ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 33: Lời Thú Nhận
Đầu giờ chiều 12 tháng 4, trước giờ xuất phát, Thân gọi Sinh và Đức lại ở sân trạm kiểm lâm Tản Viên. Sân trạm vắng. Khoa đã vào trong gọi điện cho thôn…
Nội dung chương
Đầu giờ chiều 12 tháng 4, trước giờ xuất phát, Thân gọi Sinh và Đức lại ở sân trạm kiểm lâm Tản Viên.
Sân trạm vắng. Khoa đã vào trong gọi điện cho thôn về giờ sơ tán lúc mười lăm giờ, Quân đang cùng người của trạm chất cáng, hộp cứu thương và bộ đàm lên xe để chuyển xuống chân vách. Sinh ngồi trên ghế đá dưới gốc bàng, nạng dựng bên cạnh, vai phải nẹp cứng, đùi trái băng trắng. Đức đứng, tay cầm ống tên dự phòng mà Thân vừa mang từ nhà tới, trong ống là mũi Ba, mũi tên đồng Cổ Loa cuối cùng còn nguyên vẹn ngoài mũi Hai sẽ theo ông lên mỏm.
Thân đứng trước hai người trẻ, không ngồi. Ông biết điều mình sắp nói nếu ngồi xuống sẽ dễ nghe như một lời tâm sự, mà ông không cần ai nghe nó như tâm sự. Ông cần nó được nghe như một lời khai, đủ chậm và đủ rõ để không ai hiểu lầm, và để sau này, dù kết quả trên Mỏm Hang thế nào, sự thật cũng không bị kể lại thiếu một phần.
- Tao có một việc phải nói trước khi hai đứa theo tao lên núi lần nữa. Ông nói. - Việc này tao đã giấu từ đêm Mỏm Sáo.
Đức ngẩng lên. Sinh cũng ngẩng lên, tay trái của anh đặt yên trên đầu gối lành.
- Đêm mồng mười, lúc con điểu bổ xuống lần cuối trên Mỏm Sáo, tao đã giương nỏ và đưa tay lên miệng. Ông nói tiếp, từng chữ một. - Tao định cắn rách ngón tay, bôi máu tươi của tao lên đầu mũi Cả theo đúng tổ huấn. Máu ai, người ấy bắn. Tao thuộc câu ấy từ năm ba mươi tuổi. Tao không quên. Tao khựng lại.
Ông dừng một nhịp, nhưng không nhìn xuống đất.
- Tao khựng lại vì hai lẽ. Ông nói. - Lẽ nói ra được là điểu đã quá gần, sợ không kịp. Lẽ thật, sâu hơn, là tao sợ mất mũi tên. Đêm ấy tao chỉ mang đúng một mũi lên mỏm, mũi Cả, vì tao tự quyết là đi dò đường, chưa phải trận quyết định. Nhưng cái quyết ấy cũng từ một nỗi sợ mà ra: tao sợ một đêm bất trắc trên núi sẽ làm mất cả cơ nghiệp tổ tiên, như năm xưa cha tao mất một mũi rồi mất cả người. Tao sợ mất tên đến mức tới lúc phải bắn, tay tao vẫn còn giữ lại một phần cho nhà thờ họ. Rồi tao bắn luôn khi chưa bôi máu.
Sinh không nói gì. Đức cũng không nói gì, và sự im lặng ấy làm sân trạm nghe rõ cả tiếng gió lùa qua tán bàng.
- Phát tên ấy trúng ngực nó ở góc xiên, tóe lửa, trượt trên lông thép và rơi xuống Vực Sương. Ông nói. - Nó mất vĩnh viễn, đúng như tao sợ, và nó mất theo cách vô ích nhất. Sau phát bắn ấy con điểu quật lại, rách vai tao, rồi rút về hang lúc trời hửng sáng. Tao nói thẳng ở đây: nếu đêm đó tao làm đúng tổ huấn, bôi máu trước khi bắn và mang đủ tên theo cách một trận đánh thật sự đòi hỏi, có thể phát tên đã khác, và có thể Hợi đã không chết theo cách nó đã chết. Tao không nói nó chắc chắn còn sống. Tao không biết điều không xảy ra. Tao chỉ nói phần lỗi của tao nằm ở chỗ tao khựng tay, và phần lỗi ấy góp vào đêm ấy. Tao không xin hai đứa tha thứ. Tao cần hai đứa biết sự thật trước khi đi tiếp với tao, để không ai theo một người chỉ huy mà không biết người ấy đã sai ở đâu.
