳng vào mặt rát…

Nội dung chương

Tiếng kim loại miết trên nền gạch hoa mục nát vừa dứt, không gian lập tức rơi vào sự tĩnh mịch nặng nề. Hơi lạnh từ đáy ngách ngầm phả thẳng vào mặt rát buốt, mang theo thứ mùi thum thủm của rong rêu chết cùng lớp bùn đáy hồ lâu năm không thấy ánh sáng.

Tôi giơ bàn tay trái lên, ra hiệu cho ba người phía sau dừng bước hoàn toàn. Ngón trỏ tay phải siết chặt thân chiếc đèn pin chiếu sáng công suất lớn, hướng chùm tia vàng đục soi rọi từng mét sàn dốc. Mặt sàn bê tông tráng xi măng thô ráp trước mặt đã vỡ vụn từng mảng, lộ ra lớp sỏi cuội lởm chởm và những vệt nước đen sì rỉ từ các mạch ngầm của lòng hồ Thủy Tiên qua chân móng công trình.

- Đứng sát vào nhau - Tôi thì thầm, giọng ghìm thấp đến mức gần như lẫn vào tiếng nước rỉ tong tong - Hậu đi sau tôi nửa bước, kèm sát Duy. Linh nắm chặt vạt áo khoác của anh, đừng nhìn lung tung.

Bàn tay Linh siết chặt góc áo khoác gió của tôi, những đầu ngón tay cô lạnh ngắt qua lớp vải sợi tổng hợp. Tiếng thở của cô ngắn và dồn dập, từng nhịp thở run rẩy phả vào gáy tôi. Duy đi ngay sau, hai hàm răng va vào nhau lập cập thành từng hồi giòn giã. Cậu sinh viên truyền thông lúc này không buồn che giấu nỗi sợ, hai mắt đảo liên hồi vào các góc tối nơi ánh đèn pin quét qua.

- Anh Khôi... hồi nãy rõ ràng có tiếng đồ sắt bị kéo lê... - Duy lẩm bẩm qua kẽ răng - Có khi nào...

- Im mồm và nhìn xuống chân mày - Hậu gằn giọng ngắt lời, bàn tay hộ pháp đè chặt lên vai Duy - Nhấc chân cho cẩn thận, bước hụt một cái là trượt thẳng xuống đáy đấy con ạ.

Chúng tôi thận trọng di chuyển từng bước xuống đoạn dốc dài chừng hai mươi mét. Độ dốc vào khoảng mười lăm độ, thiết kế chuẩn xác của các đường dốc kỹ thuật dùng để chuyển vật tư nặng từ sảnh chính xuống tầng ngầm trung tâm. Càng đi sâu, vòm bê tông phía trên càng hạ thấp dần, buộc Hậu phải hơi khom lưng để tránh những thanh sắt giằng xà gồ rỉ sét thò ra lởm chởm từ các mảng vữa vôi bong tróc.

Dưới đáy dốc, ngách ngầm mở ra một hành lang hẹp chạy ngang theo hình cánh cung, ôm trọn lấy phần móng dưới đáy tòa nhà thủy cung. Nước ngập đến mắt cá chân, đen đặc và bốc mùi tanh nồng của chất hữu cơ ối mục. Những đám bèo dại và rêu nhớt quấn quanh cổ chân mỗi khi chúng tôi bước đi, phát ra tiếng bì bõm quánh đặc.

Tôi lia đèn pin sang mép tường bên phải. Giữa những mảng rêu phong bám dày đặc như thảm lông thú, một cánh cửa sắt đôi sơn màu xanh quân đội lộ ra, loang lổ những vệt gỉ màu nâu đỏ. Phía trên khung bao cửa, một tấm biển nhựa mica ố vàng nứt vỡ làm đôi vẫn còn giữ lại những nét chữ in hoa màu đỏ đã phai mờ: "PHÒNG VẬN HÀNH KỸ THUẬT - TRẠM BƠM SỐ 2".

- Đây rồi - Tôi thở hắt ra một hơi, áp sát mép cánh cửa - Căn phòng này nằm trên cao độ móng độc lập, sàn bê tông cốt thép dầm hộp. Nếu cửa còn nguyên, bên trong sẽ khô ráo hơn hành lang này nhiều.

Cánh cửa bị khóa chặt bởi một ổ khóa sắt hộp treo kiểu cổ điển, loại khóa bấm từ những năm hai nghìn. Lớp kim loại của thân khóa đã bị hơi ẩm ăn mòn thành từng lớp vảy dày cộm, gỉ sắt kết dính chặt chẽ càng khóa vào then gài trên khung cửa.

- Khóa cứng rồi - Hậu soi mặt cờ lê vào khe cửa - Đạp nổi không?

