Công Viên Nước Hồ Thủy Tiên - Chương 5: Dấu Vết Của Người Đến Trước

Tiếng tôn rỉ sét va đập trên vòm họng rồng dứt hẳn, để lại một khoảng lặng buốt giá bao trùm lấy sảnh đón tầng một. Lớp bụi vôi trắng đục lơ lửng trong…

Nội dung chương

Tiếng tôn rỉ sét va đập trên vòm họng rồng dứt hẳn, để lại một khoảng lặng buốt giá bao trùm lấy sảnh đón tầng một. Lớp bụi vôi trắng đục lơ lửng trong không khí dần lắng xuống, phủ một lớp mỏng lên áo khoác và ba lô của bốn người chúng tôi.

Tôi hạ chùm đèn pin xuống, hướng luồng sáng về phía quầy thu ngân cũ nằm ép sát bờ tường bê tông bên phải. Mặt quầy ốp gỗ dán đã phồng rộp, nứt toác thành từng mảng lớn vì ẩm mốc qua hai thập kỷ phơi mình giữa đầm nước.

- Duy, ngồi xuống đây - Hậu đặt ba lô của mình lên mặt quầy đầy bụi, cất giọng trầm đục - Đưa chân tao coi thử.

Duy vịn vào bờ tường lở loét, lê từng bước tập tễnh tới mép bậc thềm thấp bên cạnh quầy vé. Cậu ta ngồi bệt xuống, gương mặt tái mét cắt không còn giọt máu dưới ánh đèn pha trắng bệch. Bàn tay cậu ta run lẩy bẩy khi kéo ống quần jean lên, để lộ phần mắt cá chân đã bắt đầu ửng đỏ và sưng mọng.

- Bong gân rồi - Hậu quỳ một gối xuống sàn, ngón tay thô ráp ấn nhẹ vào khớp mắt cá của Duy - Xương không gãy. Cố chịu đau một chút, tao quấn băng thun ép lại cho đỡ phù.

Duy cắn chặt môi, rên lên một tiếng nghẹn ngào khi Hậu bắt đầu siết chặt các vòng băng y tế. Để xua đi sự sợ hãi đang bóp nghẹt bầu không khí, Duy ngước mắt nhìn quanh những mảng tường loang lổ rêu mốc rồi cố gượng cười:

- Ban nãy... ban nãy chắc là có con cú mèo hay con dơi khổng lồ nào đâm vào mái tôn thôi đúng không anh Khôi? Hoặc là dầm thép giãn nở vì lạnh. Trong mấy phim tài liệu thám hiểm, các tòa nhà bỏ hoang ban đêm hay phát ra tiếng kêu rắc rắc kiểu đó lắm.

- Nói đúng rồi đấy nhóc - Hậu vừa thắt nút cuộn băng thun vừa chêm vào bằng giọng chế giễu quen thuộc - Chắc cú mèo ở Huế này nặng cỡ tạ rưỡi, sải cánh rộng năm mét nên mới đủ sức đạp rung chuyển cả cái miệng rồng bê tông cốt thép. Hoặc là có con trăn gấm nào đó đang trườn trên trần nhà tìm mồi, nó thấy mày béo tốt nên gõ cửa chào hỏi trước.

- Anh Hậu thôi đi! - Linh lên tiếng cắt ngang, giọng cô hơi gắt - Duy nó đang hoảng, anh đừng thêm dầu vào lửa nữa.

Linh đứng tựa lưng vào một cột trụ chịu lực, ngón tay bồn chồn mân mê nắp ống kính máy ảnh. Tôi tiến lại gần, đặt tay lên vai cô để truyền chút hơi ấm. Bàn tay Linh lạnh ngắt dù cô đang mặc áo gió hai lớp.

