Cửu Tức Hóa Long – Quyển 1: Hôn Ước Triệu Đô - Chương 33: Vết Đinh Cũ
Tôi bắt đầu để ý đến những vết đinh trên tường vào một buổi sáng chủ nhật. Hôm đó Thiếu Quân đi đánh golf với đối tác, tôi ở nhà một mình. Tôi đứng trước…
Nội dung chương
Tôi bắt đầu để ý đến những vết đinh trên tường vào một buổi sáng chủ nhật.
Hôm đó Thiếu Quân đi đánh golf với đối tác, tôi ở nhà một mình. Tôi đứng trước khung ảnh cưới của chúng tôi treo trên tường phòng ngủ, bỗng thấy nó hơi lệch. Tôi kiễng chân chỉnh lại cho ngay ngắn, và khi tay chạm vào khung ảnh, tôi phát hiện ra một điều lạ.
Bên cạnh chiếc đinh đang treo khung ảnh của tôi, trên tường còn có hai lỗ đinh cũ đã được trét bột che lại, nhưng vẫn nhìn rõ vết tròn lõm xuống.
Tôi sững người. Hai lỗ đinh cũ, nằm ngay bên cạnh vị trí treo ảnh cưới của tôi. Có nghĩa là trước đây, ở vị trí này đã từng treo một khung ảnh khác. Khi tôi về làm dâu, người ta tháo khung ảnh cũ xuống, treo khung ảnh của tôi lên, nhưng treo lệch đi một chút nên vết đinh cũ lộ ra.
Khung ảnh cũ ấy là của ai?
Tôi lùi lại, nhìn bao quát bức tường. Phòng tân hôn của tôi được trang trí lại hoàn toàn trước đám cưới: tường sơn mới, rèm mới, ga giường mới. Nhưng nếu nhìn kỹ, tôi vẫn thấy những dấu vết của người ở trước: một vết xước dài trên chân tủ, một góc giấy dán tường bong tróc sau tủ đầu giường, và bây giờ là hai lỗ đinh cũ sau khung ảnh cưới.
Tôi lấy cây thước Lỗ Ban ra đo. Khoảng cách giữa hai lỗ đinh cũ là bốn mươi lăm phân. Kích thước khung ảnh của tôi là sáu mươi nhân chín mươi. Hai lỗ đinh cũ cách nhau bốn mươi lăm phân, tức là khung ảnh cũ nhỏ hơn khung của tôi, có lẽ là loại khung ảnh cưới truyền thống.
Tôi đứng nhìn hai lỗ đinh rất lâu. Một câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu: ai đã từng treo ảnh cưới ở đây, trong căn phòng tân hôn của tôi?
Tôi đi một vòng quanh phòng, quan sát kỹ hơn với con mắt của một kiến trúc sư. Và càng quan sát, tôi càng phát hiện ra nhiều dấu vết.
Trên trần nhà, có một vết ố hình tròn, như vết của một chiếc đèn chùm cũ đã tháo xuống. Đèn chùm hiện tại là loại mới, nhưng vết ố thì cũ, ngả vàng. Trên sàn gỗ, dưới gầm giường, có một đường hằn dài, như vết của một chiếc giường cũ kê theo hướng khác. Chiếc giường hiện tại kê đầu về hướng đông, nhưng vết hằn cho thấy chiếc giường cũ kê đầu về hướng nam.
Người ở trước tôi đã sống trong căn phòng này rất lâu, đủ để để lại vết hằn trên sàn gỗ. Rồi một ngày, người ta dọn sạch mọi thứ, sơn lại tường, thay đồ mới, biến nó thành phòng tân hôn cho tôi.
Như thể muốn xóa sạch dấu vết của người cũ.
Tôi ngồi xuống giường, lòng dạ rối bời. Tôi nhớ đến lời bà Lệ: Thảo đòi chuyển phòng nhưng nhà chồng không cho, bảo phòng tân hôn là phòng cố định, không được đổi.
Phòng tân hôn cố định. Tại sao? Có gì đặc biệt ở những căn phòng này mà nàng dâu nào cũng phải ở đúng phòng ấy?
Tôi chợt nhớ đến tám khung ảnh trên áp mái. Tám nàng dâu, tám mươi năm. Họ có ở cùng một phòng không? Hay mỗi người một phòng?
