Cửu Tức Hóa Long – Quyển 1: Hôn Ước Triệu Đô - Chương 26: Áp Mái Cấm

Tôi dọn về Tây Sương phòng đã được ba tuần. Ba tuần đủ để tôi thuộc lòng từng viên gạch lát nền, từng đường phào chỉ trên trần, từng tiếng kẽo kẹt của…

Nội dung chương

Tôi dọn về Tây Sương phòng đã được ba tuần.

Ba tuần đủ để tôi thuộc lòng từng viên gạch lát nền, từng đường phào chỉ trên trần, từng tiếng kẽo kẹt của cánh cửa gỗ lim mỗi khi gió từ sông thổi vào. Nghề kiến trúc sư dạy tôi một thói quen khó bỏ: đi đến đâu, mắt tôi tự động đo đạc đến đó. Chiều dài hành lang, chiều rộng khung cửa, khoảng cách từ giường đến bàn trang điểm. Tôi không cần thước, chỉ cần đếm bước chân rồi nhân nhẩm.

Và càng đo, tôi càng thấy gai người.

Hành lang Tây Sương dài đúng hai mươi bảy bước chân tôi. Cánh cửa phòng ngủ rộng tám mươi mốt phân. Từ mép giường đến chân tường là một trăm sáu mươi hai phân. Chiều cao từ sàn lên đến mép dưới của khung ảnh cưới treo trên tường: một trăm tám mươi phân.

Tất cả đều chia hết cho chín.

Lần đầu phát hiện ra điều này, tôi đã cười một mình, nghĩ đó là trùng hợp của người thợ xây cầu toàn. Nhưng khi con số chín lặp lại lần thứ mười, thứ hai mươi, nụ cười của tôi tắt dần. Không ai xây nhà mà mọi kích thước đều là bội số của chín một cách ngẫu nhiên được. Đó là chủ ý. Một chủ ý mà tôi chưa hiểu.

Chiều hôm ấy, tôi ngồi sắp xếp lại bàn làm việc thì chợt nhớ ra chiếc rương gỗ của cha.

Chiếc rương không lớn, chỉ bằng một vali du lịch, bên trong đựng bộ đồ nghề mộc cũ của cha: mấy cây đục, cái bào tay, cuộn dây mực, và quan trọng nhất là cây thước Lỗ Ban mà cha để lại cho tôi trước khi mất. Cây thước tôi vẫn dùng mỗi ngày thì tôi giữ bên mình, nhưng trong rương còn một cây thước Lỗ Ban khác, cây thước cha tôi tự tay khắc vạch, cũ hơn, ngắn hơn, mà tôi định bụng sẽ cất làm kỷ vật.

Ngày cưới, người hầu dọn đồ cho tôi đã mang chiếc rương ấy đi đâu mất. Tôi hỏi Vú Năm, bà bảo người ta khiêng lên áp mái Tây Sương cất tạm, vì phòng tân hôn "không nên để đồ cũ". Tôi đã định lên lấy từ tuần trước, nhưng hết việc này đến việc khác cuốn đi.

- Vú ơi, chìa khóa áp mái ai giữ vậy Vú?

Vú Năm đang gấp quần áo cho tôi, nghe hỏi thì khựng tay lại một thoáng rất ngắn. Rất ngắn, nhưng tôi nhìn thấy.

- Mợ muốn lên đó làm gì? Trên ấy bụi bặm, sàn gỗ mục hết rồi, nguy hiểm lắm.

- Con chỉ muốn lấy chiếc rương của cha con xuống. Người ta khiêng lên đó hôm con về nhà chồng, con chưa kịp sắp xếp.

- Để Vú bảo người lấy xuống cho mợ. Mợ đừng tự lên, cầu thang hẹp, tối om, té một cái là khổ.

Giọng Vú Năm vẫn hiền như mọi ngày, nhưng tôi nghe ra một sự căng thẳng rất khẽ bên dưới. Tôi gật đầu, không hỏi thêm. Trong ba tuần ở đây, tôi đã học được một điều: ở nhà họ Lâm, càng hỏi thẳng càng không bao giờ có câu trả lời thật.

Tối hôm đó, tôi nhắc lại chuyện chiếc rương với Quản gia Phước khi ông đi kiểm tra đèn hành lang.

Quản gia Phước ngoài sáu mươi, dáng người gầy gò, lúc nào cũng mặc bộ bà ba xám phẳng phiu. Ông ta cúi đầu chào tôi đúng mực, nụ cười không bao giờ chạm đến mắt.

- Thưa mợ Hai, áp mái Tây Sương đã lâu không ai lên. Sàn gỗ bị mối ăn rỗng nhiều chỗ, Lão phu nhân dặn không cho ai lên đó vì sợ nguy hiểm. Mợ cần gì, cứ nói tôi cho người lấy xuống.

- Chỉ là chiếc rương gỗ nhỏ của cha tôi để lại. Phiền chú cho người lấy giúp tôi trong hôm nay được không?

