ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 34: Đường Lên Mỏm Hang
Chiều 12 tháng 4, đoàn quyết chiến xuất phát từ đầu đường làng thôn Yên Sơn trong một sự im lặng hiếm có. Không có trống, không có lời hô, không có ai…
Nội dung chương
Chiều 12 tháng 4, đoàn quyết chiến xuất phát từ đầu đường làng thôn Yên Sơn trong một sự im lặng hiếm có.
Không có trống, không có lời hô, không có ai chúc may mắn ầm ĩ như những lần thôn tiễn người đi làm việc lớn khác. Dân Yên Sơn đứng chật hai bên đường làng, người già đứng ở hiên nhà, người trẻ đứng sát hàng rào, trẻ con được người lớn giữ chặt bên cạnh và dặn không chạy theo đoàn. Ai cũng biết đoàn này đi đâu, đi làm gì, và ai cũng biết từ mười lăm giờ chiều nay chính họ sẽ phải dồn vào nhà văn hóa và đình làng, để lại đường làng và những mái nhà trống cho một đêm rằm mà cả thôn đã chờ trong sợ hãi suốt mười ngày.
Thân đi đầu đoàn.
Vai trái của ông còn băng trắng, ẩn dưới lớp áo nhưng vẫn hiện thành một bên vai cứng và thấp hơn khi ông bước. Cây nỏ thần quấn vải đeo sau lưng, cán nỏ gõ rất nhẹ vào ba lô theo từng bước. Bên hông phải của ông là ống đựng mũi Hai, mũi tên sẽ dùng cho phát bắn duy nhất của trận này, được buộc dây cẩn thận để không va vào đá khi leo. Trong túi áo ngực ông, tờ ảnh in khung hình hồng ngoại gấp tư nằm phía trên chiếc lông thép giữ từ ngày đầu tiên, hai bằng chứng của mười ngày qua áp sát vào ngực ông theo từng nhịp bước.
Đức đi ngay sau Thân, súng săn đeo trên vai, ống tên dự phòng chứa mũi Ba đeo chéo sau lưng, cuộn dây thừng và đèn pin buộc ở thắt lưng. Anh đi với bước chân đều của người đã quen hành quân, thỉnh thoảng đưa mắt kiểm tra lại dây đeo của ống tên như một thói quen không cần nghĩ. Sau Đức là Khoa và Quân, hai người mang bộ đàm, cáng gấp, hộp cứu thương và túi đồ sơ cứu. Khoa đi tới chân vách là dừng, theo đúng phân công đã chốt: anh và Quân ở lại dưới đó làm trạm liên lạc và cứu hộ, giữ đường dây với thôn và với trạm, và chờ cáng ở vị trí Sinh đã dặn. Quân đeo bộ đàm trên vai, tay ôm thêm một túi pin và một cuộn băng, mắt cậu cứ thỉnh thoảng nhìn lên phía vách đông, nơi sương chiều chưa đổ nhưng đỉnh núi đã bắt đầu mờ đi.
Đoàn đi qua cổng nhà Hợi.
Chị Lành đứng ở cổng nhà mình, tay cầm chiếc khăn tay thêu, chiếc khăn từng nằm trong túi áo ngực của chồng chị khi thi thể anh được tìm thấy ở đáy Vực Sương và đã được trao lại cho chị. Chị không khóc, không gọi đoàn lại, không nói một lời nào với Thân khi ông đi ngang. Chị chỉ đứng rất lâu trong khung cổng, tay cầm khăn áp trước ngực, nhìn theo đoàn cho tới khi người cuối cùng khuất khỏi đoạn đường trước nhà. Thân đi qua cổng nhà ấy mà không dám nhìn lâu. Ông biết tang của Hợi vẫn còn hoãn, quan tài trong nhà vẫn chờ một cái tang chính thức làm chung vào ngày mười lăm, và ông biết phần của mình trong cái chờ ấy đã được ông nói ra ở sân trạm lúc đầu giờ chiều. Giờ không còn lời nào ông nói thêm được ở cổng nhà này nữa. Việc còn lại của ông nằm ở trên mỏm đá trước miệng hang.
Ở cổng thôn, Sinh đang nằm trên cáng chờ sẵn.