- Cửa sắt chịu lực phòng nổ của trạm bơm, dùng chân đạp chỉ tổ gãy ngón - Tôi hạ ba lô xuống một bệ bê tông khô ráo cạnh đó, rút ra cây xà beng ngắn bằng thép tôi cứng mà Hậu mang theo từ cốp xe bán tải - Luồn mũi nhọn vào giữa càng khóa và then chốt. Anh với tôi cùng dồn lực bẩy xuống.

Hậu gật đầu, hai tay nắm chặt lấy thân cây xà beng. Tôi đứng sang bên cạnh, áp cả hai bàn tay lên cán kim loại lạnh ngắt của dụng cụ, lấy gờ bê tông chân tường làm điểm tựa phản lực.

- Chuẩn bị. Một... hai... ba!

Kéttttt!

Tiếng kim loại biến dạng rít lên chói tai giữa khoảng không gian hẹp. Lớp gỉ sắt mục nát văng tung tóe ra xung quanh, bám vào mặt và cổ áo chúng tôi một thứ bột màu nâu đỏ khô khốc. Càng khóa trơ ra nhưng then cài bằng thép bắt đầu cong vênh dưới lực đòn bẩy kết hợp của hai người đàn ông trưởng thành.

- Thêm một nhịp nữa! Ráng lên! - Tôi nghiến răng, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể sáu mươi lăm cân đè nghiến lên thân đòn.

Rắc!

Một tiếng nổ giòn vang lên đanh gọn. Càng khóa sắt bị vặn gãy làm đôi, văng thẳng xuống vũng nước dưới chân làm bắn tung tóe những giọt bùn đen kịt. Hậu lập tức dùng vai húc mạnh vào cánh cửa.

Bản lề rỉ sét rên rỉ những chuỗi âm thanh ken két nặng nề, cọ xát vào nền bê tông rồi từ từ mở toang ra một khoảng trống vừa đủ cho một người lách qua.

Một luồng khí tù đọng đặc quánh từ bên trong tràn thẳng ra ngoài cửa. Mùi chuột chết thối rữa, mùi nấm mốc mục nát cùng bụi vôi vữa tích tụ suốt hai thập kỷ xộc thẳng vào cánh mũi khiến tôi phải lập tức đưa tay áo lên che mặt, nén chặt cơn buồn nôn đang chực trào lên cuống họng.

Linh ho sặc sụa, vội vàng kéo khẩu trang vải lên trùm kín mặt. Duy lùi lại một bước, hai tay ôm ngực thở hổn hển:

- Mùi... mùi gì ghê quá anh Khôi ơi... Giống mùi xác chết...

- Bụi vôi phân hủy với xác động vật gặm nhấm thôi - Tôi trấn an, cố giữ cho giọng mình bình thản nhất có thể dù chính lồng ngực tôi cũng đang co thắt vì ngạt thở - Vào nhanh, hành lang ngoài này thấp trần và đọng khí metan, đứng lâu là trúng độc đấy.

Tôi bước qua ngưỡng cửa đầu tiên, giơ đèn pin quét một vòng quanh căn phòng.

Đây là một không gian hình chữ nhật rộng chừng ba mươi mét vuông. Sàn nhà cao hơn mặt nước ngoài hành lang khoảng hai mươi phân, hoàn toàn khô ráo ngoại trừ những vệt ố vàng do nước ngấm từ trần xuống ở góc xa. Dọc theo bức tường đối diện cửa ra vào là hàng loạt tủ điều khiển điện cao áp đã bị tháo rỗng ruột, những bó dây cáp đồng bị cắt nham nhở trồi ra như những búi rễ cây khô. Ba máy bơm ly tâm cỡ lớn bằng gang đúc nằm sừng sững trên bệ máy giữa phòng, toàn thân phủ một lớp bụi dày xám xịt và những mảng dầu mỡ đóng bánh lâu năm.

- Hậu, tìm cái gì chặn cửa lại - Tôi bảo - Đừng đóng kín hoàn toàn, chừa một khe nhỏ để thông khí, nhưng phải cố định chặt không cho trượt ra ngoài.

Hậu nhìn quanh rồi bước tới góc phòng, nhấc một thanh ray thép gỉ dài hơn mét dùng làm đòn bẩy trước đây, chèn ngang giữa tay nắm cửa và gờ móng bê tông. Cánh cửa nặng trịch được cố định vững chắc, tạo cho chúng tôi một cảm giác an toàn tương đối sau hơn hai tiếng đồng hồ chạy trốn trong hoảng loạn.