Đức là người cử động trước.
Anh không nói một lời nào về tha thứ, cũng không nói lời an ủi cho xong chuyện. Anh mở ống tên dự phòng ngay trước mặt Thân, rút nhẹ mũi Ba ra tới nửa thân để kiểm tra đầu tên ba cạnh dưới nắng chiều, nhìn lớp gia trì còn nguyên trên đầu đồng, rồi đẩy tên trở lại ống và buộc lại dây, cẩn thận như người kiểm tra trang bị trước giờ hành quân. Cái kiểm tra ấy là câu trả lời của anh: anh đã nghe hết, anh hiểu hết, và anh vẫn đi.
Sinh im lặng lâu hơn. Anh nhìn xuống bàn tay trái của mình, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào Thân.
- Đêm đó nếu chú không bắn phát tên ấy, dù là phát tên sai, thì cú bổ tiếp theo của nó đã quơ trúng cháu và Đức trong khe đá rồi. Sinh nói chậm. - Cháu nằm trong khe, cháu biết khoảng cách lúc ấy còn bao nhiêu. Chú sai một việc, là chú không bôi máu và chú mang thiếu tên. Nhưng đừng nhận hết mọi việc về mình. Hợi chết còn vì nó vứt nút tai, vì nó bắn sớm khi đang choáng, vì sương dày và vì con điểu ấy mạnh hơn tất cả những gì bọn cháu từng gặp. Cháu nói thế không phải để chú nhẹ lòng. Cháu nói vì sự thật thì phải đủ cả hai phía, như chú vừa làm.
Thân nhìn cháu, gật đầu một cái rất nhẹ. Ông không thấy nhẹ lòng thật, và ông cũng không cần thấy nhẹ lòng trước giờ lên núi. Điều ông cần là từ lúc này, không còn một sự thật nào về đêm Mỏm Sáo bị giữ lại trong bụng một mình ông nữa.
Thân nói thêm một đoạn nữa, vì ông biết nếu chỉ nói tới phát bắn thì lời thú nhận vẫn còn thiếu mất phần quyết định ở ngay trước đêm ấy.
- Còn một việc nữa thuộc về tao, không thuộc về ai khác. Ông nói. - Chiều hôm đội rà soát trang bị, chính tao là người tuyên bố chỉ mang một mũi lên Mỏm Sáo và để hai mũi còn lại khóa trong rương ở nhà thờ họ. Lúc ấy tao nói với cả đội là đi dò đường. Lời ấy không sai hẳn, nhưng nó che đi một nửa sự thật: tao không dám mang cả cơ nghiệp bốn đời lên một mỏm đá sương mù, nơi một lần ngã hay một lần điểu quật cũng có thể làm mất hết. Cha tao năm xưa cũng chỉ mang một mũi, và tao đã tự nhủ rằng làm như cha là giữ lệ. Chiều nay tao nói rõ ở đây để hai đứa phân biệt được: giữ cơ nghiệp không phải là mang thiếu tên vào một trận đánh. Chiều nay mũi Hai theo tao lên mỏm, mũi Ba theo Đức làm dự phòng của họ Hà, cả hai đều ở trên núi, không mũi nào bị bỏ lại trong rương vì tao sợ nữa. Sợ mất là việc của tao ở nhà. Lên mỏm thì chỉ còn việc bắn cho đúng.
Sinh nghe xong, khẽ gật đầu, và Đức ghi nhớ điều ấy không khác gì một mục trong danh sách trang bị: từ giờ, không còn quyết định nào của đội được lấy lý do giữ của để làm nhẹ đi sức của trận đánh.
Rồi ông chỉ tay vào ống tên Đức đang giữ.
