Công Viên Nước Hồ Thủy Tiên - Chương 12: Bước Chân Lạ Trên Trần Vữa

Túi nylon ziplock vàng đục dính chặt vào lớp bìa da sần sùi vì hơi ẩm và thời gian. Tôi giữ chặt các đầu ngón tay để không run rẩy, cẩn thận luồn đầu…

Nội dung chương

Túi nylon ziplock vàng đục dính chặt vào lớp bìa da sần sùi vì hơi ẩm và thời gian. Tôi giữ chặt các đầu ngón tay để không run rẩy, cẩn thận luồn đầu ngón tay cái vào mép rách của chiếc ba lô rách bươm, kéo bọc đồ ra ngoài nền xi măng.

Hậu bước dồn tới, chiếc đèn pin trên tay anh ta rọi luồng sáng gắt gao xuống khoảng đất trống giữa bốn người. Linh ngồi thụp xuống cạnh tôi, hơi thở của cô dồn dập phả vào vai áo tôi từng chặp ngắt quãng. Phía sau lưng, Duy đứng tựa hẳn vào vách tường rêu, hai bàn tay chắp chặt trước ngực, mắt trừng trừng nhìn vào bọc nylon bám đầy bụi đất khô khốc.

- Đồ của ai bỏ lại vậy anh? - Giọng Duy khàn đặc, vỡ ra thành từng mảnh vụn giữa không gian nồng nặc mùi bùn thối - Có... có xương người trong đó không?

- Câm họng lại - Hậu quát nhỏ, nhưng ánh mắt gã tài xế cũng không rời khỏi vật tôi vừa đặt xuống sàn - Mày không mở mồm gở miệng thì chết à?

Tôi không để tâm đến cuộc cãi vã của hai người. Mọi sự chú ý của tôi dồn cả vào lớp nhựa bọc ngoài. Tôi rút con dao gấp dã ngoại ra khỏi bao da bên hông, bấm nhẹ chốt mở lưỡi dao nhỏ sắc bén. Lớp nylon bên ngoài đã giòn vụn, vừa chạm mũi thép vào là nứt toác ra từng mảng con sâu, để lộ lớp bìa da thuộc màu nâu sẫm sần sùi. Bìa cuốn sổ dày bản, bốn góc bọc kim loại đã lên ten gỉ xanh rì, kích thước xấp xỉ khổ giấy A5.

Mùi ẩm mốc xộc thẳng vào mũi tôi. Đó là thứ mùi đặc trưng của giấy bồi bị ngâm nước lâu ngày trong môi trường kín khí, chua lợ và tanh nồng như mùi đất mục dưới lòng rãnh sâu.

Linh đưa ngón tay run rẩy chạm nhẹ vào góc bìa da:

- Cuốn sổ này... nằm ở đây bao lâu rồi anh?

- Bật lửa gas thân dẹt kia ngừng thịnh hành từ hơn mười năm trước - Tôi đáp, mắt quét qua dòng chữ chìm mờ nhạt dập ở gáy sổ - Chiếc ba lô cũng là mẫu dã ngoại của đợt 2008 hay 2009. Người này vào đây rất lâu sau khi công viên đóng cửa.

Tôi cẩn thận lật lớp bìa da nặng trịch sang một bên. Trang lót đầu tiên đã mủn nát phân nửa, bám chặt vào mặt trong của bìa. Những trang giấy tiếp theo dính bết vào nhau thành từng tảng cứng quắt do hơi nước đáy hồ ngấm qua bao mùa mưa lũ. Nếu giật mạnh tay bằng ngón, toàn bộ số giấy mủn này sẽ rách tả tơi thành bột vụn.

Tôi mở ngăn phụ của hộp đồ nghề đa năng, rút ra chiếc nhíp kẹp linh kiện nhỏ bằng thép không gỉ.

- Hậu, giữ đèn pin chếch bốn mươi lăm độ - Tôi ra lệnh, giọng trầm xuống hết mức để kiểm soát sự căng thẳng đang siết chặt lồng ngực - Đừng để ánh sáng phản chiếu trực tiếp vào mặt giấy ẩm, bóng lóa sẽ làm mờ nét mực.

