Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 17: Đội Hình Dưới Lòng Gò
Ngày 16 tháng 03, Gò Cấm thức dậy dưới một lớp sương mỏng và một hàng rào dây vàng mới căng. Từ sáng sớm, đội khảo sát của Bảo tàng tỉnh đã có mặt:…
Nội dung chương
Ngày 16 tháng 03, Gò Cấm thức dậy dưới một lớp sương mỏng và một hàng rào dây vàng mới căng. Từ sáng sớm, đội khảo sát của Bảo tàng tỉnh đã có mặt: Nguyễn Thị Thu Hà cùng hai cán bộ trẻ, một người phụ trách trắc địa, một người phụ trách chụp ảnh và ghi chép hiện trường. Họ không mang theo máy xúc, không mang theo cuốc lớn. Dụng cụ của họ là bay nhỏ, chổi mềm, thước dây, cọc tiêu, máy dò kim loại và những túi đựng mẫu được đánh số sẵn.
Thắng đến gò lúc bảy giờ, với tư cách người liên lạc do ban quản lý chỉ định. Anh không còn quyền chỉ huy thi công, nhưng là người nắm rõ nhất địa hình công trường, vị trí từng lần đào xới, từng vụ sạt lở. Hà gật đầu khi thấy anh, không hỏi han chuyện đình chỉ, chỉ đưa cho anh một bản đồ khoanh vùng.
- Hôm nay chúng ta chỉ khảo sát bề mặt và dò tìm nông, Hà nói. - Không đào sâu. Anh Thắng đi cùng tôi, chỉ cho tôi đúng những vị trí đội thi công đã chạm vào từ ngày khởi công.
Họ bắt đầu từ mép tây của gò, nơi gầu xúc của Tùng chạm mảnh gươm hôm 03 tháng 03. Đất ở đó đã bị xới tung, lấp lại vội vàng, rồi lại sạt xuống trong đêm 14 tháng 03. Hà quỳ xuống, dùng bay gạt nhẹ lớp đất mặt, nhặt lên từng mẩu nhỏ. Chưa đầy mười phút, bà đã tìm thấy một mũi giáo rỉ sét nằm lẫn trong đất xáo trộn, lưỡi giáo ngắn, chuôi đã mục gần hết.
- Giáo bộ binh, Hà nói, ghi chép vào sổ. - Cùng niên đại với thanh gươm.
Đi thêm vài mét về phía tim tuyến, cán bộ trẻ phụ trách máy dò báo tín hiệu dày đặc. Hà cho cắm cọc đánh dấu. Dưới lớp đất mặt mỏng, họ tìm thấy thêm mấy đinh móng ngựa đóng cong, một mảnh giáp lá liễu bị bẻ gập và hai đoạn dây xích nhỏ đã rỉ thành một khối. Mỗi di vật được chụp ảnh tại chỗ, ghi tọa độ, bỏ vào túi riêng. Không thứ nào là rác hiện đại. Tất cả đều cũ đến mức đất đã ôm chặt lấy chúng như một phần của gò.
Bảo đi theo sau, tay cầm sổ ca của công trường, đối chiếu vị trí đào cũ.
- Hôm sạt taluy ngày 10 tháng 03, ở sườn đông lộ ra hàng cọc gỗ mục, Bảo nói. - Đội địa chất bảo là cọc gia cố cũ.
- Không phải cọc gia cố đường, Hà đáp mà không ngẩng lên. - Đó là cọc chiến lũy. Người xưa đóng cọc chặn lối qua Ải. Vị trí của nó sẽ giúp tôi xác định hướng đội hình, nếu dưới này thật sự có người nằm.
Đến giữa buổi sáng, Hà yêu cầu Thắng cho người kéo dây chia gò thành từng ô vuông năm mét, theo đúng quy trình khảo sát bề mặt. Công nhân công trường được huy động làm lao động phụ, nhưng chỉ được đứng ngoài dây, chuyển đất đã sàng lọc bằng tay, tuyệt đối không dùng máy. Minh đứng ở rìa khu vực phong tỏa, điện thoại reo liên tục. Anh ta không vào trong dây, chỉ nhìn đồng hồ và nhìn bản tiến độ trong tay trợ lý.