Linh từ từ ngồi bệt xuống một bục gỗ kê máy đã mục, đặt ba lô máy ảnh xuống lòng. Đôi mắt cô lộ rõ vẻ kiệt sức, hai gò má tái nhợt dưới ánh sáng vàng nhờ nhờ của chiếc đèn pin. Tôi bước lại gần, ngồi xổm xuống trước mặt cô, mở nắp bi-đông nước mang theo đưa cho bạn gái:

- Uống một ngụm nhỏ thôi, tráng miệng cho đỡ đắng. Chúng ta an toàn rồi, ít nhất là trong căn phòng này.

Linh đón lấy bình nước bằng đôi tay vẫn còn run rẩy. Cô nhấp một ngụm rất nhỏ, ngước nhìn tôi, ánh mắt ẩn chứa vô vàn câu hỏi chưa dám cất thành lời:

- Khôi... chúng mình có ra ngoài được trước khi trời sáng không?

Tôi không trả lời ngay. Ánh mắt tôi lướt qua vẻ mặt hoang dại của Duy đang ngồi thu lu ở góc đối diện, rồi nhìn sang Hậu đang bặm môi kiểm tra lại các chốt định vị của thanh ray chặn cửa. Thực tế tàn nhẫn phơi bày trước mắt: công trình này không tuân theo bất kỳ bản vẽ hoàn công nào mà tôi từng tiếp cận. Cửa sập tự động, bức tường gạch bít kín lối đi chính, và cả cấu trúc lệch tầng của khu vực tầng hầm này đều mang dấu vết của một sự can thiệp có chủ đích.

- Có lối ra - Tôi nắm lấy bàn tay lạnh buốt của Linh, siết nhẹ - Các trạm bơm lớn luôn có hầm cáp dẫn ra hồ chứa hoặc đường ống xả tràn thông thẳng ra sườn đồi Thủy Bằng. Chỉ cần nghỉ ngơi mười lăm phút lấy lại sức, anh sẽ tìm thấy nó.

Duy nghe thấy thế thì ngẩng đầu lên, giọng nghẹn lại:

- Thật không anh? Đừng gạt em... Em không muốn chết ngạt ở cái xó này đâu...

- Tao bảo mày ngậm miệng lại cơ mà - Hậu quay lại lườm Duy - Muốn sống thì ngồi yên đấy mà dưỡng sức. Khôi nó là kiến trúc sư, nó rành mấy cái đường ống này hơn mày nhiều.

Để phân tán sự căng thẳng đang đè nặng lên các thành viên, tôi đứng dậy, cầm đèn pin bắt đầu rà soát kỹ lưỡng từng mét vuông của căn phòng kỹ thuật.

Căn phòng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép mác cao, tường dày ít nhất ba mươi phân nhằm cách âm cho các cụm máy bơm công suất lớn. Trần nhà không có dấu hiệu nứt vỡ nghiêm trọng, chỉ có vài vết rạn chân chim do co ngót vật liệu. Điều này cho thấy kết cấu chịu lực ở khu vực này vẫn còn rất ổn định, không có nguy cơ sập đổ tức thì như phần máng trượt lộ thiên ngoài trời.

Tôi đi vòng ra phía sau các tủ điện điều khiển. Nơi đây chất đống những chồng hồ sơ, tài liệu kỹ thuật nằm lăn lóc trên một chiếc bàn làm việc bằng gỗ dán đã bị mối xông rỗng ruột.

Tôi dùng đầu ngón tay lật giở vài tập giấy ẩm ướt bết dính vào nhau. Bụi giấy mục bay lên mù mịt, xộc vào họng ngai ngái. Đó là những bản nhật trình vận hành máy bơm từ tháng Hai năm 2004, những bảng chấm công của công nhân ca đêm, và một biên bản kiểm kê tài sản niêm phong dở dang ghi ngày 15 tháng 3 năm 2004 - thời điểm công viên nước Hồ Thủy Tiên chính thức dừng hoạt động do kinh doanh thua lỗ và sai phạm trong quản lý dự án.

Mọi con số, chữ ký, con dấu đỏ hình tròn của ban quản lý công viên thời kỳ đó đều mờ nhạt dần dưới những vệt mốc xanh xám. Mọi thứ trong căn phòng này dường như dừng lại đúng vào ngày cánh cổng công viên khép lại cách đây hơn hai thập kỷ.

Tôi bước tiếp về phía góc trong cùng của căn phòng, nơi ánh sáng đèn pin khó với tới nhất.

Ở góc này, sàn bê tông trũng xuống thành một hố thu nước nhỏ dùng để thoát nước rò rỉ từ các gioăng làm kín của trục máy bơm. Đống rác mục nát ở đây dày hơn, gồm những mảnh bạt dứa rách nát, vài vỏ bao xi măng cũ kỹ và một đống lá thông khô bị gió cuốn vào từ các cửa lấy gió thông hơi trên đỉnh trần.

