Cuộc Xe Đêm Quanh Hồ Xuân Hương - Chương 36: Lời dặn trong bệnh viện
Tôi đến bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng lúc trời vừa nhá nhem tối. Đà Lạt vào giữa tháng mười, sáu giờ chiều mà sương đã bắt đầu bò xuống từ những rặng thông…
Nội dung chương
Tôi đến bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng lúc trời vừa nhá nhem tối. Đà Lạt vào giữa tháng mười, sáu giờ chiều mà sương đã bắt đầu bò xuống từ những rặng thông phía đèo Prenn, trắng đục như khói, len qua từng kẽ lá. Hành lang bệnh viện vắng hoe, chỉ có mùi thuốc sát trùng và tiếng dép lê lẹp xẹp của mấy người nhà bệnh nhân đi mua cháo đêm. Tôi mang theo một túi cam sành mua ở chợ đêm hôm qua, loại cam mà ông Ba Thông vẫn hay bóc ăn mỗi lần ngồi chờ khách ở gốc thông ven hồ.
Phòng 304, khoa Thần kinh. Ông Ba Thông nằm trên giường sát cửa sổ, nửa người bên trái cứng đờ như khúc gỗ mục, nửa người bên phải thì co giật nhẹ mỗi khi ông cố cử động. Mới hai hôm trước ông còn ngồi vắt vẻo trên chiếc Dream cũ, miệng nhai trầu, tay phẩy phẩy đuổi mấy con muỗi chiều. Giờ nhìn ông, tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại.
- Ông Ba, con tới rồi nè.
Ông quay đầu sang, mắt vẫn sáng. Cái liệt chỉ lấy đi nửa thân người ông, chứ không lấy được cái nhìn sắc như dao cạo của một người đã chạy xe ôm quanh cái hồ này gần bốn chục năm.
- Thắng hả, ngồi đi. Cam thì để đó, lát ông nhờ cô y tá bóc.
Tôi kéo ghế ngồi xuống. Ngoài cửa sổ, sương mỗi lúc một dày. Từ tầng ba nhìn ra, cả thành phố như đang chìm dần xuống một cái chậu nước đục. Đèn đường vàng vọt, loang lổ.
- Đêm nay, - ông Ba Thông nói, giọng khàn đặc, - đêm nay là đêm gì, mày nhớ không?
- Dạ, đêm mười chín. Trăng non.
Ông gật đầu, chậm chạp như một cái máy đã rỉ sét.
- Trăng non, sương dày. Ba đêm sương đã qua, đêm nay không còn là đêm sương nữa. Đêm nay là đêm lập ấn, đêm trăng non sương dày nhất. Mày biết tại sao không?
Tôi lắc đầu. Trong sổ tay thầy Bảy Ấn có ghi một câu mà tôi vẫn chưa hiểu hết: "đêm trăng non sương dày, ma mạnh nhất". Tôi đã đọc đi đọc lại câu đó suốt hai ngày nay, như thể càng đọc thì chữ nghĩa càng trượt khỏi tay.
- Vì trăng non không có ánh sáng để xua sương, - ông Ba Thông thều thào. - Sương dày thì nó đi được xa hơn, hiện hình rõ hơn, tay nó dài hơn. Hai đêm trước nó chỉ dám lởn vởn quanh mép nước. Đêm nay, nó có thể bước lên tới tận bến đá cũ mà không tốn sức.
Tôi rùng mình. Bến đá cũ là nơi tôi và Lan đã chọn để lập ấn. Một bến đá bỏ hoang từ thời Pháp, nằm khuất sau rặng thông già phía đông hồ Xuân Hương, cách mặt nước chỉ vài bước chân. Theo lời ông Ba Thông kể, đó chính là chỗ thầy Bảy Ấn lập ấn cũ mười năm trước.
- Ông ơi, con hỏi thật, - tôi cúi sát xuống, - thầy Bảy lập ấn năm đó, có khó lắm không?
Ông Ba Thông im lặng một lúc lâu. Tiếng máy đo nhịp tim bên giường bên cạnh kêu tít tít đều đều. Ngoài hành lang, có tiếng ai đó khóc thút thít.
