Cửu Tức Hóa Long – Quyển 1: Hôn Ước Triệu Đô - Chương 29: Chữ Khắc Sau Khung

Tôi gặp Minh Châu vào chiều thứ bảy, tại quán cà phê cũ gần trường đại học kiến trúc. Quán vẫn như xưa: bàn ghế gỗ cũ kỹ, mùi cà phê rang xộc lên nồng…

Nội dung chương

Tôi gặp Minh Châu vào chiều thứ bảy, tại quán cà phê cũ gần trường đại học kiến trúc.

Quán vẫn như xưa: bàn ghế gỗ cũ kỹ, mùi cà phê rang xộc lên nồng nàn, tiếng nhạc Trịnh du dương. Chúng tôi đã ngồi đây không biết bao nhiêu lần thời sinh viên, chia nhau ly cà phê sữa đá, bàn về đồ án, về tương lai. Hồi đó tương lai của tôi đơn giản lắm: ra trường, xin việc, dành dụm tiền mổ tim cho mẹ.

Bây giờ tôi ngồi đây, với một chiếc nhẫn cưới kim cương trên tay và tám cái tên người chết trong sổ tay.

Minh Châu đến trễ mười phút, vẫn phong cách phóng viên: áo sơ mi trắng, quần jean, máy ảnh đeo lủng lẳng trước ngực, mắt sáng quắc.

- Cậu gầy đi nhiều đấy. Nhà giàu nuôi không tốt à?

Cô ấy ôm tôi một cái thật chặt rồi ngồi xuống, gọi một ly đen đá không đường. Tôi nhìn bạn mình, bỗng dưng muốn khóc. Đã ba tuần kể từ ngày cưới, đây là lần đầu tiên tôi được nói chuyện với một người không phải họ Lâm.

- Minh Châu, tớ cần cậu giúp một việc. Nhưng cậu phải hứa giữ bí mật tuyệt đối.

Nụ cười trên mặt Minh Châu tắt dần. Cô ấy là phóng viên điều tra, cô ấy nhận ra ngay khi nào một câu chuyện nghiêm trọng bắt đầu.

- Cậu nói đi.

Tôi cố giữ giọng bình tĩnh, mở cuốn sổ tay, đẩy về phía cô ấy. Trang giấy ghi tám cái tên, tám cặp năm sinh năm mất.

Minh Châu đọc, lông mày càng lúc càng nhíu chặt.

- Đây là gì?

- Tám nàng dâu nhà họ Lâm. Tám mươi năm qua. Người nào cũng chết ở tuổi hai mươi tám.

Tôi kể cho cô ấy nghe mọi chuyện: áp mái, tám khung ảnh cưới phủ vải trắng, chữ khắc sau khung, tiếng chải đầu nửa đêm, bốn bát hương dưới gốc cây. Tôi kể một mạch, không ngắt quãng, như sợ nếu dừng lại mình sẽ không đủ can đảm kể tiếp.

Minh Châu nghe xong, im lặng rất lâu. Cô ấy gọi thêm một ly cà phê nữa, uống một ngụm lớn rồi mới lên tiếng:

- Diệm An, cậu có chắc không? Chắc là cậu đọc đúng năm sinh năm mất?

- Tớ chép nguyên văn chữ khắc sau khung ảnh. Tớ còn chụp lại bằng điện thoại.

Tôi mở điện thoại cho cô ấy xem. Đêm lên áp mái lần thứ hai, tôi đã chụp lại mặt sau của từng khung ảnh. Tám tấm hình, tám dòng chữ khắc. Trong ánh đèn pin, nét chữ hiện lên rõ ràng:

Đỗ Thị Lan 1921-1949. Võ Thị Sương 1930-1958. Ngô Thị Lệ 1939-1967. Phạm Thị Đào 1948-1976. Hoàng Thị Cúc 1957-1985. Trịnh Thị Hồng 1970-1998. Đặng Thị Mai 1979-2007. Bùi Thị Thảo 1987-2015.

