ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 32: Chỗ Không Lông
Trưa 12 tháng 4, tờ ảnh in vẫn nằm giữa bàn trạm kiểm lâm Tản Viên, ngay bên cạnh tấm bản đồ vách đông Ngọc Hoa. Nắng hanh đầu mùa rọi qua cửa sổ, rơi…
Nội dung chương
Trưa 12 tháng 4, tờ ảnh in vẫn nằm giữa bàn trạm kiểm lâm Tản Viên, ngay bên cạnh tấm bản đồ vách đông Ngọc Hoa.
Nắng hanh đầu mùa rọi qua cửa sổ, rơi thành một vệt sáng chéo lên mặt bản đồ. Ngoài sân trạm, nắng đứng bóng và không khí khô đến mức tiếng lá khô lạo xạo dưới chân người đi qua cũng nghe rõ. Trong phòng, không ai còn nhắc tới chuyện khung hình có thật hay không nữa. Việc phải bàn từ giờ trưa này chỉ còn một câu hỏi duy nhất, và Thân là người đặt nó ra thành lời.
- Chỗ này. Ông nói, ngón tay đặt lên đốm trắng trong tờ ảnh. - Là chỗ không lông mà tổ huấn họ Hà chép. Là tử huyệt duy nhất của nó.
Ông nói chậm, để từng người trong phòng nghe đủ và không ai phải hỏi lại. Tổ huấn của cụ tổ Hà Văn Quảng chỉ để lại một dòng mơ hồ về một chỗ không lông, chỉ người đứng dưới đường bổ của điểu mới thấy được. Suốt mấy đời, người họ Hà đọc dòng ấy mà không có hình để đối chiếu, kể cả cha ông, người đã bắn trượt vào lớp lông thép năm 1983 và không bao giờ trở về để nói rõ mình đã thấy gì. Nay tờ ảnh hồng ngoại, tích tắc dưới đèn pin ở Mỏm Sáo và lời kể của Lực đã đặt chồng lên nhau ở đúng một điểm: một đốm trắng hình bầu dục dưới cuống họng, không có lông thép che, là chỗ hở duy nhất trên cả thân hình đen kịt của con điểu.
Thân nói tiếp, vẫn bằng giọng của người đang đọc một tờ sổ chứ không phải đang dọa ai.
- Nhưng chỗ hở ấy không phải lúc nào cũng mở. Ông nói. - Nó chỉ lộ ra trong hai lúc. Một là khi nó bổ nhào, cổ vươn dài ra để quắp mồi. Hai là khi nó ngửa cổ kêu. Cả hai lúc đều chỉ kéo dài vài giây. Lúc nó bay ngang, lúc nó đậu, lúc nó quắp mồi bay đi, cổ nó rụt lại và lông thép xếp kín lên trên, không còn gì để bắn vào.
Đức ngồi đối diện, hai tay đan vào nhau trên mép bàn, mắt không rời bản đồ.
- Vậy không bắn đón từ xa được. Anh nói. - Cũng không phục kích kiểu cũ được. Ở Mỏm Sáo mình nấp trong khe đá, nó sà xuống thì cổ nó hướng vào con trâu mồi, không hướng vào người bắn.
- Đúng. Thân gật đầu. - Muốn nó vươn cổ về phía người bắn, phải có một người đứng lộ thiên ngay trong đường bổ của nó, ở chỗ nó nhìn thấy rõ và nó muốn quắp. Nó lao thẳng xuống người ấy thì cổ nó mới vươn hết cỡ, đốm trắng mới mở trọn, và người bắn phải chờ tới khi nó vào dưới năm mươi mét mới được buông tên. Sớm hơn là ngoài tầm của nỏ và của tên. Muộn hơn thì không còn người bắn nữa.
Khoa ghi lại mấy dòng vào sổ trực, rồi ngẩng lên.
- Người đứng lộ thiên và người bắn, theo cách chú nói, là hai việc ở hai chỗ khác nhau. Anh nói. - Có tách ra được không? Một người đứng làm mồi, một người nấp bắn vào cổ nó lúc nó bổ xuống người kia?
Thân lắc đầu, và lần này ông trả lời ngay, không cần nghĩ.