Tôi cần tìm hiểu bố cục của Tây Sương. Tôi lấy giấy bút ra, vẽ lại mặt bằng tầng hai Tây Sương theo trí nhớ: phòng ngủ của tôi ở giữa, phòng Thiếu Quân làm việc ở bên trái, phòng trống niêm phong ở bên phải, cuối hành lang là cầu thang lên áp mái.
Tôi nhìn bản vẽ nháp, bỗng thấy một điều lạ: phòng ngủ của tôi nằm chính giữa Tây Sương, cửa sổ hướng ra vườn, nhìn thẳng ra cây si.
Cây si. Tôi nhớ đến giấc mơ... không, tôi chưa mơ. Nhưng tôi nhớ đến lời trong nhật ký mà tôi chưa đọc. Tôi lắc đầu. Tôi đang rối.
Tôi gấp bản vẽ lại, quyết định đi tìm Vú Năm. Bà là người duy nhất có thể cho tôi biết ai từng ở trong căn phòng này.
Tôi tìm thấy Vú Năm ở nhà bếp, đang nhặt rau.
- Vú ơi, con hỏi Vú chuyện này.
- Mợ hỏi đi.
- Phòng ngủ của con... trước khi con về, ai ở đó vậy Vú?
Vú Năm khựng tay. Một cọng rau muống rơi xuống đất.
- Sao... sao mợ hỏi vậy?
- Dạ không có gì. Con thấy trên tường có vết đinh cũ, tò mò thôi.
Vú Năm nhìn tôi, ánh mắt đầy vẻ giằng xé. Bà cúi xuống nhặt cọng rau, đứng dậy, rồi thở dài:
- Mợ Hai này, có những chuyện... biết nhiều không tốt đâu.
- Vú sợ gì vậy? Con chỉ hỏi ai từng ở trong phòng con thôi mà.
- Vú không sợ. Vú chỉ... lo cho mợ.
Bà nói rồi quay đi, tiếp tục nhặt rau, không trả lời câu hỏi của tôi. Nhưng bàn tay bà run run, nhặt rau mà như không nhìn thấy gì.
Tôi đứng nhìn bà một lúc, rồi nhẹ nhàng nói:
- Vú ơi, con biết trên áp mái có tám khung ảnh cưới. Con biết tám nàng dâu đều mất ở tuổi hai mươi tám. Con cũng biết Vú hầu qua bốn đời nàng dâu.
Vú Năm đánh rơi cả rổ rau. Rau văng tung tóe trên nền bếp. Bà quay phắt lại nhìn tôi, mặt trắng bệch:
- Mợ... mợ lên áp mái rồi?
- Dạ.
- Trời ơi...
Bà ngồi bệt xuống ghế, hai tay ôm mặt. Tôi vội đỡ bà, nhặt rau giúp bà.
- Vú đừng sợ. Con không nói với ai đâu. Con chỉ muốn biết sự thật. Vú nói cho con biết đi, phòng của con trước đây là phòng của ai?
Vú Năm im lặng rất lâu. Rồi bà ngẩng lên, mắt đỏ hoe:
- Là phòng của... mợ Hồng.
Tim tôi ngừng đập:
- Mợ Hồng? Trịnh Thị Hồng?
Vú Năm gật đầu, nước mắt chảy dài:
- Mợ Hồng ở phòng đó từ ngày cưới năm 1994 đến khi... đến khi mất năm 1998. Sau đó phòng bỏ trống, thỉnh thoảng Lão phu nhân cho người vào lau dọn. Đến khi cậu Hai cưới mợ, người ta mới sửa sang lại làm phòng tân hôn.
Tôi ngồi xuống bên cạnh bà, giọng run run:
- Vậy... căn phòng niêm phong bên cạnh là phòng gì?
- Đó là... phòng riêng của mợ Hồng ngày xưa. Mợ ấy mất rồi, Lão phu nhân cho niêm phong lại, bảo để nguyên hiện trạng. Hai mươi tám năm rồi, không ai được vào.
Phòng riêng của Trịnh Thị Hồng. Niêm phong hai mươi tám năm. Và đêm đêm, từ trong đó vọng ra tiếng chải đầu, tiếng hát ru, tiếng khóc.
