Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 12: Lệ Khâu Đầu
Sáng mười ba, Thắng xuống bản Nà Bó một mình, không báo trước, không mang theo giấy tờ. Con đường đất từ công trường xuống bản chạy men theo chân núi,…
Nội dung chương
Sáng mười ba, Thắng xuống bản Nà Bó một mình, không báo trước, không mang theo giấy tờ.
Con đường đất từ công trường xuống bản chạy men theo chân núi, qua những thửa ruộng bậc thang khô nứt của cuối mùa khô và mấy rặng tre già. Bản Nà Bó hiện ra yên bình trong nắng sớm: những nếp nhà sàn mái ngói âm dương, khói bếp mỏng, tiếng trẻ con gọi nhau đi học, tiếng mõ trâu lốc cốc ở đầu bản. Không ai nhìn Thắng với ánh mắt thù địch. Vài người gật đầu chào anh như chào một người khách lạ qua đường, dù chắc chắn cả bản đều biết anh là kỹ sư trưởng của công trường đang đào Gò Cấm.
Nhà ông Cừ ở gần cuối bản, một căn nhà sàn lớn, chân thang đã mòn bóng. Thắng bước lên sàn, khoanh tay chào. Ông Cừ ngồi ở gian giữa bên bếp lửa đã tàn, như thể ông biết trước sáng nay sẽ có khách. Bà Sâm, vợ ông, đang ngồi ở góc sàn phân loại một rổ chỉ sợi nhiều màu. Bà ngẩng lên nhìn Thắng một cái, gật đầu rất khẽ, rồi lại cúi xuống công việc của mình.
- Cậu ngồi đi. Ông Cừ chỉ tấm chiếu bên bếp. - Tôi biết cậu sẽ xuống. Người đã nghe tiếng hỏi trong sương thì thế nào cũng phải xuống một lần.
Thắng ngồi xuống. Anh không vòng vo. Lần này anh đến không phải để làm công tác dân vận, và ông già trước mặt anh cũng không phải người cần nghe những lời sáo rỗng. Anh kể lại hết, theo đúng thứ tự: mảnh gươm có chữ, dấu vó ngựa, vết xích đứt, tiếng tù và và câu hỏi trong đêm mùng tám, hàng cọc cổ trong đất sạt, bóng người bên suối và chiếc mũ sắt có vệt máu khô anh vừa nhặt được đêm qua. Anh kể bằng giọng đều đều của một người báo cáo, không thêm thắt, không giấu đoạn nào, kể cả đoạn anh đã trấn an anh em bằng thuyết vọng âm mà chính anh không còn tin nữa.
Ông Cừ nghe từ đầu đến cuối, không ngắt lời một lần nào. Bà Sâm cũng dừng tay phân loại chỉ từ lúc nào, ngồi im nghe hết. Khi Thắng kể xong, gian nhà im lặng một lúc lâu, chỉ có tiếng củi tàn nổ lách tách trong bếp.
- Cậu là người đầu tiên bên công trường chịu nói thật với tôi. Ông Cừ nói chậm rãi. - Vậy tôi cũng nói thật với cậu, như nói với con cháu trong bản.
Ông kể cho Thắng nghe lệ bản về đất chiến trường. Theo lời truyền của người già Nà Bó qua nhiều đời, vùng ải này sau những trận đánh lớn luôn có những người chết không toàn thây, không người nhà nhận mặt, nằm lại dọc đường, dọc suối. Người bản có lệ: gặp người chết trận lạc ở đâu thì chôn ở đó, phải chôn cho nguyên vẹn, thiếu phần nào thì tìm phần ấy về ghép lại, vì người chết không nguyên vẹn thì không yên, cứ đi tìm phần đã mất của mình mãi. Gò Cấm bị cấm đào chính vì người xưa biết dưới đó có nhiều người nằm chung một chỗ sau một trận đánh rất lớn, không ai phân biệt được ai với ai nữa.
Rồi ông nói đến điều quan trọng nhất, điều mà Thắng đến đây để hỏi. Ông nói về đoàn quân cụt đầu.