- Dạ được. Tôi sẽ cho người làm ngay sáng mai.

Ông ta nói "ngay sáng mai" với vẻ mặt thành khẩn đến mức tôi không tìm ra kẽ hở nào để nghi ngờ. Nhưng sáng mai trôi qua, rồi trưa, rồi chiều, chiếc rương vẫn không thấy đâu. Khi tôi hỏi lại, Quản gia Phước tỏ vẻ ngạc nhiên:

- Ủa, thằng Tý nó chưa mang xuống cho mợ sao? Để tôi la nó. Chiều nay nhất định có.

Chiều nay trôi qua. Tối đến, vẫn không có chiếc rương nào.

Tôi bắt đầu hiểu ra: đây không phải là quên. Đây là từ chối khéo. Một sự từ chối được bọc trong ba lớp lễ phép, đến mức nếu tôi làm ầm lên, người vô lý sẽ là tôi.

Nhưng càng bị từ chối, tôi càng muốn biết trên áp mái ấy có gì.

Đêm đó, Thiếu Quân về muộn. Anh làm tổng giám đốc ngân hàng Lâm Gia, những ngày cuối quý bận đến mức có hôm tôi ngủ rồi anh mới về. Anh vào phòng, thấy tôi còn thức thì ngạc nhiên:

- Em chưa ngủ à? Mai anh đưa em đi xem mặt bằng chi nhánh mới, em còn nhớ không?

- Em nhớ. Anh ăn gì chưa? Để em bảo Vú Năm hâm lại cháo.

- Anh ăn ở công ty rồi. Em ngủ sớm đi, đừng chờ anh.

Anh hôn lên trán tôi, nụ hôn nhẹ như mọi ngày. Ba tuần làm vợ chồng, Thiếu Quân đối với tôi vẫn dịu dàng đúng mực như ngày đầu. Anh tôn trọng khoảng riêng của tôi, không bao giờ ép buộc, thậm chí còn áy náy vì cuộc hôn nhân hợp đồng này đã trói buộc tôi. Có những đêm tôi nhìn anh ngủ, tự hỏi một người đàn ông như vậy sao lại cần bỏ ra một triệu đô để cưới một cô kiến trúc sư nghèo.

Vì mẹ tôi cần tám trăm triệu để mổ tim. Vì em trai tôi còn đang học đại học. Vì tôi, Nguyễn Diệm An, hai mươi sáu tuổi, đã ký vào bản hợp đồng hai năm với điều khoản đọc đi đọc lại vẫn thấy như một giấc mơ: một triệu đô la Mỹ, đổi lấy hai năm làm dâu nhà họ Lâm.

Tôi không hối hận. Nhưng tôi cũng không mù.

Đêm khuya, khi Thiếu Quân đã ngủ say, tôi nằm nhìn trần nhà và nghĩ về cánh cửa cuối hành lang Tây Sương. Tôi đã đi ngang qua nó mỗi ngày mà không để ý: một cánh cửa gỗ thấp, hẹp, nằm khuất sau tấm rèm nhung ở cuối hành lang, dẫn lên cầu thang áp mái. Hôm nay, lúc Quản gia Phước từ chối tôi lần thứ ba, mắt ông ta đã liếc nhanh về phía đó một cái.

Người ta chỉ liếc về nơi mình đang giấu thứ gì đó.

Gia quy nhà họ Lâm có một điều tôi thấy kỳ lạ ngay từ ngày đầu: không ai được ra khỏi phòng sau chín giờ tối. Vú Năm giải thích là để "giữ nếp nhà", nhưng một gia đình hiện đại mà bắt mọi người đóng cửa phòng từ chín giờ tối thì không phải nếp nhà, mà là giới nghiêm.

Bây giờ là mười một giờ rưỡi đêm.

Tôi ngồi dậy, thật khẽ để không đánh thức Thiếu Quân. Tôi xỏ dép vải, khoác thêm áo, nhét điện thoại vào túi. Cây thước Lỗ Ban nhỏ tôi luôn để trong ngăn kéo bàn làm việc, tôi cũng mang theo. Không phải để đo đạc gì, chỉ là cầm nó tôi thấy vững tâm hơn, như thể cha tôi đang đi cùng.

Hành lang tối om. Đèn hành lang nhà họ Lâm tắt đúng chín giờ, chỉ còn ánh sáng lờ mờ từ ô cửa kính cuối dãy hắt vào. Tôi đi chân trần trên nền gạch lạnh, tim đập mạnh đến mức tôi sợ tiếng đập ấy vang khắp hành lang.

Cánh cửa cuối hành lang hiện ra. Tôi đẩy nhẹ. Không khóa.