- Vú ơi, mợ Hồng... mất vì bệnh gì?
Vú Năm lau nước mắt:
- Người ta bảo mợ ấy suy nhược sau sinh. Nhưng Vú hầu mợ ấy từ ngày cưới, Vú biết... mợ Hồng khỏe lắm. Lúc mang thai cậu Hai, mợ ấy vẫn đi lại nhanh nhẹn, ăn uống tốt. Sinh xong, mợ ấy yếu dần, yếu dần, như có ai rút cạn sức lực của mợ ấy vậy. Vú nấu bao nhiêu đồ bổ, mợ ấy ăn vào cũng không lại sức.
- Giống như Bùi Thị Thảo?
Vú Năm giật mình:
- Sao mợ biết mợ Thảo?
- Con đoán. Vú hầu cả mợ Thảo nữa mà.
Vú Năm gật đầu, mắt nhìn xa xăm:
- Mợ Thảo cũng vậy. Mợ Mai cũng vậy. Mợ Cúc cũng vậy. Bốn người Vú hầu, người nào cũng vậy. Khỏe mạnh lúc cưới, sinh con xong thì héo dần như cây thiếu nước, rồi... rồi mất. Đều hai mươi tám tuổi.
Bà nắm tay tôi, siết chặt:
- Mợ Hai ơi, Vú xin mợ. Mợ đừng điều tra nữa. Mợ càng biết nhiều, càng nguy hiểm. Vú đã chứng kiến bốn người ra đi, Vú không muốn chứng kiến người thứ năm.
- Nhưng Vú ơi, nếu con không tìm ra sự thật, con sẽ là người thứ năm... hay người thứ chín?
Vú Năm nhìn tôi, ánh mắt đầy đau đớn. Bà không trả lời, chỉ lắc đầu rồi đứng dậy bỏ đi, để lại tôi ngồi một mình trong bếp với rổ rau dở dang.
Tôi ngồi đó rất lâu. Trong đầu tôi, mọi mảnh ghép đang dần khớp lại với nhau.
Phòng tân hôn của tôi chính là phòng cũ của Trịnh Thị Hồng, mẹ ruột của Thiếu Quân. Tám nàng dâu, tám phòng... hay cùng một phòng? Tôi cần tìm hiểu thêm.
Nhưng có một điều tôi đã chắc chắn: nhà họ Lâm không xóa được hết dấu vết. Hai lỗ đinh cũ sau khung ảnh cưới của tôi là bằng chứng. Vết hằn giường cũ trên sàn gỗ là bằng chứng. Và Vú Năm, người phụ nữ đã hầu qua bốn đời nàng dâu, chính là một kho báu chứng cứ sống.
Tôi đứng dậy, phủi quần áo, đi về phòng. Trên đường đi, tôi ngang qua phòng niêm phong. Tôi dừng lại, nhìn sợi dây chỉ đỏ, nhìn lá bùa vàng úa trên khung cửa.
Tôi áp tai vào cánh cửa. Bên trong im lặng.
Nhưng tôi biết, đêm nay, khi kim đồng hồ điểm mười hai giờ, tiếng chải đầu sẽ lại vang lên. Và lần này, tôi sẽ không chỉ lắng nghe nữa.
Tôi sẽ tìm cách vào trong.
Về đến phòng, tôi không ngồi yên được. Tôi lấy cây thước Lỗ Ban ra, đo lại căn phòng của mình một cách tỉ mỉ, từng góc một, ghi chép cẩn thận vào sổ.
Chiều dài phòng: năm trăm bốn mươi phân. Chiều rộng: bốn trăm linh năm phân. Chiều cao trần: ba trăm hai mươi tư phân.
Tôi nhìn những con số, gai ốc nổi lên khắp cánh tay. 540 chia hết cho 9. 405 chia hết cho 9. 324 chia hết cho 9.
Lại là bội số của chín.
Tôi đo tiếp khung cửa sổ: rộng một trăm linh tám phân, cao một trăm sáu mươi hai phân. Cả hai đều chia hết cho chín.