- Người trong bản gọi họ là đoàn quân đi tìm đầu. Họ đi trong sương, đúng nửa đêm về sáng, dọc con đường cũ qua ải. Người đi đêm trong bản lỡ gặp họ thì ông bà dạy một điều duy nhất, truyền từ đời này sang đời khác, trẻ con lên mười là phải thuộc.
Ông Cừ nhìn thẳng vào mắt Thắng, nói chậm từng chữ như đọc một câu luật.
- Gặp đoàn quân cụt đầu thì cúi mặt xuống, đứng yên tại chỗ, tuyệt đối không đáp lời họ hỏi, tuyệt đối không chỉ tay về phía họ. Họ hỏi gì cũng không trả lời. Họ đi qua thì thôi. Người cúi mặt im lặng, họ coi như không thấy, đi qua như mình là hòn đá bên đường. Còn kẻ nào đáp lời họ, hay chỉ tay vào họ, thì họ cho là kẻ đã lấy đầu của họ, giấu đầu của họ. Họ sẽ lấy lại. Cách họ lấy, thì người xưa kể là vặn cổ cho quay ngược ra sau, để kẻ ấy mang cái cổ gãy mà đi tìm đầu thay cho họ.
Thắng ngồi im, hai tay đặt trên đầu gối siết chặt lúc nào không hay. Mọi chi tiết trong lời kể của ông già khớp với những gì anh đã trải qua đến mức lạnh người: Hậu không đáp lời trong đêm mùng tám nên đến hôm nay vẫn bình an; cậu công nhân bên suối đứng im nhìn nên bóng người ấy đi qua như không thấy cậu ta. Một quy tắc sinh tử tồn tại trong miệng người bản mấy trăm năm, và nó vận hành chính xác như một quy trình an toàn đã được kiểm chứng bằng mạng người của nhiều thế hệ.
- Vậy không có cách nào khác sao bác? Thắng hỏi. - Thờ cúng, trấn yểm, mời thầy về làm lễ. Người ta vẫn làm những việc đó ở các nơi khác.
Bà Sâm từ góc sàn bỗng lên tiếng, giọng bà nhỏ nhưng rõ, là lần đầu tiên bà nói từ lúc Thắng vào nhà.
- Làm hết rồi, từ đời trước. Trấn ở đầu ải, yểm ở chân gò, cúng to cúng nhỏ đủ cả. Yên được ít lâu, rồi họ lại đi. Vì đầu của họ chưa về với người của họ. Thiếu đầu thì cúng gì cũng không yên được lâu.
Ông Cừ gật đầu, tiếp lời vợ.
- Chuyện này không giải bằng cúng bái. Chỉ có một cách thôi, mà cách ấy thì chưa ai làm nổi, vì không ai biết đầu của họ nằm ở đâu để mà mang về.
Rồi, như sực nhớ ra một việc đã định nói, ông Cừ đứng dậy, đi vào gian trong, một lúc sau quay ra với một chiếc hộp gỗ cũ trên tay. Ông mở hộp. Bên trong là một cuộn chỉ đỏ đã ngả màu theo năm tháng, một cây kim lớn và một mảnh vải trắng gấp ngay ngắn.
- Đời trước, nhà tôi từng khâu đầu chôn cất cho một người lính lạc chết bên suối. Ông nói, giọng trầm xuống. - Không ai biết anh ta là ai, người ở đâu. Ông cố tôi tìm thấy đầu của anh ta ở cách đó mấy chục bước, mang về, khâu lại vào thân bằng chỉ đỏ, khâm liệm tử tế rồi mới chôn. Từ đó dòng họ tôi giữ lệ khâu đầu. Người chết phải đủ đầu mình mới đi được. Lệ này, nhà tôi giữ đến đời tôi, rồi truyền xuống nữa.