Minh Châu xem từng tấm, mặt càng lúc càng nghiêm trọng.

- Tớ sẽ tra cứu hồ sơ hộ tịch. Tên, năm sinh năm mất đầy đủ thế này, tra không khó. Nhưng Diệm An này...

Cô ấy ngẩng lên nhìn tôi, ánh mắt lo lắng:

- Người giàu xóa dấu vết giỏi lắm. Nếu thật sự có chuyện mờ ám, tám mươi năm đủ để họ xóa sạch mọi giấy tờ. Cậu đừng hy vọng quá nhiều vào hồ sơ chính thức.

- Tớ biết. Nhưng ít nhất cậu thử giúp tớ. Tớ cần biết họ chết vì bệnh gì, chôn ở đâu, còn người thân nào không.

- Được. Cho tớ một tuần.

Minh Châu gập cuốn sổ của tôi lại, nhưng không trả mà nhét vào túi xách của mình.

- Tớ mượn cuốn sổ này photo lại. Cậu giữ ảnh trong điện thoại cẩn thận, đừng để ai thấy. Và Diệm An...

Cô ấy nắm tay tôi, siết chặt:

- Cậu phải cẩn thận. Nếu những gì cậu nghi ngờ là thật, thì cậu đang ở trong một nơi rất nguy hiểm. Cậu mới hai mươi sáu tuổi.

Tôi gật đầu, cổ họng nghẹn lại. Hai mươi sáu tuổi. Còn hai năm nữa là hai mươi tám.

- À, còn một chuyện nữa.

Tôi kể cho Minh Châu nghe về tiếng chải đầu nửa đêm từ căn phòng niêm phong bên cạnh, về cánh cửa áp mái bị khóa sau đêm tôi lên đó, về dấu giày da đàn ông trên nền bụi.

Minh Châu trầm ngâm:

- Phòng niêm phong từ năm 1998... Trịnh Thị Hồng mất năm 1998. Cậu có nghĩ...

- Tớ chưa dám nghĩ gì cả.

- Nghe này, tớ sẽ tra cả thông tin về Trịnh Thị Hồng. Bà ấy là mẹ chồng cậu, là người gần nhất, hồ sơ có thể còn nhiều nhất. Cậu ở trong đó, cố gắng tìm hiểu xem phòng niêm phong ấy là phòng gì, tại sao niêm phong.

- Tớ sẽ thử.

Chúng tôi ngồi thêm một lúc, nói về mẹ tôi, về ca mổ tim đã được lên lịch vào tháng sau nhờ tiền ứng từ hợp đồng hôn nhân. Nhắc đến mẹ, lòng tôi chùng xuống. Mẹ là lý do tôi ký hợp đồng. Mẹ là lý do tôi ở đây. Dù có chuyện gì xảy ra, tôi cũng không thể bỏ đi khi ca mổ của mẹ còn chưa thực hiện.

- Mẹ cậu khỏe không?

- Vẫn vậy. Bác sĩ bảo phải mổ sớm, van tim hẹp nặng rồi. May mà có tiền ứng, bệnh viện đã xếp lịch.

- Cậu... có hối hận không? Vì đã ký hợp đồng?

Tôi nhìn ra cửa sổ, nơi nắng chiều đang tắt dần trên những mái nhà cũ.

- Tớ không hối hận vì đã cứu mẹ. Nhưng tớ sợ, Minh Châu ạ. Lần đầu tiên trong đời, tớ sợ một nơi ở đến vậy.

Minh Châu siết tay tôi lần nữa, không nói gì. Có những nỗi sợ không cần lời an ủi, chỉ cần một bàn tay nắm chặt.

Trên đường về, tôi ghé qua nhà thăm mẹ. Mẹ tôi ở trong căn nhà cấp bốn cũ kỹ ở quận 8, em trai Minh Khang đi học chưa về. Mẹ gầy đi nhiều, nhưng tinh thần vẫn tốt.

- Con về đấy à? Ăn cơm với mẹ nhé.