Tôi ngồi xuống sàn, ôm cây thước của cha vào lòng. Cha tôi là thợ mộc, ông dạy tôi rằng thước Lỗ Ban có hai hàng vạch: hàng trên đo dương trạch, hàng dưới đo âm trạch. Người thợ giỏi phải biết tránh những số thuộc cung xấu.
Tôi giơ thước lên, nhìn hàng vạch. Chiều dài phòng rơi vào vạch... tôi nheo mắt đọc chữ khắc trên thước: "Linh". Chiều rộng rơi vào vạch "Sinh". Chiều cao rơi vào vạch "Tử".
Tử. Cái chết.
Tôi không biết mình có đọc đúng không. Thước của cha đã cũ, chữ khắc mờ nhiều. Nhưng chữ "Tử" ấy như một nhát dao cứa vào mắt tôi.
Tôi đo lại lần nữa, cẩn thận hơn. Vẫn là "Tử".
Một căn phòng tân hôn mà chiều cao trần lại rơi vào cung Tử của thước Lỗ Ban. Người thiết kế căn phòng này hoặc là dốt phong thủy, hoặc là cố ý.
Nhà họ Lâm mê tín đến mức đo bát tự nàng dâu từng ly từng tí, không thể nào dốt phong thủy được.
Vậy chỉ còn một khả năng: cố ý.
Tôi cất thước đi, nằm vật ra giường. Đầu óc tôi quay cuồng với những con số, những vết đinh, những khung ảnh.
Phòng tân hôn của tôi là phòng cũ của Trịnh Thị Hồng. Trước Hồng, ai ở đây? Phòng này xây từ năm 1926, đã gần một trăm năm. Trong một trăm năm ấy, bao nhiêu nàng dâu đã sống trong căn phòng này?
Tôi chợt nhớ đến lời Vú Năm: bà hầu từ thời Hoàng Thị Cúc, tức là từ đầu những năm tám mươi. Bốn nàng dâu bà hầu: Cúc, Hồng, Mai, Thảo. Họ có ở cùng một phòng không?
Tôi cần hỏi Vú Năm. Nhưng bà đã sợ đến mức bỏ đi. Tôi phải tìm cách khác.
Tôi nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia, cây si đứng im lìm trong nắng chiều, tán lá xum xuê che khuất một góc trời. Tôi nhớ đến bức ảnh Trịnh Thị Hồng mang thai đứng bên cây si, tay xoa bụng cười hiền. Lúc đó cô hạnh phúc. Cô chưa biết một năm sau mình sẽ chết.
Tôi cũng đang đứng ở vị trí của cô ngày xưa. Nhìn ra cùng một cây si. Sống trong cùng một căn phòng.
Sự trùng lặp ấy khiến tôi rùng mình. Tôi kéo rèm lại, không muốn nhìn cây si nữa.
Nhưng dù kéo rèm, tôi vẫn cảm thấy ánh mắt của ai đó đang nhìn mình từ ngoài vườn. Ánh mắt buồn bã, van xin, giống như ánh mắt của Trịnh Thị Hồng trong bức ảnh cưới trên áp mái.
Tôi chui vào chăn, co người lại. Đã giữa trưa mà tôi thấy lạnh.
Tôi phải vào được căn phòng niêm phong. Tôi phải biết Trịnh Thị Hồng đã để lại gì trong đó. Hai mươi tám năm, đồ đạc của bà vẫn còn nguyên. Biết đâu trong đó có câu trả lời cho mọi câu hỏi của tôi.
Tôi nhắm mắt, vạch kế hoạch trong đầu. Sợi dây chỉ đỏ đã mục, tôi có thể cắt đứt mà không gây tiếng động. Lá bùa trên khung cửa chỉ là giấy, tôi có thể gỡ ra rồi dán lại. Vấn đề là thời gian: tôi phải vào lúc mọi người ngủ say, và phải ra trước khi trời sáng.
Nửa đêm nay. Tôi sẽ vào.
Tôi mở mắt ra, nhìn trần nhà. Vết ố hình tròn của chiếc đèn chùm cũ vẫn ở đó, như một con mắt đang nhìn xuống tôi.
Tôi thì thầm với chính mình, giọng quả quyết:
- Chị Hồng ơi, em vào phòng chị đây. Chị đừng giận em.