Người nhà khiêng anh ra từ trạm xá theo đúng lời anh dặn, đặt cáng ở chỗ râm sát cổng để anh tiễn đoàn. Vai phải của anh nẹp cứng, đùi trái băng trắng, mặt anh vẫn nhợt nhạt sau hai đêm mất máu và khâu vá, nhưng mắt anh tỉnh và tay trái của anh, tay còn lành, đặt sẵn trên mép cáng như đã chờ từ lâu. Đoàn dừng lại trước cáng của anh, không ai bảo ai.
Sinh nắm tay Thân trước.
Bàn tay trái của anh lạnh hơn bình thường, nhưng nắm chặt, như đêm qua ở sân chuồng nhà Thịnh khi anh nắm tay chú mình trên cáng và nói nó không chờ rằm đâu. Lần này anh không nhắc lại câu ấy. Anh chỉ nhìn lên cây nỏ sau lưng Thân và ống tên bên hông ông, kiểm tra bằng mắt như một người thợ săn kiểm tra trang bị của đồng đội lần cuối, rồi gật đầu rất nhẹ.
Rồi anh đưa tay sang nắm tay Đức.
- Lên dây cho chú thì lên cho chắc. Sinh nói với Đức, giọng yếu nhưng rõ từng chữ. - Tay chú run thì đá giữ hộ.
Đó là một câu dặn nghề nghiệp, ngắn và đúng việc: lên dây nỏ thần là việc của Đức ở chặng cuối, rãnh đá giữ nỏ là việc đã được tính trước, và tay run của một ông già bảy mươi hai tuổi không phải điều phải giấu trong đoàn này nữa. Đức nắm lại tay Sinh, đáp gọn rằng anh đã thuộc. Sinh buông tay, ra hiệu cho người nhà khiêng cáng lùi vào phía trong cổng, nhường đường cho đoàn đi qua, và anh nằm đó nhìn theo cho tới khi đoàn rẽ vào đường mòn sau núi.
Đường mòn sau núi lên chân vách đông là con đường Thân đã thuộc từ thời trai trẻ.
Nó không phải đường lên đền của khách hành hương, mà là lối mòn của người hái thuốc và kiểm lâm, men theo sườn núi phía sau thôn, qua những bãi đá và lùm cây thấp, dốc dần lên về phía vách đá phía đông Ngọc Hoa. Thân đi trước dẫn đường, bước chân ông chậm nhưng không lạc một chỗ rẽ nào: ở mỗi đoạn đá trơn ông dừng lại chỉ cho Đức chỗ đặt chân, ở mỗi đoạn sương bắt đầu đọng trên lá ông nhắc cả đoàn giữ khoảng cách để không mất dấu nhau. Khoa và Quân mang cáng và đồ cứu thương đi sau, nặng hơn, nên nhịp đoàn chậm lại theo người mang nặng nhất, đúng như cách Thân vẫn dẫn đội trong rừng từ những ngày đầu vụ việc.
Càng lên cao, thôn Yên Sơn càng nhỏ lại phía dưới.
Những mái nhà lẫn vào cây, tiếng người gọi nhau lo sơ tán nhỏ dần rồi mất hẳn sau một khúc quanh của sườn núi. Thay vào đó là tiếng gió qua tán thông, tiếng đá lạo xạo dưới đế giày và tiếng bộ đàm của Quân thỉnh thoảng rè lên khi Khoa kiểm tra liên lạc với trạm và với thôn theo giờ đã hẹn. Mỗi lần bộ đàm rè, Thân đều nghe rõ câu trả lời ngắn từ phía dưới: thôn đang dồn người vào nhà văn hóa, đàn trâu đã vào chuồng gần nhà, đường lên đền đã vắng hẳn. Kế hoạch ở dưới chân núi đang chạy đúng phần của nó, lặng lẽ như phần của đoàn trên này.
Khoảng mười sáu giờ, đoàn tới chân vách đông.