- Không tách được. Ông nói. - Tên Cổ Loa chỉ thiêng trong tay người giữ nỏ họ Hà, bằng máu tươi của chính người ấy bôi lên đầu tên ngay trước phát bắn. Máu ai, người ấy bắn. Tao nấp ở một chỗ, Đức đứng lộ thiên ở một chỗ, con điểu sẽ bổ vào Đức, còn phát tên của tao từ chỗ nấp không có đường ngắm thẳng vào dưới họng nó, lại lệch khỏi đường bổ của nó. Người làm mồi và người bắn chỉ có thể là một. Là tao.
Đức đập nhẹ tay xuống bàn, đứng bật dậy.
- Cháu không đồng ý. Anh nói thẳng. - Chú bảy mươi hai tuổi, vai trái vừa khâu sáu mũi, tay run, mắt kém khi trời tối. Chú đứng lộ thiên ở mép mỏm thì nó bổ xuống là chú không tránh kịp, dù phát tên có trúng hay không. Để cháu đứng chỗ lộ thiên, chú nấp sau tảng đá mà bắn. Cháu trẻ, cháu né nhanh hơn chú, và cháu bắn nỏ cũng không kém ai, trạm này ai cũng biết.
Mấy lời cuối của Đức không phải khoe. Cả phòng đều nhớ buổi chiều ở sân trạm hôm gia trì, anh mượn nỏ thường bắn mười phát trúng cả mười. Nhưng Thân không nổi nóng, cũng không gạt bằng giọng bề trên. Ông chỉ tay lên tờ ảnh, rồi chỉ lên dòng chữ ông đã thuộc từ năm ba mươi tuổi.
- Mày bắn giỏi hơn tao, tao biết. Ông nói. - Nhưng phát này không phải phát thi bắn giỏi. Mày đứng lộ thiên, tao nấp bắn, thì lúc nó bổ vào mày, cổ nó vươn về phía mày, đốm trắng mở về phía mày, còn tao ở bên hông chỉ thấy một bên cổ phủ lông thép. Bắn vào đó thì lại tóe lửa và trượt đi, như phát của cha tao năm tám mươi ba và phát của tao đêm mồng mười. Còn nếu mày cầm nỏ thần mà bắn thay tao, tên không nghe tay mày, máu của mày không phải máu người giữ nỏ, phát bắn ấy cũng chỉ là một mũi tên đồng thường. Tổ huấn khóa chết ở chỗ ấy, Đức ạ. Không phải tao muốn đứng chỗ chết. Là ngoài tao ra, không ai đứng vào chỗ ấy mà phát tên còn có nghĩa.
Đức đứng yên một lúc lâu, tay nắm chặt thành ghế. Rồi anh ngồi xuống, chậm và nặng, như người vừa tự mình kiểm lại mọi đường khác và thấy chúng đều đã bị khóa từ trước khi anh sinh ra.
- Vậy cháu lên dây cho chú. Anh nói. - Cháu ở sau tảng đá, bắn phát súng lạc hướng đúng hiệu lệnh của chú để nó nổi giận bổ thẳng xuống, và cháu không rời vị trí cho tới khi chú bắn xong. Chú quyết chỗ đứng của chú, cháu quyết việc của cháu không sai một bước.
Thân còn nói rõ thêm hai giới hạn mà cả đội phải thuộc, để tới lúc trên mỏm không ai giục ông bắn sớm hay bắn thêm. Thứ nhất, mỗi đêm ông chỉ kéo nổi nỏ thần tối đa hai lần, và với vai trái đang khâu, lần kéo thứ hai gần như không còn chắc tay; vì thế chiều nay Đức lên dây sẵn một lần duy nhất cho mũi Hai, đặt nỏ vào điểm tựa đá, và ông sẽ giữ nguyên tư thế chờ, không bắn thử, không bắn dọa. Thứ hai, đốm trắng trong tờ ảnh nhìn thì to bằng bàn tay, nhưng ở cự ly ngoài năm mươi mét nó chỉ còn là một chấm sáng không đủ để ngắm chắc, và tên rời nỏ ở khoảng cách ấy cũng không còn đủ lực lẫn đủ thiêng theo lời tổ huấn. Đức nghe xong, tự nhắc lại thành lời cho Khoa ghi vào sổ: dưới năm mươi mét mới bắn, chỉ một phát cho mũi Hai, mũi Ba không dùng trong trận này trừ khi Thân ra lệnh khác, mà lệnh khác ấy ông đã nói trước là sẽ không có.