- Cấu trúc ở đây hoàn toàn vững - Tôi cất lời, cố giữ cho tông giọng của mình đều đặn và chắc nịch nhất có thể - Toàn bộ công trình thủy cung này được thi công vào giai đoạn cuối những năm 1990 và hoàn thành năm 2004. Phần thân rồng cuộn quanh khối nhà tròn trung tâm thực chất là hệ khung dầm console vươn ra từ lõi bê tông chính. Gió ngoài hồ dù lặng nhưng vùng đồi thông Thủy Bằng có hiện tượng túi khí lạnh cục bộ. Chênh lệch áp suất giữa lòng rỗng bên trong bụng rồng và mặt hồ phẳng lặng bên ngoài sẽ tạo ra lực hút cưỡng bức qua các khe hở của mái tôn. Nó hoạt động giống hệt một cái còi hơi khổng lồ, tạo rung chấn cơ học lên các thanh xà gồ rỉ mục. Không có sinh vật nào làm được chuyện đó đâu.

Tôi nói một tràng dài bằng những thuật ngữ chuyên ngành kiến trúc, tuôn ra hết những lý lẽ cơ học mà tôi từng học ở trường đại học. Tôi cần những khái niệm duy lý ấy. Tôi cần chúng để đè bẹp sự ớn lạnh đang chực chờ bùng lên sau gáy mình, nơi bóng tối sâu thẳm của hành lang tầng một đang mở ra như một cái dạ dày không đáy.

Từ nhỏ, bóng tối đối với tôi luôn là một khoảng trống chứa đầy sự đe dọa. Khi ánh sáng biến mất, các chiều không gian sẽ bị bóp méo, và tâm trí con người bắt đầu tự lấp đầy những khoảng đen đó bằng những hình dung tệ hại nhất. Nhưng tôi là trưởng nhóm. Tôi là người vạch ra lộ trình chuyến đi này. Tôi không được phép để lộ sự bất an trước mặt Linh và hai người còn lại.

- Bản vẽ sơ bộ anh in từ ảnh chụp vệ tinh cho thấy thủy cung có ba tầng - Tôi lôi tấm bản đồ đã gấp nếp từ túi áo ngực ra, trải lên mặt phẳng tương đối sạch của quầy vé - Tầng một là khu bể cá nước ngọt và phòng kỹ thuật máy bơm. Tầng hai là hành lang trưng bày sinh vật biển. Tầng ba dẫn thẳng lên các khoang sườn rồng và có cầu thang sắt đi xuyên qua khí quản để lên đài quan sát ở mắt rồng. Lối ra duy nhất ở tầng trệt nối với bờ kè đá ban nãy đã bị kẹt cứng bởi các tấm tôn sập, nhưng ở tầng ba có một ban công thoát hiểm lộ thiên nhìn xuống đuôi rồng. Từ đó chúng ta có thể dùng dây dù tụt xuống bờ đập đất phía sau.

- Nghĩa là chúng ta phải leo lên trên? - Duy hỏi, giọng vẫn chưa hết run.

- Đúng. Chúng ta phải tìm cầu thang trung tâm dẫn lên tầng hai và tầng ba - Tôi gập bản đồ lại - Đứng chôn chân ở sảnh đón này không giải quyết được gì. Không khí ở đây rất ngột ngạt vì thiếu thông gió, để lâu sẽ tích tụ khí mê-tan từ bùn đáy hồ rỉ lên.

Hậu đứng dậy, phủi bụi bám trên đầu gối quần rằn ri, với tay lấy chiếc xà bén bọc cao su cắm bên hông ba lô:

- Nhất trí. Càng lên cao càng thoáng khí. Khôi đi trước soi đường, tao đi bọc hậu hỗ trợ thằng Duy. Linh đi giữa, có gì cứ bám chặt lấy áo thằng Khôi.

Tôi bật chế độ chiếu xa của chiếc đèn pin đội đầu, đồng thời cầm thêm một cây đèn pin cầm tay công suất lớn. Luồng sáng trắng xé toạc màn đêm đặc quánh của sảnh tầng một, quét qua bức tường quét vôi xanh dương đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ lớp gạch nung đỏ rực lở loét bên trong.