- Dạ.

Tôi ngồi nhìn mẹ nấu cơm, lòng đau như cắt. Mẹ không biết gì về tám khung ảnh, về con số 28. Mẹ chỉ biết con gái mình lấy chồng giàu, mẹ sắp được mổ tim, em trai sắp được đóng học phí. Đối với mẹ, cuộc hôn nhân này là phước đức.

Tôi không thể để mẹ lo lắng. Tôi cười, ăn hai bát cơm, khen mẹ nấu ngon như mọi ngày. Trước khi về, mẹ dúi vào tay tôi một túi quýt:

- Mang về cho nhà chồng. Nói mẹ cảm ơn họ đã lo cho mẹ.

Tôi ôm mẹ thật chặt, nước mắt trực trào. Nếu mẹ biết sự thật, mẹ sẽ bắt tôi bỏ đi ngay lập tức, dù phải chết vì bệnh tim. Tôi hiểu mẹ mình.

Về đến dinh thự họ Lâm, trời đã tối. Tôi đi qua cổng sắt cao lớn, bỗng thấy nơi này như một cái lồng son. Đẹp đẽ, sang trọng, và không có lối thoát.

Vú Năm đón tôi ở cửa, mặt lo lắng:

- Mợ đi đâu cả ngày vậy? Lão phu nhân hỏi thăm mợ đấy.

Tim tôi thót lại:

- Bà nội hỏi con?

- Dạ. Bà hỏi mợ đi đâu, Vú bảo mợ về thăm mẹ. Bà gật đầu, không nói gì. Nhưng mà mợ ơi...

Vú Năm hạ giọng, nhìn quanh rồi mới nói tiếp:

- Sau này mợ đi đâu, nói trước với Vú một tiếng. Để Vú còn biết đường mà thưa lại. Nhà này... nề nếp lắm.

Tôi gật đầu, trong lòng hiểu rõ ý bà: mọi hành tung của tôi đều bị theo dõi. Lão phu nhân hỏi thăm tôi không phải vì quan tâm, mà vì kiểm soát.

Tôi về phòng, Thiếu Quân đã về, đang đọc sách trên giường.

- Em về rồi à? Mẹ em khỏe không?

- Dạ khỏe. Anh ăn tối chưa?

- Anh ăn với bà nội rồi. Bà có nhắc em, bảo cuối tuần sau nhà có giỗ, em chuẩn bị áo dài cho chỉnh tề.

Giỗ. Tôi chợt nhớ ra, không biết giỗ ai. Nhà họ Lâm nhiều người mất như vậy, giỗ ai cũng có thể.

- Giỗ ai vậy anh?

Thiếu Quân ngẩng lên, thoáng ngập ngừng:

- Giỗ... ông nội anh. Mất lâu rồi, hồi anh còn nhỏ.

Ông nội. Tức là chồng của Lão phu nhân. Tôi gật đầu, không hỏi thêm. Nhưng trong đầu tôi tự động ghi chú: tìm hiểu xem ông nội chồng mất năm nào, bao nhiêu tuổi.

Đêm đó, tôi nằm trên giường, nghe ngóng. Đúng nửa đêm, tiếng sột soạt lại vang lên từ phòng bên cạnh.

Sột soạt. Sột soạt. Đều đều, kiên nhẫn.

Tôi ngồi dậy, rón rén ra khỏi giường. Thiếu Quân ngủ say. Tôi áp tai vào bức tường chung với phòng bên cạnh.

Tiếng chải đầu rõ hơn bao giờ hết. Tôi còn nghe thấy, rất khẽ, một giọng hát ru.

"Ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh..."

Giọng một người phụ nữ trẻ, buồn man mác, hát ru con trong đêm.

Toàn thân tôi nổi da gà. Tôi lùi lại, va vào tủ đầu giường, làm đổ ly nước. Tiếng ly vỡ khiến Thiếu Quân giật mình tỉnh dậy.

- Em sao vậy?

- Em... em làm đổ ly nước. Anh ngủ tiếp đi.