Tôi giơ chân gạt nhẹ lớp bạt dứa mục sang một bên để kiểm tra xem bên dưới có nắp hố ga xả tràn hay không.

Cộp.

Mũi giày da chuyên dụng của tôi va phải một vật cản có độ đàn hồi kỳ lạ, không cứng như kim loại hay bê tông, cũng không mềm nhũn như lớp bùn rác phân hủy.

Tôi nheo mắt, hướng luồng sáng đèn pin thẳng xuống điểm vừa chạm.

Dưới lớp bạt nhựa rách bươm và mớ lá thông khô quắt queo, một khối vật chất màu xám tro lộ ra.

Tôi ngồi xổm xuống, dùng đầu ngón tay phủi lớp bụi vôi bám trên bề mặt vật cản.

Đó là một chiếc ba lô du lịch cỡ lớn bằng chất liệu vải dù bạt chống thấm, loại ba lô dã ngoại chuyên dụng dành cho dân du lịch bụi thường thấy vào cuối những năm hai nghìn. Thân ba lô đã bị rách bươm nhiều đường dọc theo các đường may, những sợi chỉ dù mục nát tưa ra như xơ mướp. Lớp vải màu rêu nguyên bản đã bị biến màu loang lổ bởi bùn đất khô cứng và những mảng nấm mốc trắng xóa bám chặt.

Chiếc ba lô này không thuộc về đợt đóng cửa công viên năm 2004. Thiết kế quai đeo có đệm mút chịu lực và các khóa bấm bằng nhựa kỹ thuật màu đen kia là sản phẩm của một giai đoạn muộn hơn rất nhiều.

Có người từng đến đây sau khi công viên đã hoàn toàn bị bỏ hoang.

Tim tôi đập mạnh hơn một nhịp. Tôi thận trọng gạt bỏ thêm một lớp lá mục xung quanh thân chiếc ba lô.

Ngay bên cạnh quai đeo rách nát, nửa chìm nửa nổi dưới lớp bụi vôi mịn, một vật kim loại nhỏ phản chiếu ánh sáng đèn pin lấp lánh. Tôi đưa tay nhặt nó lên.

Đó là một chiếc bật lửa gas cổ điển bằng kim loại mạ crom, loại bật lửa thân dẹt có nắp bật tanh tách rất thịnh hành vào khoảng năm 2008 đến 2010. Bề mặt vỏ kim loại đã bị oxy hóa tạo thành những chấm rỗ li ti, nhưng hoa văn hình ngọn lửa dập nổi trên thân vẫn còn nhận diện được. Tôi thử dùng ngón cái miết mạnh vào bánh xe đánh lửa. Bánh xe kẹt cứng do đá lửa đã tan rã thành bột trắng bên trong buồng đốt.

Tôi lia đèn pin xuống sâu hơn vào khe hở giữa chiếc ba lô và chân tường bê tông.

Một mảnh nhựa mỏng manh, vuông vức nằm chơ vơ trên mặt sàn khô khốc. Tôi nhặt nó lên bằng hai đầu ngón tay. Đó là vỏ của một chiếc bao cao su đã xé rách góc, lớp giấy bóng kim loại đã giòn vụn vì thời gian. Khi tôi vừa ấn nhẹ ngón tay để xem xét nhãn hiệu, lớp vỏ bao lập tức vỡ vụn thành từng mảnh nhỏ li ti như tàn tro, rơi lả tả qua kẽ tay xuống nền đất.

Dấu vết sinh hoạt của con người.

Một kẻ nào đó đã từng ngồi lại ở chính góc phòng tối tăm này, dựng lều hoặc trải bạt trú ẩn trong lòng công trình bỏ hoang.

- Khôi? Anh tìm thấy cái gì dưới đó thế? - Tiếng Hậu vọng lại từ phía cửa, kèm theo tiếng bước chân lội bì bõm tiến lại gần.

Tôi không trả lời ngay. Bàn tay tôi chạm vào chiếc khóa kéo chính của chiếc ba lô rách nát. Dây kéo bằng đồng đã bị gỉ xanh đóng chặt vào đường răng cưa, nhưng một bên mép vải đã bị cào rách toạc ra một khoảng trống dài bằng cả bàn tay.

Bên trong khoảng trống tối om ấy, lấp ló lớp bìa da sần sùi màu nâu sẫm của một cuốn sổ tay khổ vừa, được bọc cẩn thận trong một chiếc túi nylon ziplock đã ngả màu vàng đục.

Chương khác

Xem thêm