ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 28: Xác Dưới Đáy Vực

Buổi chiều 11 tháng 4, sương ở Vực Sương tan chậm hơn mọi người mong. Phải tới gần ba giờ, vách đá phía nam mới lộ ra từng mảng đủ để đội cứu hộ thả dây…

Nội dung chương

Buổi chiều 11 tháng 4, sương ở Vực Sương tan chậm hơn mọi người mong.

Phải tới gần ba giờ, vách đá phía nam mới lộ ra từng mảng đủ để đội cứu hộ thả dây xuống sâu hơn buổi sáng. Thân ngồi ở miệng vực, vai trái băng trắng dưới lớp áo khoác, nhìn Khoa chia lại đội. Lần này không ai tranh xuống trước. Mọi người đều đã nhìn thấy khẩu súng gãy, mảnh áo rách và nghe tiếng chị Lành gọi chồng khản giọng ở chân vực buổi trưa. Họ biết thứ mình sắp tìm thấy ở dưới kia là gì, và biết việc đưa nó lên sẽ nặng hơn bất cứ chuyến cõng thương nào họ từng làm trong rừng.

- Xuống sâu hơn gờ súng một tầng đá nữa. Khoa nói. - Chú ý những hốc đá có cây mọc. Người rơi không phải lúc nào cũng xuống thẳng đáy.

Thân gật đầu. Buổi sáng, khi đứng ở lưng chừng vực, ông đã để ý tới một vệt tối ở vách phía nam, dưới gờ đá tìm thấy súng chừng vài chục mét. Khi ấy sương đổ xuống quá nhanh nên ông chưa kịp nhìn kỹ. Vệt tối ấy không giống bóng đá. Nó giống miệng một hốc đá nông, nơi nước mưa và lá mục dồn lại qua nhiều mùa, đủ giữ lại bất cứ thứ gì rơi từ trên cao bị vách đá hất vào.

Đức là người xuống trước. Sinh ở lại miệng vực giữ dây phụ cùng đội cứu hộ, sườn còn bầm nhưng tay vẫn chắc. Thân không xuống lần này; vai ông vừa khâu sáu mũi buổi trưa, y tá đã dặn tuyệt đối không leo vách, và Khoa cũng nói thẳng rằng nếu ông bục chỉ ở lưng chừng vực thì cả đội sẽ phải chia người đưa ông lên trước khi tìm được Hợi. Thân nghe theo, nhưng ông đứng ở mép vực suốt từ lúc dây bắt đầu thả, tay phải bám vào gốc cây neo dây, mắt không rời khoảng sâu phía dưới.

Chờ đợi ở miệng vực, với Thân, còn khó hơn cả lúc tự mình đu dây. Buổi sáng ông còn có việc để làm: nhìn vách, đoán đường rơi, chỉ cho Đức chỗ cành khô và gờ đá. Buổi chiều, công việc của ông chỉ còn là đứng yên và nghe. Nghe tiếng dây thả qua ròng rọc. Nghe tiếng Khoa đếm nhịp qua bộ đàm. Nghe tiếng Sinh thỉnh thoảng ho khẽ vì cơn đau ở sườn bị hơi lạnh của vực thốc lên làm nhói lại. Mỗi âm thanh nhỏ đều làm ông nghĩ tới quãng đường mà thi thể Hợi sắp phải đi ngược lên, cũng bằng dây và bằng sức người, qua đúng những gờ đá đã xé rách áo anh đêm qua.

Ông quay sang dặn Sinh một câu không đâu vào đâu, chỉ để phá sự im lặng đang ép xuống miệng vực.

- Giữ dây cho chắc. Lên tới nơi, người ta mới được khóc.

Sinh gật đầu, hai tay siết chặt sợi dây phụ, không nói gì. Anh là người đã hét gọi Hợi đến khản giọng trong đêm qua, là người ở gần nhất mà vẫn không cứu được bạn mình. Từ buổi sáng tới giờ anh gần như không nhắc tên Hợi nữa. Thân hiểu sự im lặng ấy. Có những lúc, gọi tên người chết ra chỉ làm người sống thấy rõ hơn rằng sẽ không còn ai đáp lại.

Gần một giờ sau, bộ đàm rè lên.

Giọng Đức từ dưới vực vọng lên, đứt quãng vì vách đá chắn sóng.