Đó là một khoảng đất đá tương đối bằng dưới chân vách, nơi đường mòn mở ra trước khi dốc đá dựng đứng lên phía miệng Hang Điểu. Sương bắt đầu đổ xuống từ trên cao, từng lớp mỏng trườn qua mặt đá và đọng lại ở những chỗ trũng, làm tầm nhìn phía trên vách mờ đi thấy rõ chỉ trong ít phút. Khoa dừng đoàn ở đây, đặt cáng và hộp cứu thương vào vị trí đã tính, kiểm tra lại sóng bộ đàm với trạm và thử liên lạc về thôn một lần cuối trước khi trời tối. Anh chốt lại vị trí trạm liên lạc và cứu hộ ngay tại chân vách này, giọng anh rõ và ngắn như khi anh chốt kế hoạch ở trạm lúc trưa.
- Em và Quân ở đây. Khoa nói với Thân. - Bộ đàm mở suốt. Cáng để sẵn ở chỗ này, người khiêng của thôn sẽ lên thêm trước khi trời tối hẳn theo lời Sinh bố trí. Chú và Đức lên mỏm, có việc gì gọi xuống, em cho người lên ngay theo đường mòn.
Thân gật đầu. Ông nhìn lên vách đá phía trên, nơi sương đang phủ dần và miệng hang còn chưa thấy rõ, chỉ có một vùng tối hơn hẳn trên nền đá xám ở rất cao. Rồi ông quay lại nhìn Đức, người từ giờ sẽ là người duy nhất đi tiếp cùng ông.
Trước khi leo, Thân quay lại dặn Quân một lần cuối, vì cậu là người giữ đường dây duy nhất giữa mỏm và thôn trong đêm nay. Ông dặn bộ đàm chỉ gọi khi có việc thật: khi đội cần người lên khiêng, khi tình hình dưới thôn thay đổi, hoặc khi ông ra lệnh gọi; ngoài ra giữ im lặng để pin còn đủ tới sáng và để tiếng rè của máy không làm lộ vị trí của trạm cứu hộ trong đêm. Quân gật đầu, nhắc lại từng ý một không thiếu chữ nào, rồi cậu đứng thẳng người ở cạnh chiếc cáng, nhìn ông ngoại mình như cách một người lính trực nhìn người rời trạm gác. Thân đưa tay phải vỗ nhẹ lên vai cậu, không nói thêm lời dặn dò nào về sự nguy hiểm, vì cậu đã nghe đủ ở trạm lúc sáng và lúc trưa rồi.
- Ở dưới này, cháu là tai của ông. Thân nói. - Nghe cho rõ, gọi cho đúng lúc.
- Cháu nhớ. Quân đáp. - Ông lên tới nơi thì gọi xuống một tiếng để cháu biết đường dây còn thông.
Đức đã tháo cuộn dây thừng ra kiểm tra lại một lần, đeo đèn pin vào vị trí dễ lấy, và đứng chờ lệnh của Thân ở đầu đoạn dốc đá.
Hai người bắt đầu leo lên mỏm đá trước miệng hang theo đường mòn sau núi mà Thân đã thuộc từ thời trai trẻ. Khoa và Quân ở lại phía dưới, bóng họ nhỏ dần sau lớp sương đầu tiên khi Thân ngoái lại ở khúc quanh đầu tiên của đoạn leo.
Leo được nửa đường, Đức dừng lại.
Anh đứng trên một phiến đá tương đối bằng, một tay vịn vào vách, nhìn xuống phía dưới rất lâu. Qua những lớp sương chiều đang đổ xuống từng đợt, thôn Yên Sơn hiện ra lốm đốm những đốm đèn sớm vừa được thắp lên trong những ngôi nhà sắp bỏ trống để dồn người vào nơi kiên cố, nhỏ và xa, như một cụm sáng yếu ớt nằm sát dưới chân một vách đá khổng lồ. Rồi Đức ngẩng lên, nhìn về phía miệng hang đen còn khuất trong sương trên đầu hai người, nơi họ sẽ phải tới trước khi mặt trời chạm rặng núi.
- Ở dưới kia là cả một thôn đang nín thở, chú ạ. Đức nói khẽ.
Thân đứng trên anh một bậc đá, không đáp ngay. Ông cũng nhìn xuống những đốm đèn ấy một lúc, rồi quay người leo tiếp, bước chân chậm và chắc trên mặt đá bắt đầu ẩm sương.
- Vậy thì mình leo cho tới nơi. Ông nói. - Đừng để họ nín thở tới sáng.