- Chị Hà, Minh gọi với vào, - khảo sát bề mặt mất bao lâu? Nếu kéo dài, chúng tôi phải báo cáo chủ đầu tư phương án tuyến khác.
- Anh Minh, Hà đứng thẳng lên, phủi đất trên găng tay, - tôi vừa tìm thấy di vật chiến trường ở sáu vị trí khác nhau trong một buổi sáng. Đây không phải một bãi rác cổ. Đây là một bãi chiến trường nguyên vẹn hiếm có, nằm ngay trên cửa Ải Chi Lăng. Theo luật di sản, mọi hoạt động thi công xâm hại thêm đều phải dừng cho đến khi khảo sát kết luận. Anh muốn báo cáo gì thì báo cáo, nhưng máy của anh không được chạm vào gò này nữa khi chưa có quyết định của tỉnh.
Minh mím môi, không cãi. Anh ta quay đi nghe điện thoại, giọng nhỏ dần về phía lán.
Giữa trưa, đoàn nghỉ ăn ngay tại lán dã chiến dựng tạm bên rìa gò. Hà mở sổ ghi chép, đối chiếu từng túi di vật buổi sáng với bản đồ địa hình và mấy trang địa chí huyện mà bà mang theo. Bà kể cho Thắng nghe, bằng giọng của người đang giảng bài hơn là trò chuyện, rằng cửa Ải Chi Lăng hẹp, hai bên là núi đá và khe sâu, quân đi qua chỉ có một lối. Trận đánh năm 1427 diễn ra đúng ở đoạn thung lũng này: nghĩa quân Lam Sơn phục kích, quân Minh bị dồn vào thế hẹp, chết rất nhiều ngay trên đường hành quân. Sử sách ghi thắng lợi và ghi tên các tướng lĩnh, nhưng không ghi hết tên những người lính thường đã nằm lại. Thắng nghe mà nghĩ đến dãy cọc tiêu ngoài kia. Lịch sử nhớ những người ra lệnh, còn đất thì nhớ tất cả mọi người.
Hà cũng nói rõ nguyên tắc làm việc của bà, để Thắng truyền lại cho đội công trường: không ai được tự ý mang di vật về lán, không ai được đào thử cho vui, mọi hiện vật dù chỉ là một chiếc đinh cũng phải ghi tọa độ. Một bãi chiến trường bị đào bừa sẽ mất hết thông tin, giống như một hiện trường tai nạn bị dọn sạch trước khi điều tra tới nơi. Thắng gật đầu. Câu ví von đó, ông nói, thì đội công trường hiểu ngay.
Buổi chiều, công việc chuyển sang dò kim loại toàn bộ mặt gò. Cán bộ trắc địa đi từng hàng ngang, máy dò quét sát mặt đất. Thắng đi song song ở hàng bên, cầm cọc tiêu đánh dấu mỗi điểm có tín hiệu mạnh. Ban đầu tín hiệu rải rác: một đinh, một mảnh giáp, một mũi tên cong. Nhưng càng vào trung tâm gò, tín hiệu càng dày, nối thành cụm, rồi thành dải.
Thắng là người đầu tiên nhận ra hình dạng của dải cọc tiêu đang cắm. Anh đứng lùi lại mấy bước, nhìn toàn bộ mặt gò từ sườn tây. Những chiếc cọc đỏ trắng mà họ cắm suốt buổi chiều không nằm lộn xộn. Chúng xếp thành một dải dài hơi cong, rộng khoảng bốn mét, chạy dọc theo hướng của lối qua Ải xưa, đúng hướng hàng cọc gỗ chiến lũy đã lộ ra hôm sạt taluy. Đầu dải ở phía bắc hơi phình ra, như một mũi nhọn. Phần còn lại kéo thẳng về phía nam, thưa dần.