Bên trong là cầu thang gỗ hẹp dốc đứng, mùi ẩm mốc và bụi xộc lên. Tôi bật đèn pin điện thoại, soi từng bậc thang trước khi đặt chân. Gỗ kêu răng rắc dưới chân tôi, nhưng may là không có bậc nào gãy. Quản gia Phước nói sàn bị mối ăn rỗng, có lẽ là thật, có lẽ là bịa. Tôi không dám chắc nữa.

Lên hết cầu thang là một khoảng trống rộng tối đen. Mùi bụi cũ, mùi giấy mục, mùi của những thứ bị bỏ quên nhiều năm. Ánh đèn pin của tôi quét một vòng.

Và tim tôi ngừng đập.

Giữa áp mái, xếp thành hai hàng ngay ngắn, là tám khung ảnh lớn dựng đứng, mỗi khung phủ một tấm vải trắng. Dưới ánh đèn pin, những tấm vải trắng ấy trông như tám bóng người đang đứng im lặng nhìn tôi.

Tôi đứng chết trân ở đầu cầu thang, tay run đến mức ánh đèn pin nhảy loạn xạ trên những tấm vải. Gió từ ô cửa thông gió thổi vào, một tấm vải khẽ động đậy, để lộ ra góc khung gỗ mun bóng loáng bên dưới.

Tám khung ảnh cưới. Tôi chưa vén vải lên, nhưng tôi biết chắc đó là ảnh cưới. Khung nào cũng to bằng nhau, kiểu dáng giống nhau, chỉ khác nhau ở màu gỗ sẫm nhạt theo năm tháng.

Câu hỏi duy nhất trong đầu tôi lúc này là: tại sao ảnh cưới của tám người lại bị phủ vải trắng và giấu trên áp mái?

Tôi bước tới, từng bước một, sàn gỗ kêu ọp ẹp dưới chân. Tôi dừng lại trước khung ảnh đầu tiên, tay giơ lên định vén tấm vải.

Đúng lúc đó, từ dưới nhà vọng lên tiếng chuông đồng hồ điểm mười hai giờ đêm.

Tiếng chuông ngân dài trong bóng tối, và tôi thề rằng mình nghe thấy, lẫn trong tiếng chuông, có một âm thanh khác. Rất khẽ. Như tiếng ai đó đang chải đầu. Sột soạt. Sột soạt.

Tôi rụt tay lại.

Trên áp mái chỉ có tôi và tám khung ảnh phủ vải trắng. Tiếng chải đầu ấy phát ra từ đâu?

Tôi đứng im, nín thở, lắng nghe. Tiếng động đã tắt. Chỉ còn tiếng tim tôi đập thình thịch và tiếng gió rít qua ô cửa thông gió.

Tôi tự nhủ có lẽ mình nghe nhầm. Có lẽ đó là tiếng cành cây cọ vào mái tôn. Có lẽ là tiếng chuột. Có lẽ.

Nhưng tay tôi không dám vén tấm vải lên nữa.

Tôi lùi dần về phía cầu thang, mắt vẫn không rời tám bóng trắng im lặng. Xuống đến nửa cầu thang, tôi mới dám quay lưng chạy về phòng, tim đập như muốn vỡ lồng ngực.

Thiếu Quân vẫn ngủ say, hơi thở đều đều. Tôi chui vào chăn, co người lại, nhưng hai mắt mở thao láo nhìn trần nhà.

Tám khung ảnh cưới phủ vải trắng trên áp mái Tây Sương. Tám.

Tại sao lại là tám?

Tôi chợt nhớ đến điều Vú Năm từng vô tình nói trong một buổi chiều, khi tôi hỏi về những người trong ảnh treo ở phòng khách lớn. Bà đã lảng đi rất nhanh, nhưng trước khi lảng, bà buột miệng: "Nhà này, dâu con... vắn số lắm."

Lúc đó tôi không để tâm. Bây giờ câu nói ấy quay lại, rõ mồn một.

Dâu con vắn số. Tám khung ảnh cưới phủ vải trắng.

Tôi trằn trọc đến gần sáng mới thiếp đi, và trong giấc ngủ chập chờn, tôi thấy tám tấm vải trắng bay phấp phới, để lộ ra tám khuôn mặt cô dâu. Tám nụ cười. Tám đôi mắt nhìn xoáy vào tôi.

Tôi giật mình tỉnh dậy lúc trời vừa hửng sáng, mồ hôi ướt đẫm lưng áo.

Ngoài cửa sổ, sương sớm phủ trắng vườn cây. Từ phòng tôi nhìn ra, tôi thấy thấp thoáng những tán cây lớn đứng im lìm trong sương. Cây đa, cây gạo, cây liễu. Những cây cổ thụ mà hôm đầu về nhà chồng, tôi đã trầm trồ khen đẹp.

Bây giờ nhìn chúng, tôi chỉ thấy gai ốc nổi khắp người.

Tôi phải quay lại áp mái. Lần này là ban ngày, và lần này tôi sẽ vén những tấm vải ấy lên.

Dù dưới đó là gì đi nữa.

Chương khác

Xem thêm