- Thấy rồi. Anh nói. - Có người. Hốc đá lưng chừng, gần đáy. Không còn nữa đâu.

Cả miệng vực im lặng.

Khoa cúi đầu một giây, rồi ra lệnh đưa cáng dây xuống. Không ai nói thêm câu nào. Hai thanh niên cứu hộ lần lượt xuống theo dây chính, mang theo tấm vải phủ, dây buộc và cáng mềm. Từ trên miệng vực, Thân chỉ nhìn thấy những bóng người nhỏ dần trong sương mỏng, nghe tiếng đá lăn rất xa và tiếng dây cọ vào vách. Thời gian kéo dài tới mức ông tưởng như buổi chiều đã hết, mà kỳ thực mới qua chưa đầy nửa giờ.

Ở hốc đá lưng chừng gần đáy vực, thi thể Hợi nằm kẹt giữa hai phiến đá ướt.

Đức sau này kể lại cho Thân nghe rất chậm, chỉ kể những gì cần kể. Hợi bị gãy nhiều xương sau cú rơi từ trên cao, thân người vặn lại trong hốc đá hẹp, áo rách nhiều chỗ vì va vào vách. Hốc đá đọng nước lạnh tới mắt cá chân người đứng trong đó. Lá mục và bùn đá phủ lên một phần thi thể, như thể chỉ sau một đêm, vực sâu đã bắt đầu nhận anh ta làm một phần của nó. Đội phải mất gần hai giờ mới đưa được thi thể lên, từng đoạn dây một, từng người thay nhau cõng và đỡ qua những gờ đá trơn, trong một im lặng gần như tuyệt đối. Không ai than mệt. Không ai giục nhanh. Mỗi lần cáng dừng lại để đổi người, cả đội lại đứng yên trong sương, nghe tiếng nước nhỏ từ vách đá xuống vực.

Khi thi thể được đưa lên tới miệng vực, trời đã ngả về chiều muộn.

Người ta đặt cáng xuống khoảng đất bằng cạnh đường mòn. Chị Lành được người em họ dìu tới. Chị không khóc thành tiếng ngay. Chị đứng nhìn tấm vải phủ trên cáng rất lâu, hai tay run đến mức không tự kéo được mép vải lên. Thịnh, trưởng thôn, đứng bên cạnh, nói khẽ một câu mà Thân nghe rõ từng chữ.

- Thấy người rồi, em ạ. Dù sao cũng thấy người rồi.

Trước khi phủ vải kín lại để đưa về nhà, Khoa bảo cần sửa lại áo cho Hợi và kiểm tra túi áo theo đúng việc phải làm khi tìm thấy người mất tích trên núi. Đức quỳ xuống bên cáng, nhẹ tay vuốt lại cổ áo rách của Hợi, cài lại chiếc khuy còn nguyên ở ngực áo. Khi tay anh chạm vào túi áo ngực bên trái, anh dừng lại.

Trong túi áo ấy có một chiếc khăn tay.

Đức lấy ra đưa cho Khoa, rồi Khoa đưa cho Thân xem trước khi trao lại cho gia đình. Chiếc khăn vải trắng đã ngả màu vì sương và bụi đá, bốn góc thêu hoa nhỏ bằng chỉ xanh, một góc thêu hai chữ cái lồng vào nhau mà người trong thôn nhìn là biết tay thêu của chị Lành. Đó là chiếc khăn chị vẫn để cho chồng mang theo mỗi chuyến đi rừng, khi thì để lau mồ hôi, khi thì để buộc tạm vết xước. Sau một cú rơi như thế, sau một đêm trong hốc đá ướt, chiếc khăn vẫn còn nguyên trong túi áo ngực của Hợi, không rách, chỉ ẩm và lạnh.

Thân cầm chiếc khăn trong tay phải một lúc. Ông nhớ Hợi của những ngày trước: vai u, mặt đỏ, nói to, cười lớn, khoe con gái sắp cưới và hứa chắc nịch xong vụ này về ăn cưới. Ông cũng nhớ Hợi của đêm qua, đứng lộ ở khe đá phía bắc trong cơn choáng vì tai chảy máu, không nghe thấy tiếng cánh ập xuống sau lưng mình dù Sinh hét đến khản giọng. Hai hình ảnh ấy nằm chồng lên nhau, và ở giữa chúng là tất cả những điều Thân đã không làm được: không giữ được nút tai cho Hợi, không cản được phát súng sớm, không bắn được một phát tên cho ra hồn.