Hành lang tầng một rộng chừng bốn mét, uốn cong theo chu vi hình tròn của tòa nhà thủy cung. Dưới sàn nhà, lớp gạch men màu trắng đục bị phủ kín bởi một lớp bùn khô và bụi bặm dày cộp. Rác thải của những kẻ đột nhập trước đó vương vãi khắp nơi dọc theo mép tường.

Tôi bước chầm chậm, mũi giày da thám hiểm dẫm lên những mảnh vụn phát ra tiếng lạo xạo khô khốc.

Mỗi bước đi, tôi đều cố tình soi kỹ từng vật thể nằm dưới chân để đánh giá mức độ an toàn của nền sàn. Đa phần là rác thải sinh hoạt quen thuộc của dân phượt và những người trẻ tuổi hiếu kỳ từng lẻn vào đây suốt mười mấy năm qua: những vỏ lon nước ngọt bằng nhôm đã bị oxy hóa đen sì, nhãn mác nước tăng lực đã bạc màu không còn đọc rõ chữ, những mẩu thuốc lá mục nát trương phình vì hơi ẩm, và cả vài vỏ bao cao su đã biến chất thành những màng cao su dính chặt vào kẽ gạch.

- Xem ra nơi này từng là tụ điểm đập phá lý tưởng đấy chứ - Duy lí nhí nói sau lưng tôi, bước chân cậu ta khập khiễng nhưng đã bớt run rẩy hơn - Em thấy trên mạng người ta đồn công viên này bị ma ám nên dân địa phương không ai dám bén mảng tới. Toàn chuyện thêu dệt dọa trẻ con. Nhìn đống rác này thì thấy người ta vào đây tụ tập suốt.

- Đó là chuyện của năm mười năm trước rồi cu - Hậu cất giọng lạnh tanh từ phía sau - Mày nhìn kỹ cái vỏ lon nước ngọt dưới chân mày đi. Loại nắp giật kiểu cũ kia bị nhà sản xuất khai tử từ năm 2012 rồi. Còn mấy cái vỏ bao bì bim bim kia là mẫu từ đời nào rồi. Mười năm nay chính quyền rào kẽm gai gắt gao, bảo vệ cấm tiệt người vào sau mấy vụ du khách nước ngoài ngã gãy chân ở máng trượt. Bụi ở đây đóng dày cả đốt ngón tay, chứng tỏ rất lâu rồi không có ai đặt chân vào sâu tới tận chỗ này đâu.

Lời giải thích của Hậu làm Duy im bặt. Bầu không khí lại rơi vào im lặng, chỉ có tiếng bước chân lê thê của chúng tôi và tiếng giọt nước rỉ đều đặn từ trần nhà vọng lại.

Tỏng. Tỏng.

Tiếng nước nhỏ giọt như một chiếc đồng hồ vô hình gõ nhịp trong không gian kín mít. Mùi ẩm mốc của rêu phong, mùi xi măng phân rã và mùi tanh ngai ngái của nước hồ tù đọng quyện vào nhau, đặc quánh đến mức khiến cuống họng tôi có cảm giác lạo xạo như đang nuốt phải bụi mịn.

Tôi rọi đèn về phía trước. Cách chúng tôi khoảng mười mét, hành lang bắt đầu phân nhánh. Một lối rẽ uốn cong sang trái với tấm biển kim loại rỉ sét treo lủng lẳng bằng một sợi dây xích đơn độc: "KHU TRƯNG BÀY BỂ CÁ NƯỚC NGỌT VÀ THỦY QUÁI MÊ KÔNG". Lối đi thẳng phía trước thì dẫn về một khoảng không gian tối sầm, nơi có một gầm cầu thang bê tông đổ dốc lên tầng trên nhưng đã bị một đống dầm gỗ mục và lưới thép rỉ chặn ngang một phần.