Thiếu Quân ngái ngủ dọn mảnh vỡ giúp tôi rồi ôm tôi nằm xuống. Nhưng tôi không ngủ được nữa. Bên tai tôi vẫn vang vọng câu hát ru:

"Ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh..."

Một người phụ nữ, trong căn phòng niêm phong từ năm 1998, đang chải đầu và hát ru con trong đêm.

Trịnh Thị Hồng mất năm 1998, khi con trai bà mới một tuổi.

Tôi nhắm mắt lại, nước mắt chảy dài trên gò má.

Nếu trên đời này thật sự có ma, thì con ma ấy đang hát ru đứa con mà bà không bao giờ được nuôi lớn.

Tôi nằm đó rất lâu, lắng nghe đến khi tiếng hát tắt hẳn. Rồi tôi làm một việc mà đến giờ nghĩ lại tôi vẫn thấy rùng mình: tôi rón rén ra khỏi giường, đi chân trần ra hành lang, đứng trước cánh cửa phòng niêm phong.

Dưới ánh đèn ngủ lờ mờ, tôi nhìn rõ sợi dây chỉ đỏ căng ngang then cửa. Sợi dây đã cũ sờn, phai màu, nhưng nút thắt vẫn còn nguyên. Bụi phủ dày trên tay nắm cửa, chứng tỏ đã rất lâu không ai mở.

Tôi áp tai vào cánh cửa gỗ. Bên trong im phăng phắc. Không tiếng chải đầu, không tiếng hát ru. Chỉ có mùi ẩm mốc thoang thoảng qua khe cửa, mùi của một căn phòng đã đóng kín nhiều năm.

Tôi đưa tay lên, suýt nữa thì chạm vào sợi dây chỉ đỏ. Nhưng rồi tôi rụt tay lại. Không phải vì sợ ma. Mà vì tôi chợt nghĩ: nếu tôi phá niêm phong mà bị phát hiện, tôi sẽ giải thích thế nào với nhà họ Lâm?

Tôi quay về phòng, leo lên giường, nằm nhìn trần nhà đến sáng. Trong đầu tôi chỉ có một câu hỏi duy nhất: người phụ nữ trong căn phòng ấy là ai? Và tại sao bà ấy lại hát ru?

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm hơn thường lệ. Tôi lấy cớ đi dạo buổi sáng, lượn qua hành lang, dừng lại trước cánh cửa niêm phong lâu hơn một chút. Lần này, dưới ánh sáng ban ngày, tôi nhìn thấy một chi tiết mà đêm qua bỏ sót: trên khung cửa, ngay phía trên sợi dây chỉ đỏ, có dán một lá bùa giấy màu vàng đã úa. Nét chữ chu sa đỏ vẽ ngoằn ngoèo, tôi không đọc được.

Một căn phòng niêm phong bằng chỉ đỏ và bùa giấy. Người ta chỉ làm vậy với những nơi họ sợ hãi, hoặc những nơi họ muốn giam giữ thứ gì đó.

Tôi đang mải nhìn thì nghe tiếng bước chân. Vú Năm đi tới, thấy tôi đứng trước cánh cửa thì mặt biến sắc.

- Mợ... mợ làm gì ở đây?

- Dạ không có gì. Con đi ngang qua, thấy cửa này lạ nên nhìn thôi. Đây là phòng gì vậy Vú?

Vú Năm nhìn tôi, rồi nhìn cánh cửa, môi mấp máy như muốn nói gì đó rồi lại thôi. Cuối cùng bà chỉ lắc đầu:

- Phòng kho cũ. Niêm phong lâu rồi. Mợ đừng đến gần, không sạch sẽ.

Bà nắm tay tôi kéo đi, bàn tay run run. Tôi để bà kéo, nhưng trong lòng đã chắc chắn một điều: Vú Năm biết rõ căn phòng ấy là phòng gì. Và bà sợ nó, hoặc sợ thứ ở trong đó, không kém gì tôi.

Chương khác

Xem thêm