- Bây giờ tới việc của ống này. Ông nói. - Mũi Ba từ giờ do Đức giữ trong suốt chặng cuối. Nó là dự phòng cho họ Hà, không phải là mũi tên thứ hai của trận chiều nay. Trận chiều nay chỉ có một phát của mũi Hai, như đã chốt lúc trưa. Đức nghe rõ điều kiện của tao: nếu tao ngã xuống trên mỏm, dù tên Hai đã bắn hay chưa bắn, mày tuyệt đối không được tự lấy mũi Ba tra vào nỏ thần mà bắn. Tên không nghe tay người ngoài, máu của mày không nối được với nỏ của họ Hà, và một phát bắn sai nữa sẽ làm mất vĩnh viễn mũi tên cuối cùng của tổ tiên, mất theo đúng cách mũi Cả đã mất. Việc của mày khi ấy là mang ống tên này xuống núi, nguyên vẹn, trả về nhà thờ họ Hà cho Sen giữ. Rõ chưa?
- Rõ. Đức đáp ngay. - Cháu giữ ống, không bắn. Nếu chú ngã, cháu mang tên về. Cháu nhắc lại để chú yên tâm: súng của cháu chỉ để bắn lạc hướng khi chú ra hiệu, còn nỏ thần và tên Cổ Loa là việc của một mình chú.
Sinh gật đầu theo, xác nhận anh cũng đã nghe rõ điều kiện ấy, để lời dặn của Thân có hai người làm chứng chứ không chỉ nằm giữa hai người trên mỏm.
Cuộc nói chuyện ở sân trạm kết thúc ở đó, không ai kéo dài thêm. Khoa từ trong trạm bước ra báo thôn đã bắt đầu chuẩn bị sơ tán, xe chở cáng sắp xuống chân vách. Thân gật đầu, nói ông phải về nhà lấy ba lô và cây nỏ, đội sẽ tập hợp ở đầu đường làng đúng giờ đã hẹn. Đức đi cùng ông một đoạn về nhà, ống tên dự phòng đeo chéo sau lưng như một phần trang bị đã có chủ.
Về tới nhà, Thân bước vào sân và dừng lại một nhịp ở bậc cửa.
Ba lô của ông đã được đặt ngay ngắn ở gian ngoài, bên cạnh cây nỏ thần dựng vào vách. Trên ba lô là gói cơm nắm Sen chuẩn bị từ đêm qua, thuốc men, khăn băng sạch và chiếc áo ấm, mọi thứ xếp gọn theo đúng thứ tự người ở nhà nghĩ người lên núi sẽ cần, không thừa một món, không thiếu một món. Sen đứng ở cửa bếp, tay còn dính nước, không hỏi cha đã nói chuyện gì ở trạm, cũng không nhắc lại trận cãi nhau hôm gia trì và đêm ở sân trạm. Quân ngồi bên bàn, bộ đàm đã đeo sẵn trên vai, thấy ông về thì đứng dậy định đỡ ba lô, nhưng Thân ra hiệu cứ để ông tự đeo.
Sen nhìn cha đeo ống đựng mũi Hai vào bên hông, nhìn cây nỏ lim bọc đồng được quấn vải cẩn thận đặt lên lưng ông, và cô hiểu mọi lời cần nói giữa hai cha con lúc này đều đã nằm trong cách cô xếp ba lô và cách ông không bỏ lại món nào.
Cô chỉ nói một câu, giọng bình tĩnh đến mức Quân cũng phải ngẩng lên nhìn mẹ.
- Cha đi thì đi cho xong. Sen nói. - Đừng khựng lại nữa.
Thân quay lại nhìn con gái. Trong câu nói ngắn ấy có cả bốn mươi hai năm của ngôi nhà này: một người cha mất xác trên núi, một ngôi mộ gió, một người con gái lớn lên không có ông nội, và một đêm Mỏm Sáo mà cô không có mặt nhưng đã nghe đủ để biết cha mình khựng lại ở đâu. Ông không hứa hẹn điều gì lớn lao. Ông chỉ gật đầu, như nhận một lệnh mà ông tự biết mình phải tuân theo còn nghiêm hơn mọi hiệu lệnh trên mỏm.
- Ừ. Ông nói. - Lần này cha không khựng.
Ông bước ra sân, nắng chiều đã ngả qua mái nhà, và ở đầu ngõ, Đức đang đứng chờ với ống tên dự phòng trên lưng, súng trên vai, sẵn sàng cho đường lên Mỏm Hang.