Hậu gật đầu, hạ thấp cổ tay, giữ luồng sáng vàng ấm dừng lại trên bề mặt trang giấy đầu tiên còn nguyên vẹn.

Tôi dùng đầu nhíp mỏng manh nhẹ nhàng luồn vào khe hở nhỏ giữa hai mép giấy bết dính. Từng sợi xơ cellulose mục rữa phát ra những tiếng rạn rất khẽ, tanh tách như tiếng mọt nghiến gỗ mục trong đêm thanh vắng. Bụi giấy bay lên, hòa vào màn sương ẩm quẩn quanh mặt chúng tôi.

Trang giấy thứ hai từ từ tách rời.

Hiện ra dưới ánh đèn là một dòng chữ viết tay bằng bút bi xanh, nét chữ cứng cáp, nghiêng đều và vô cùng chuẩn xác. Cách kẻ lề, phân đoạn và tỉ lệ căn chỉnh khoảng cách chữ mang đậm phong cách của một người có thói quen vẽ kỹ thuật hoặc phác thảo kiến trúc.

Phía trên cùng góc phải, ngày tháng được ghi rõ ràng:

*17 tháng 3 năm 2009.*

Tròn mười lăm năm trước. Đúng vào những ngày cuối tuần ẩm ướt của tháng Ba xứ Huế.

Dòng chữ đầu tiên đập vào mắt tôi:

*"Tên tôi là Nguyễn Văn. Tôi là kiến trúc sư cảnh quan độc hành. Tôi vào khu du lịch Hồ Thủy Tiên theo một đường mòn băng qua rừng thông phía Thủy Bằng để khảo sát thực địa kết cấu chịu lực của công trình tượng rồng trước khi nó bị thời gian san phẳng hoàn toàn."*

Tôi nín thở đọc tiếp. Văn mô tả tỉ mỉ hành trình của anh ta khi tiến vào công viên. Những quan sát ban đầu mang tính khoa học thuần túy: độ lún của nền móng nhân tạo giữa lòng hồ, sự xâm thực của rêu phong trên lớp vữa xi măng mác thấp, hệ thống khung dầm cốt thép tạo hình thân rồng cuộn quanh khối thủy cung ba tầng.

- Anh ta là đồng nghiệp của anh à? - Linh ghé sát mắt nhìn vào những nét vẽ mặt cắt ngang của sảnh đón tiếp hình tròn - Nét vẽ mặt bằng này... giống hệt bản vẽ tay anh mang theo.

- Đúng vậy - Tôi đáp, đầu nhíp vẫn cẩn trọng lách qua lớp bết dính để lật sang trang thứ tư - Anh ta là dân chuyên nghiệp. Nhìn cách đánh dấu tim trục và ký hiệu vật liệu là nhận ra ngay.

Tôi lật tiếp hai trang nữa. Mục tiêu của tôi rất rõ ràng: tìm kiếm bất kỳ sơ đồ phác thảo nào về hệ thống thoát hiểm ngầm mà Văn có thể đã đo đạc hoặc ghi chép lại. Một kiến trúc sư khi khảo sát công trình bỏ hoang sẽ luôn có thói quen tìm lối thoát khẩn cấp và định vị các trạm kỹ thuật. Nếu căn phòng máy bơm ngầm này có đường ống xả cặn hoặc cửa cống ngầm thông thẳng ra chân đập tràn phía ngoài hồ, Văn nhất định đã vẽ nó ra giấy.

Và tôi đã tìm thấy một phần của nó.

Ở trang thứ sáu, Văn phác thảo một sơ đồ mặt bằng kỹ thuật tầng hầm bằng mực đen. Đường nét mạch lạc, chú thích chi tiết từng van khóa đường ống phi 200, các bể lọc cát thô và hành lang kỹ thuật ngầm chạy luồn dưới bụng rồng.

- Đây rồi - Hậu chỉ ngón tay to bè vào góc sơ đồ - Có một đường cống thoát nước ngầm dẫn thẳng ra mép rừng thông phía sau lưng quả đồi!