- Khó, - cuối cùng ông nói. - Khó đến mức thầy mất một cánh tay.
Tôi giật mình.
- Mất... mất tay?
- Tay trái. Lúc ấn gần thành, con ma da nó vùng lên, chụp lấy tay thầy mà kéo xuống nước. Thầy phải chặt đứt cánh tay mình mới thoát được. Từ đó về sau, người ta gọi thầy là Bảy Ấn, nhưng ít ai biết cái tên đó đổi bằng một cánh tay.
Ông nhìn tôi, ánh mắt nặng như đá.
- Mày liệu mà giữ tay, Thắng à. Đêm nay mày là người mang ấn. Nó biết. Nó đang chờ mày ở bến đá cũ.
Tôi nuốt nước bọt. Vết bầm hình bàn tay trên vai phải tôi từ đêm mười bảy đến giờ vẫn còn đó, mờ đi một chút nhưng mỗi khi sương xuống là nó lại nhức buốt, như có ai đó đang bóp chặt vai mình từ trong giấc mơ. Tôi kéo cổ áo xuống cho ông Ba Thông xem. Ông nhìn, rồi thở dài.
- Nó đánh dấu mày rồi. Mày là người nó chọn để thế mạng. Đêm nay mày đến bến đá, nó sẽ không để mày yên đâu.
- Con biết. Nhưng con không còn đường lui nữa, ông Ba ơi.
Tôi kể cho ông nghe kế hoạch. Chiều nay, Lan đã xin được giấy phép của pháp y để lấy mẫu da có hình xăm trên thi thể anh Quân, đem đốt thành tro ấn cũ. Băng cassette của thầy Bảy Ấn thì tôi đã nghe thuộc lòng từng chữ. Tối nay, đúng mười một giờ đêm, tôi và Lan sẽ ra bến đá cũ bày lễ. Tro ấn cũ, ba nén hương trầm, chiếc máy cassette cũ kỹ chạy bằng pin, và giấy tự nguyện hiến máu mà tôi đã viết sáng nay.
- Giấy tự nguyện? - ông Ba Thông nhíu mày.
- Dạ. Trong băng, thầy Bảy dặn đi dặn lại: "máu phải tự nguyện". Con nghĩ phải có giấy tờ đàng hoàng, có người làm chứng, thì mới tính là tự nguyện.
Ông Ba Thông lắc đầu, nhưng không nói gì thêm. Ông thò tay phải còn cử động được xuống dưới gối, mò mẫm một lúc rồi lôi ra một chuỗi hạt bồ đề đã ngả màu nâu sậm, bóng loáng vì được lần quá nhiều năm.
- Cái này của thầy Bảy để lại cho ông từ năm hai mươi. Thầy dặn, khi nào có người dám mang ấn mới thì đưa cho nó. Mày cầm lấy.
Tôi đón lấy chuỗi hạt. Hạt bồ đề mát lạnh trong lòng bàn tay, mỗi hạt đều có vân gỗ li ti như những con mắt nhỏ đang nhìn tôi.
- Đeo vào cổ tay trái. Đừng đeo tay phải. Tay phải đêm nay là của ấn, không phải của mày nữa.
Câu nói đó dội một luồng khí lạnh dọc sống lưng tôi. Tôi đeo chuỗi hạt vào cổ tay trái, hạt gỗ chạm vào da nghe lách cách khẽ.
- Ông Ba, - tôi hỏi, - nếu... nếu đêm nay con thất bại thì sao?
- Thì Đà Lạt này mỗi đêm sương lại có thêm một cuốc xe ma, - ông nói, giọng bình thản đến đáng sợ. - Và thằng Thắng này sẽ thành thằng Quân thứ hai, nằm dưới đáy hồ mà chờ người khác đến cứu. Mày muốn vậy không?
- Dạ không.
- Vậy thì nhớ kỹ ba điều thầy Bảy dặn trong băng. Một, tro phải rắc thành vòng kín, không được đứt quãng. Hai, hương không được tắt, tắt một nén là vòng lễ hở một chỗ. Ba...
Ông ngừng lại, ho một tràng dài. Cô y tá chạy vào, đỡ ông ngồi dậy vỗ lưng. Tôi đứng bật dậy, luống cuống không biết làm gì. Mãi một lúc ông mới thôi ho, mặt đỏ bừng, thở hổn hển.