- Lối lên tầng hai ở đằng kia - Tôi chỉ luồng sáng về phía chân cầu thang - Nhưng bị sập một phần lan can. Chúng ta phải dọn bớt mấy thanh gỗ mục mới chui qua được.

- Để tao xử lý cho - Hậu bước vượt lên trước tôi hai bước, tay lăm lăm cây xà bén - Mấy thanh gỗ ngâm nước lâu năm này giòn lắm, gõ nhẹ là gãy. Khôi soi đèn vào góc chiếu nghỉ cầu thang xem kết cấu chịu lực bên trên có dấu hiệu nứt toác không.

Tôi nâng cao đèn pin, hướng chùm sáng quét dọc theo các bậc thang bê tông trần xám xịt dẫn lên chiếu nghỉ tầng hai. Bê tông có vài vết nứt chân chim do co ngót nhiệt, nhưng cốt thép bên trong dường như vẫn giữ được tính toàn vẹn. Không có dấu hiệu sạt lở kết cấu chính.

Đúng lúc tôi chuẩn bị quay sang bảo Hậu tiến hành dọn dẹp lối đi, thì Hậu đột nhiên khựng lại.

Cả người anh ta bất động ngay trước đống rác mục dưới chân gầm cầu thang.

- Có chuyện gì thế anh Hậu? - Linh khẽ hỏi, tay cô vô thức nắm lấy vạt áo tôi.

Hậu không trả lời ngay. Anh ta từ từ cúi thấp người xuống, chĩa luồng sáng từ chiếc đèn pin đeo trán vào một góc khuất nằm giữa hai thanh dầm gỗ gãy. Ở đó có một chiếc thùng các-tông rách nát, bên cạnh là một đống vỏ chai nhựa méo mó.

Hậu dùng đầu nhọn của cây xà bén gạt nhẹ một lớp bao ni-lông mốc meo sang một bên. Đầu kim loại va vào một vật thể cứng, phát ra một tiếng "cạch" rất đanh và dứt khoát.

Đó không phải là tiếng của đồ nhựa giòn hay thủy tinh phong hóa lâu ngày.

Hậu thò tay xuống, nhặt vật đó lên.

Dưới ánh sáng hội tụ của ba chiếc đèn pin, vật thể nằm gọn trong lòng bàn tay đầy sẹo của Hậu hiện ra rõ mồn một.

Đó là một chiếc bật lửa gas bằng nhựa màu xanh lục trong suốt.

Duy thở phào một tiếng:

- Lại thêm một cái bật lửa của mấy ông phượt thủ vứt lại thôi mà. Em bảo rồi, rác ở đây thiếu gì...

- Câm miệng và nhìn cho kỹ đi - Hậu gắt lên, giọng anh ta đanh lại một cách bất thường, chứa đựng một sự căng thẳng tột độ mà từ lúc vào công viên tới giờ tôi mới thấy lần đầu.

Hậu giơ chiếc bật lửa lên ngang tầm mắt tôi.

Tôi ghé sát mắt nhìn. Lồng ngực tôi thắt lại.

Vỏ nhựa của chiếc bật lửa không hề có một vết xước dăm hay dấu hiệu phong hóa nào của thời gian. Nó hoàn toàn bóng loáng, không hề bị phủ bởi lớp bụi vôi hay màng ẩm mốc đang bám dày trên mọi đồ vật xung quanh. Mực in trên thân bật lửa vẫn còn tươi nguyên dòng chữ màu vàng sắc nét: "Tạp hóa Út Lan - Ngã ba Thủy Bằng".

Bên trong thân nhựa trong suốt, dung dịch gas lỏng vẫn còn đầy ắp tới hơn ba phần tư, sánh qua sánh lại theo từng cử động của bàn tay Hậu.

Hậu đưa ngón tay cái đặt lên bánh xe mài lửa.

Xoẹt!