- Bình tĩnh, nhìn kỹ lại đi - Tôi giữ tay Hậu lại, chỉ vào một vệt gạch chéo đậm màu vẽ đè lên đoạn hành lang đó - Văn đã ghi chú ở bên cạnh: Cửa xả cặn đã bị sạt lở đất đá vùi lấp từ trận lụt năm 2006. Đoạn cuối ngập hoàn toàn trong bùn sét, áp lực nước bên ngoài quá lớn, không thể phá thông từ phía trong.

Hy vọng vừa lóe lên trong mắt Hậu lập tức tắt ngấm. Gã tài xế thở hắt ra một hơi cay đắng, răng nghiến chặt ken két:

- Mẹ kiếp, thế là đường này cũng tắc à?

- Chưa chắc - Tôi nói khẽ - Vẫn còn các nhánh thông gió và hành lang vận hành phụ. Để tôi đọc tiếp.

Tôi dùng nhíp tách tiếp trang số chín. Bắt đầu từ trang này, chất lượng giấy có sự thay đổi rõ rệt. Những giọt nước khô cứng đọng lại thành từng quầng ố vàng tròn xoe trên mặt giấy, làm nhòe nhoẹt những dòng chữ mực xanh.

Và phong cách chữ viết cũng bắt đầu biến dạng một cách bất thường.

Những nét chữ thẳng thớm, ngay ngắn của một người làm kỹ thuật dần dần biến mất. Thay vào đó là những nét chữ nguệch ngoạc, xiêu vẹo, nét bút ấn sâu vào thớ giấy đến mức làm rách toạc cả lớp bột bề mặt.

*19 tháng 3 năm 2009.*

*"Tôi không ra ngoài được nữa. Cánh cửa sắt dẫn vào miệng rồng đã chốt chặt từ phía ngoài. Không, không phải có người khóa nó. Bản lề tự uốn cong lại dưới sức ép nào đó từ khung bê tông. Tôi đã dùng búa tạ gõ vào vách suốt sáu tiếng đồng hồ nhưng bê tông dày đến bốn mươi centimet. Không có tiếng vọng trả lời từ bên ngoài. Rừng thông im lặng tuyệt đối."*

Duy nuốt nước bọt ừng ực. Thằng bé lùi thêm một bước nữa, lưng dán chặt vào mảng rêu trơn nhẫy trên tường:

- Cửa tự chốt... Giống hệt chúng ta... Mười lăm năm trước anh ta cũng bị nhốt y hệt như chúng ta chiều nay...

- Đọc tiếp đi Khôi - Linh siết chặt lấy cánh tay tôi, móng tay cô găm sâu qua lớp áo khoác gió - Đừng dừng lại. Xem anh ta có tìm được lối nào khác không!

Tôi cắn chặt môi dưới, cẩn thận dùng lưỡi dao gảy mép giấy trang mười một. Trang giấy này dính bệt vào trang sau bởi một vệt chất lỏng khô đen, màu sắc giống hệt vết máu khô lâu ngày. Tôi phải tốn gần hai phút mới tách được hai mặt giấy ra mà không làm rách nát phần văn bản bên trong.

Nét chữ trên trang mười một đã hoàn toàn mất đi kiểm soát. Đó là những vệt cào cấu điên dại. Đầu bút bi dường như bị đè gãy bi trượt, tạo nên những đường cày xước thô bạo trên nền giấy ố vàng.

*"Nó không phải là một đống bê tông chết.* *Đêm hôm qua, lúc hai giờ sáng, khi pin đèn bắt đầu yếu dần, tôi nghe thấy tiếng tim đập.* *Không phải tiếng nhịp tim của tôi. Tiếng đập trầm đục, dội lên từ những khối móng ngầm cắm sâu dưới đáy bùn hồ Thủy Tiên. Thịch... thịch... thịch... Mỗi nhịp đập, nước trong các đường ống gỉ sét lại co giật một lần. Những con cá chết khô trong bể nuôi từ năm 2004... mắt chúng bắt đầu đảo qua đảo lại."*

- Thằng cha này phát điên rồi - Hậu lẩm bẩm, trán túa ra những giọt mồ hôi hột dù nhiệt độ trong phòng kỹ thuật đang lạnh buốt - Ở một mình trong bóng tối vài ngày là thần kinh sinh ra ảo giác ngay.