- Ba, - ông tiếp tục, giọng yếu đi nhiều, - máu đổ vào lễ phải là máu còn ấm, máu của người đang đứng trong vòng lễ. Giấy tờ không tính. Thầy Bảy nói, ma nó không đọc được chữ người, nó chỉ đọc được máu.
Tôi sững người. Sáng nay tôi đã cẩn thận viết giấy tự nguyện, Lan ký làm chứng, còn photo ra hai bản. Tôi tưởng thế là chu đáo. Hóa ra...
- Nhưng trong băng thầy chỉ nói "máu phải tự nguyện"...
- Thì đó, - ông Ba Thông cười khẩy, - tự nguyện là chuyện của máu, không phải chuyện của giấy. Mày ký giấy lúc sáng, trong phòng kín, tay không run một cái. Đến đêm, đứng trước mặt nó, mày có dám rạch tay mình ra không? Cái đó mới gọi là tự nguyện.
Tôi im lặng. Ngoài cửa sổ, sương đã đặc đến mức không còn nhìn thấy đèn đường nữa. Cả thế giới ngoài kia chỉ còn một màu trắng đục.
- Còn một điều nữa, - ông Ba Thông nói nhỏ, như sợ ai nghe thấy. - Trong băng, đoạn cuối cùng, thầy Bảy có nói một câu mà ông nghe mãi mới hiểu. Thầy nói: "Nó không phân biệt được máu tự nguyện với máu bị ép."
- Nghĩa là sao ạ?
- Nghĩa là con ma da này nó ngu ở đúng chỗ đó. Nó không đọc được lòng người. Máu tự nguyện hay máu bị ép, với nó cũng chỉ là máu. Mày hiểu không? Cái điểm mù đó, nếu mày biết dùng, thì đêm nay mày sống. Không biết dùng, thì mày chết.
Tôi gật đầu, nhưng thật ra trong đầu tôi đang quay cuồng. Điểm mù. Máu tự nguyện. Vòng tro kín. Hương không tắt.
- Ông Ba, sao ông không đi cùng con? Ông biết nhiều như vậy...
- Ông đi bằng cái gì? - ông cười, vỗ vỗ nửa người liệt của mình. - Ông mà lết ra đến bến đá thì trời đã sáng, ma đã về, lễ đã tan. Đêm nay là đêm của mày và con bé Lan. Ông chỉ còn ngồi đây mà lần chuỗi hạt cầu cho hai đứa thôi.
Ông nhắm mắt lại, tay phải lần từng hạt bồ đề tưởng tượng. Tôi biết ông mệt rồi. Tôi đứng dậy, định chào về thì ông bỗng mở mắt, nắm chặt lấy cổ tay tôi bằng bàn tay phải còn khỏe.
- Thắng.
- Dạ.
- Thầy Bảy lập ấn mất một cánh tay. Mày liệu mà giữ tay.
Bàn tay ông run run, nhưng siết rất chặt. Tôi gật đầu, không nói được lời nào. Ra đến cửa, tôi quay lại nhìn ông lần nữa. Ông đã nhắm mắt, miệng mấp máy như đang đọc kinh. Trên tủ đầu giường, tấm ảnh thờ của thầy Bảy Ấn mà ông vẫn mang theo bên mình nghiêng nghiêng trong khung kính cũ. Người đàn ông trong ảnh mất một cánh tay trái, tay áo buông thõng, nhưng ánh mắt thì sắc như muốn xuyên qua cả màn sương ngoài cửa sổ.
Tôi bước ra hành lang, sương lạnh ùa vào mặt. Đồng hồ trên tường chỉ bảy giờ mười lăm tối. Còn gần bốn tiếng nữa mới đến giờ bày lễ. Tôi sờ lên chuỗi hạt bồ đề ở cổ tay trái, hạt gỗ mát lạnh, và tự nhủ: đêm nay, tay phải này không còn là của mình nữa. Nó là của ấn.
Nhưng tôi không ngờ rằng, chính suy nghĩ đó, đến nửa đêm, suýt chút nữa đã giết chết tôi.