Một tia lửa vàng cam bùng lên rực rỡ, chiếu sáng khuôn mặt góc cạnh đầy mồ hôi của Hậu và đôi mắt mở to kinh ngạc của tôi. Ngọn lửa cháy đều đặn, ấm nóng, tỏa ra mùi gas cháy nồng nặc lấn át mùi bùn đất ẩm mốc chung quanh.

Một chiếc bật lửa còn đầy nguyên nhiên liệu, bánh xe đánh lửa trơn tru không một hạt rỉ sét, nằm giữa một đống rác mục nát của công trình đã bỏ hoang hai mươi năm.

Hậu buông tay, ngọn lửa phụt tắt. Nhưng sự kinh hãi không hề tắt theo nó.

- Chưa hết đâu - Hậu hạ thấp giọng, anh ta đưa mũi lại gần đống rác mục, rồi chỉ tay xuống một mảnh gạch men vỡ ngay sát chân tường.

Tôi rọi luồng sáng cực đại của đèn pin cầm tay vào điểm Hậu vừa chỉ.

Nằm trên mảnh gạch men xám xịt là một mẩu đầu lọc thuốc lá hiệu White Horse.

Mẩu đầu lọc không hề bị ướt sũng hay nát vụn vì hơi ẩm của lòng hồ. Lớp giấy bọc ngoài chỉ hơi nhăn lại. Đỉnh của mẩu thuốc lá vẫn còn một lớp tro xám mịn màng, chưa hề bị nước rỉ từ trần nhà làm tan biến.

Và tệ hơn tất cả mọi suy đoán duy lý của tôi: từ mẩu tàn thuốc đó, một làn khói mỏng manh gần như vô hình vẫn đang lơ lửng bốc lên trong không khí tĩnh mịch, mang theo mùi khét đắng của lá thuốc lá vừa mới tàn cách đây chưa đầy vài phút.

- Mùi thuốc lá... - Linh thì thầm, giọng cô run lên bần bật. Cô đưa tay lên bịt mũi, mắt dán chặt vào làn khói mỏng đang tan dần vào bóng tối - Vẫn còn mùi thuốc lá tươi.

Cả bốn chúng tôi đồng loạt nín thở.

Sự im lặng tuyệt đối lại ập xuống, lần này nặng nề và ngột ngạt như một khối chì đè nén lên buồng phổi.

Chiếc bật lửa không phải của một kẻ đột nhập từ mười năm trước. Mẩu thuốc lá kia cũng không phải là tàn tích của một chuyến thám hiểm trong quá khứ.

Có một người nào đó - hoặc một thứ gì đó biết dùng bật lửa - đã ngồi ngay tại góc chân cầu thang này, rít một điếu thuốc trong bóng tối, ngay trước khi chúng tôi bước chân vào sảnh đón.

Người đó đã nghe thấy tiếng chúng tôi gào thét ngoài bờ kè. Người đó đã chứng kiến chúng tôi chật vật chui qua vòm họng rồng. Và khi chúng tôi bước vào, người đó chỉ vừa mới vội vã dập tắt điếu thuốc, bỏ lại chiếc bật lửa rồi lùi sâu hơn vào bóng tối của tòa nhà.

Gió từ đâu đó thổi luồn qua các kẽ nứt của vách tường, làm ngọn khói tàn thuốc mỏng manh khẽ chao đảo rồi tan biến hoàn toàn.

Tôi chầm chậm quay đầu lại, luồng đèn pin run rẩy quét một vòng từ chân cầu thang bị chặn sang nhánh hành lang tối om bên trái - nơi tấm biển rỉ sét "KHU TRƯNG BÀY BỂ CÁ NƯỚC NGỌT VÀ THỦY QUÁI MÊ KÔNG" vẫn đang khẽ đung đưa trên sợi xích sắt, phát ra những tiếng ken két khô khốc giữa bóng đêm đặc quánh.

Chương khác

Xem thêm