Tôi không đáp lời Hậu. Bản năng của một người từng trải qua nhiều đêm trong các phế tích mách bảo tôi rằng sự điên loạn của con người trong hoàn cảnh cô lập luôn bắt nguồn từ một tác nhân có thật. Khi các giác quan bị tước đoạt ánh sáng, bộ não sẽ khuếch đại mọi rung chấn vi mô thành những cơn ác mộng cụ thể.

Nhưng những chi tiết Văn miêu tả tiếp theo không hề mang tính chất của một cơn hoang tưởng đơn thuần.

Anh ta ghi lại sự thay đổi về kích thước của các lối đi:

*"Trang 14. Ngày thứ tư.* *Hành lang nối giữa sảnh tròn và phòng máy bơm đang ngắn lại. Hôm qua tôi đếm được bốn mươi hai bước chân từ chân cầu thang xoắn đến khúc quanh đầu tiên. Chiều nay tôi đo lại, chỉ còn ba mươi mốt bước. Vách tường bê tông đang phồng lên. Lớp sơn chống thấm màu xanh rêu bong tróc để lộ ra những đường gân màu xám tro ngoằn ngoèo như mạch máu. Tôi ngửi thấy mùi tanh của lòng hồ xộc vào từng kẽ răng."*

Một cơn ớn lạnh chạy dọc từ thắt lưng lên đến đỉnh đầu tôi.

Bốn mươi hai bước chân.

Lúc nãy, khi dẫn nhóm chạy trốn khỏi sảnh tròn sau khi cánh cửa sắt sập xuống, tôi cũng đã theo thói quen nghề nghiệp đếm từng nhịp bước chân của mình trong lối ngách hẹp dốc thoai thoải. Con số tôi ghi nhận lúc đó là ba mươi ba bước.

Lối đi đó ngắn hơn so với cấu trúc hình học tiêu chuẩn của một sảnh đón tiếp công viên nước đường kính hai mươi mét. Bề dày của các khối móng bê tông không thể tự co giãn theo logic cơ học, trừ khi toàn bộ khối kết cấu này đang dịch chuyển trên nền đất trượt của đáy hồ.

- Khôi... nhìn trang này đi - Giọng Linh run lên bần bật, cô chỉ ngón tay vào trang giấy áp chót.

Đó là trang số mười bảy.

Mặt giấy này không còn những sơ đồ kỹ thuật vuông vức hay những dòng nhật trình theo ngày tháng nữa. Toàn bộ trang giấy được phủ kín bởi những nét vẽ chì đen đặc, đè chồng chéo lên nhau thành một mớ bòng bong hỗn loạn.

Ở giữa trang giấy, Văn vẽ lại chính căn phòng kỹ thuật ngầm mà chúng tôi đang đứng.

Từng chi tiết được tái hiện với độ chính xác đến rợn người: chiếc máy bơm cao áp gỉ sét với bánh đà khổng lồ nằm nghiêng ở góc phòng; dãy tủ điện điều khiển mục nát với những cánh cửa sắt mở toang; đường ống xả cặn phi 200 chạy ngang trên đỉnh đầu; và cái hố thu nước trũng xuống ở góc tường, nơi tôi vừa tìm thấy chiếc ba lô rách nát của anh ta.

Nhưng điều làm tôi chết trân tại chỗ không phải là bức vẽ căn phòng.

Mà là những hình bóng được vẽ trên bức tường xi măng phía sau chiếc máy bơm.

Trên bức vẽ phác thảo bằng nét chì than lem luốc, Văn vẽ bốn cái bóng đen gầy guộc in dài trên nền tường ẩm mốc. Bốn cái bóng đứng sát bên nhau dưới một nguồn sáng duy nhất đặt dưới mặt sàn. Cái bóng đầu tiên cao lớn, tay cầm một thanh kim loại dài; cái bóng thứ hai nhỏ nhắn, nép sát vào cái bóng thứ ba đang cúi gập người soi đèn xuống đất; và cái bóng thứ tư đứng co ro tách biệt ở mép ngoài cùng của góc tường, hai tay ôm chặt lấy đầu.