Thắng nhìn cuộn chỉ đỏ trong hộp gỗ rất lâu. Một sợi chỉ nhỏ bé, một cây kim, một mảnh vải trắng. Đó là toàn bộ nghi lễ của một dòng họ vùng cao dành cho những người chết trận không tên. Không ồn ào, không trống chiêng, chỉ có sự nguyên vẹn được khâu lại bằng tay người sống.
Trên đường lên nhà ông Cừ lúc sáng, Thắng đã đi qua sân đình nhỏ của bản và thấy mấy đứa trẻ đang chơi đá cầu, vô tư như ở bất cứ làng quê nào khác. Bây giờ, ngồi trong gian nhà sàn này, anh bỗng hiểu ra sự bình yên của bản Nà Bó được giữ bằng cách nào. Không phải vì đoàn quân kia hiền lành, cũng không phải vì người bản có phép thuật gì cao siêu. Họ bình yên vì họ tôn trọng một quy tắc đơn giản và truyền nó cho con cháu như truyền một nghề: không đáp lời, không chỉ tay, cúi mặt mà đi qua. Mấy trăm năm sống cạnh một đoàn quân người chết, họ không tìm cách tiêu diệt đoàn quân ấy, cũng không dời bản đi nơi khác. Họ học cách sống chung, bằng sự im lặng và lòng trắc ẩn dành cho những người chết chưa được nguyên vẹn.
Sự hiểu ra ấy làm Thắng thấy xấu hổ cho nghề nghiệp của mình. Công trường của anh đến vùng đất này với máy xúc, bản vẽ và tiền phạt tiến độ, với niềm tin rằng mọi chướng ngại đều có thể san phẳng hoặc bồi thường. Chưa một lần, trong các cuộc họp chuẩn bị dự án, có ai đặt câu hỏi rằng người dân ở đây đã sống thế nào với mảnh đất này trước khi con đường đến. Hồ sơ dự án có đầy đủ số liệu về dân số, thu nhập, đền bù, nhưng không có một dòng nào về lệ bản, về Gò Cấm, về đoàn quân trong sương. Tất cả những gì quan trọng nhất của vùng đất này đều nằm ngoài hồ sơ, trong miệng một ông già bảy mươi tư tuổi và trong chiếc hộp gỗ của gia đình ông.
Thắng hỏi thêm ông Cừ về thời điểm đoàn quân xuất hiện. Ông nói họ chỉ hiện rõ trong sương dày, vào đúng một giờ sáng, không sớm không muộn, như một đội quân vẫn giữ đúng giờ hành quân của mấy trăm năm trước. Ngoài sương và ngoài giờ ấy, người sống chỉ nghe được tiếng của họ mà không thấy hình, và tiếng ấy cũng không làm hại ai nếu người nghe biết giữ im lặng. Ông dặn Thắng thêm một điều cuối cùng trước khi anh ra về: nếu có đêm nào buộc phải ở ngoài trời vào giờ ấy, thà đứng yên trong sương cho đến khi họ đi qua hết, còn hơn hoảng loạn chạy đi mà gọi tên nhau ầm ĩ, vì tiếng người đáp lại nhau trong sương rất dễ bị họ nghe nhầm thành tiếng trả lời câu hỏi của họ.
Anh đứng dậy, khoanh tay cảm ơn hai ông bà. Trước khi xuống thang, anh nói một câu mà chính anh cũng bất ngờ vì sự thành thật của nó.
- Cháu chưa hứa được gì với bác về con đường. Nhưng từ hôm nay, những gì bác nói, cháu sẽ ghi nhớ như ghi nhớ quy trình an toàn của công trường. Có thể cháu sẽ phải quay lại hỏi bác nhiều lần nữa.
Ông Cừ gật đầu, tiễn anh ra đầu thang. Nắng đã lên cao trên bản Nà Bó. Thắng đi bộ về công trường, trong đầu mang theo câu luật sinh tử của người Tày và hình ảnh cuộn chỉ đỏ trong chiếc hộp gỗ cũ, hai thứ nhẹ tênh mà nặng hơn mọi tập hồ sơ anh từng cầm.