Chị Lành nhận chiếc khăn từ tay Khoa. Chị cầm nó bằng cả hai tay, áp lên ngực, đứng lặng bên cáng của chồng. Một lúc sau chị mới khóc, khóc không thành tiếng lớn, chỉ là những cơn nấc nghẹn làm vai chị rung lên từng đợt. Người em họ đỡ lấy chị từ phía sau. Dân thôn đứng quanh đường mòn không ai nói gì; vài người đàn bà lặng lẽ quay đi lau mắt.

Thi thể Hợi được đưa về nhà anh ngay trong buổi tối.

Cả xóm đứng chật ngõ nhà Hợi, đèn dầu và đèn điện hắt ra những quầng sáng vàng trên mặt người ướt sương. Quan tài được đặt ở gian giữa. Con gái anh, Nguyễn Thị Hoa, từ xã bên chạy về, đứng bên quan tài nắm chặt tay mẹ, mặt trắng bệch; đám cưới cuối tháng mà Hợi từng khoe với cả đội giờ không còn ai nhắc tới nữa, nó tự lùi xa khỏi căn nhà này như một chuyện của một đời khác.

Trước quan tài, Thịnh và gia đình bàn bạc hồi lâu rồi đi tới một quyết định mà cả xóm đều nghe và không ai phản đối. Chưa phát tang lớn. Chưa đưa tin rộng ra ngoài thôn. Hợi sẽ nằm lại nhà mình trong những ngày này, hương khói đầy đủ, nhưng tang lễ chính thức sẽ chờ tới khi trừ được con điểu. Thịnh nói thay gia đình, giọng khàn đi: làm tang lớn lúc này, giữa lúc thôn đang phải dồn người già và trẻ con vào nhà kiên cố, giữa lúc đêm rằm đang tới gần, là làm cho cả thôn thêm rối và làm cho chính Hợi cũng không yên. Chờ trừ được nó rồi, thôn sẽ làm tang cho anh một lần cho đàng hoàng, để anh không phải nằm nghe thêm tin dữ nào nữa của Yên Sơn.

Chị Lành nghe xong chỉ gật đầu. Chị nói nhà chị nghe theo thôn, chỉ xin một điều: dù chưa phát tang, mỗi tối vẫn có người trong xóm sang ngồi với mẹ con chị một lúc, để căn nhà không vắng tiếng người trong những ngày Hợi nằm đó chờ. Mấy người đàn bà trong xóm nhận lời ngay. Một bà già ở đầu ngõ nói, giọng run run, rằng ngày xưa nhà có người mất trên núi cũng phải chờ đưa được người về mới làm tang cho trọn; nay người đã về rồi, chờ thêm vài ngày cho xong việc lớn của cả thôn cũng là một cách giữ lễ. Không ai trong căn nhà ấy nhắc tới chuyện con điểu bằng tên thẳng. Họ chỉ gọi nó là việc trên đỉnh, là cái hạn của thôn, như thể gọi thẳng tên nó trong đêm đầu tiên Hợi nằm nhà sẽ làm cho mất mát này thêm nặng.

Thân đứng trước quan tài rất lâu sau khi mọi người đã thưa dần.

Ông thắp một nén hương, cắm lên bát hương bằng tay phải, tay trái băng trắng buông thõng bên người. Ông nhìn di ảnh Hợi vừa được đặt lên, nhìn khẩu súng gãy đã được Khoa cho người mang sang đặt tạm ở góc nhà, nhìn chị Lành ngồi bên quan tài ôm chiếc khăn thêu trong tay. Ông tự biết trong cái chết này có phần lỗi của mình. Lỗi ấy nặng và rõ, nhưng khi đứng trước quan tài bạn săn, ông vẫn chưa nói được nó thành lời. Mọi câu chữ trong đầu ông đều dừng lại ở cổ họng, như mũi tên đêm qua dừng lại ở lớp lông thép.

Chị Lành ngẩng lên. Mắt chị đỏ và sưng, giọng đã khản hẳn sau một ngày gọi tên chồng ở miệng vực.

- Anh Hợi nhà tôi hay khoe là không sợ gì. Chị nói với Thân. - Ông Thân, ông đừng để nó chết như thế này rồi thôi.

Chương khác

Xem thêm