Hậu, Linh, Tôi, và Duy.

Bốn hình bóng được phác họa chính xác đến từng tư thế đứng, từng tỷ lệ cơ thể và vị trí tương đối giữa các thành viên trong căn phòng này ngay lúc này.

Bàn tay tôi cầm nhíp cứng đờ lại. Không khí xung quanh đặc quánh đến mức khó thở, tiếng quạt gió rít trên trần nhà dường như vừa ngừng bặt, nhường chỗ cho sự tĩnh lặng chết chóc bao trùm lấy bốn bề bê tông.

Duy nhìn thấy bức vẽ. Đôi mắt thằng bé trợn ngược lên, lòng trắng dại đi vì kinh hãi tột độ:

- Đó... đó là chúng ta! Bốn cái bóng đó là chúng ta! Tại sao anh ta lại vẽ chúng ta từ mười lăm năm trước?

- Mày im mồm ngay! - Hậu gầm lên một tiếng khàn đục, nhưng chính bàn tay đang cầm đèn pin của anh ta cũng bắt đầu run rẩy dữ dội, khiến quầng sáng vàng vọt trên mặt giấy chao đảo liên hồi - Trùng hợp thôi! Chỉ là bốn cái bóng ngẫu nhiên của mấy người công nhân thời đó thôi!

- Công nhân không mang máy ảnh cơ đeo cổ như cái bóng này! - Linh thốt lên, ngón tay cô run rẩy chỉ vào cái bóng thứ ba trên trang vẽ - Nhìn đi Hậu! Cái bóng đó đeo một chiếc máy ảnh có ống kính dài trước ngực! Đó là máy ảnh của Khôi!

Cổ họng tôi khô khốc như vừa nuốt phải một nắm cát nóng. Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt cay xè, cố gắng dùng nhíp lật nốt trang giấy cuối cùng dính chặt bên dưới.

Trang mười tám. Trang viết cuối cùng của cuốn sổ trước khi toàn bộ phần giấy còn lại bị mục rữa thành một khối bột xám xịt dính liền vào bìa sau.

Trên trang giấy này, nét mực không còn màu xanh nữa.

Đó là những dòng chữ màu nâu sẫm, khô ráp và nứt nẻ, được viết bằng một vật nhọn chấm vào máu tươi. Nét chữ run rẩy đến mức từng ký tự như đang co giật trên mặt giấy ẩm ướt.

Chỉ có hai câu duy nhất, nằm trơ trọi giữa trang giấy trắng loang lổ vết nấm mốc đen:

*"Tháng Ba sẽ lặp lại chu kỳ của nó.* *Bốn người... họ sẽ lại bước vào miệng nó để nộp mạng cho đáy hồ."*

Gió từ cửa lấy hơi trên trần thốc xuống một luồng buốt giá, tạt thẳng vào gáy tôi từng đợt lạnh toát. Mùi bùn đáy hồ xộc lên nồng nặc, tanh nồng và đặc quánh như thể có hàng ngàn khối bùn nhão vừa tràn qua các khe nứt bê tông để bao vây lấy căn phòng ngầm.

Keng!

Âm thanh sắc lạnh của kim loại va chạm lại vang lên từ sâu bên trong đường ống xả cặn phi 200 treo trên đỉnh đầu chúng tôi. Lần này, tiếng động không dừng lại ở một nhịp duy nhất. Nó bắt đầu kéo dài thành một chuỗi âm thanh ken két, chói tai như tiếng móng tay kim loại cào dọc theo bề mặt rỉ sét bên trong lòng ống.

Tia sáng đèn pin của Hậu chớp tắt liên hồi ba nhịp, rồi luồng sáng tụt hẳn xuống thành một chấm đỏ quạch leo lét giữa bóng đêm dày đặc.

Chương khác

Xem thêm