Giống hệt một đội hình đang hành quân, bị đóng băng giữa chừng. Hoặc một đội hình đang nằm.
Hà cũng đã nhận ra. Bà đứng ở đầu dải cọc, nhìn xuống mặt đất dưới chân mình rất lâu, rồi ra hiệu cho cán bộ trắc địa ghi lại toàn bộ sơ đồ tín hiệu. Gió chiều thổi qua gò mang theo mùi đất ẩm và mùi sắt rỉ thoang thoảng từ những túi di vật đã mở.
- Anh Thắng, bà nói khẽ, chỉ đủ hai người nghe, - anh từng nói đêm ở đây có tiếng vó ngựa và tiếng gươm đao.
Thắng gật đầu. Anh không kể chi tiết cuộc giáp mặt lúc một giờ sáng ngày 14 tháng 03. Chưa phải lúc, và Hà cũng không hỏi sâu. Bà là người của bằng chứng, cũng như anh từng là người của bằng chứng, trước khi bằng chứng bắt đầu biết nói.
- Tôi không bình luận chuyện đó, Hà nói tiếp. - Nhưng tôi nói được điều này với tư cách khảo cổ: mật độ kim loại dưới lòng gò này không phải của một trận đánh thoáng qua. Người ta đánh nhau, bỏ vũ khí rơi rớt thì ít. Mật độ này là của cả một đơn vị đã nằm lại tại chỗ, cùng với vũ khí và giáp trụ của họ.
Thắng đi dọc dải cọc một lượt cuối, đếm thầm số ô vuông đã mở. Ở ô gần tim tuyến nhất, lớp đất sàng lọc để lộ thêm một hàng khuy giáp nhỏ xếp liền nhau, cong theo hình một bờ vai người. Cán bộ trẻ chụp ảnh xong, phủ vải lên, không ai nói cười như lúc mới tới. Ngay cả mấy công nhân công trường vốn quen nói đùa trong giờ nghỉ cũng lặng đi khi nhìn những vật nhỏ bé ấy. Họ là những người đã lái máy qua gò này suốt mười hai ngày, đã ăn ngủ trên lán cách gò vài chục mét, đã nghe tiếng vó ngựa trong sương mà nửa tin nửa ngờ. Giờ đây, từng chiếc đinh, từng mảnh giáp được đánh số cẩn thận khiến câu chuyện không còn là lời đồn trong giờ ăn trưa nữa. Nó đã có tọa độ, có túi mẫu, có sổ ghi chép và có chữ ký của chuyên gia. Thắng hiểu, từ hôm nay trở đi, không ai trong đội còn có thể nói câu không biết mà cho máy đi tiếp được nữa.
Mặt trời xuống thấp sau dãy núi phía tây. Đội khảo sát thu dọn dụng cụ, phủ bạt lên các ô đã mở, cắm biển cảnh báo quanh gò. Thắng ở lại sau cùng với Hà, nhìn dải cọc tiêu đỏ trắng nổi bật trên nền đất xám trong ánh sáng cuối ngày. Anh nhớ lại đêm sương đầu tiên, khi mặt đất đoạn tuyến in đầy dấu vó ngựa sắt mà không ai giải thích được. Giờ đây, dưới mặt đất ấy, một dải kim loại khác cũng đang in thành hình, lặng lẽ hơn, lâu đời hơn.
Trước khi rời gò, cán bộ trắc địa chạy một lượt dò cuối cùng để kiểm tra nhiễu. Anh ta đi chậm từ đầu dải đến cuối dải, tai nghe áp chặt. Thắng và Hà đứng ở rìa dây vàng, nghe tiếng máy dò truyền qua loa nhỏ: những tiếng bíp rời rạc ở hai đầu, rồi dày lên, liền mạch, không ngắt quãng suốt chiều dài trung tâm gò.
Thắng đứng yên nghe hết lượt dò đó, tay nắm chặt chiếc cọc tiêu cuối cùng chưa cắm xuống đất.
Máy dò kim loại kêu liên tục thành một dải dài dưới lòng gò, như hình một đội hình đang nằm.