- Ghi cả điều này nữa. Thân nói với Khoa. - Nếu tao ngã mà tên chưa bắn, không ai được nhặt nỏ lên bắn tiếp cho tao. Mang nỏ và mang tên còn lại xuống núi, trả về nhà thờ họ. Một phát sai nữa là mất hết.
Khoa ghi, không hỏi lại. Đức cũng gật đầu, dù cái gật đầu ấy nặng hơn mọi lần anh nhận việc ở trạm này.
Khoa chờ cho câu ấy dứt hẳn mới chốt phần tổ chức, giọng anh rõ ràng như đọc một quyết định.
- Kế hoạch chốt như sau. Anh nói. - Từ mười lăm giờ chiều nay, thôn bắt đầu sơ tán: người già và trẻ em dồn vào nhà văn hóa và đình làng, đàn trâu dồn vào chuồng gần nhà, không ai ra đồng hay lên rừng sau hoàng hôn. Đội quyết chiến xuất phát đầu giờ chiều: chú Thân và Đức lên Mỏm Hang, em và Quân ở chân vách đông làm trạm liên lạc và cứu hộ, cáng và đồ cứu thương để sẵn ở chân vách. Cấp trên vẫn giữ hạn hết đêm rằm, nhưng từ giờ việc của mình không còn trông vào hạn của ai nữa.
Thân gật đầu. Ông đang định nói thêm về giờ tới chân vách thì điện thoại bàn của trạm reo. Khoa nghe, rồi đưa ống nghe về phía ông.
- Sinh gọi từ trạm xá. Khoa nói. - Nó nghe y tá kể đội đang chốt kế hoạch ở đây, nó đòi nói với chú.
Giọng Sinh qua điện thoại yếu và khàn sau một đêm mất máu, nhưng chữ nào cũng rõ. Anh hỏi lại từng ý trong kế hoạch như người kiểm tra một danh sách: ai lên mỏm, ai ở chân vách, mấy giờ thôn sơ tán, cáng cứu hộ đặt ở đâu. Thân trả lời đủ, không giấu anh điều gì, kể cả việc ông vừa là người đứng làm mồi vừa là người bắn. Đầu dây bên kia im lặng một nhịp, rồi Sinh chỉ nói anh sẽ sang trạm ngay bây giờ, dù y tá không đồng ý, vì có một việc anh phải nói tận mặt trước khi đội xuất phát.
Mươi phút sau, tiếng nạng gõ trên nền sân trạm nghe từ ngoài cửa.
Sinh chống nạng bằng tay trái, vai phải nẹp cố định áp sát thân người, đùi trái băng trắng dưới ống quần rộng, được một y tá của trạm xá dìu thêm một bên. Mặt anh nhợt nhạt, trán lấm tấm mồ hôi vì quãng đường ngắn từ trạm xá sang trạm kiểm lâm, nhưng anh không chịu ngồi ngay. Anh đứng dựa vào khung cửa, nghe Khoa nhắc lại một lần cuối toàn bộ kế hoạch vừa chốt, nghe cả phần ông Thân đứng lộ thiên làm mồi và bắn ở cự ly dưới năm mươi mét, mà không cắt lời một lần nào.
Nghe xong, Sinh chỉ hỏi một câu.
- Chú đứng chỗ nào thì cháu đặt người khiêng cáng chờ ở chỗ ấy. Anh nói.
Thân nhìn cháu họ mình, người thợ săn chắc tay nhất còn lại của đội, giờ đứng cũng phải dựa cửa với một bên vai gãy và một chân khâu chín mũi, và ông hiểu câu hỏi ấy không phải bi quan. Đó là cách Sinh làm phần việc cuối cùng còn làm được cho trận này: tính trước cả đường khiêng người xuống, dù người trên cáng là ai.
Thân đáp cũng không tránh.
- Chân vách. Ông nói. - Chỗ nào cũng phải có người chờ khiêng, dù là khiêng ai.