Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 18: Vết Khói Lạnh

Ngày 17 tháng 03, Thắng lái xe đưa Nguyễn Thị Thu Hà xuống bản Nà Bó. Con đường đất từ công trường vào bản chỉ dài hơn hai cây số, nhưng xe phải đi chậm…

Nội dung chương

Ngày 17 tháng 03, Thắng lái xe đưa Nguyễn Thị Thu Hà xuống bản Nà Bó. Con đường đất từ công trường vào bản chỉ dài hơn hai cây số, nhưng xe phải đi chậm vì sương sớm chưa tan hết trong thung lũng và vì những ổ gà còn đọng nước từ trận mưa bụi mấy hôm trước. Hà ngồi ở ghế phụ, tay giữ tập hồ sơ khảo sát trên đùi, thỉnh thoảng nhìn ra cửa kính về phía dãy núi sau bản, nơi có lòng Khe Cạn mà bà mới chỉ thấy trên bản đồ.

Thắng vẫn đang bị đình chỉ chỉ huy hiện trường. Ban quản lý giữ anh ở vai trò liên lạc vì một lý do rất thực tế: anh là người duy nhất trong đội thi công đã xuống bản gặp già làng Vi Văn Cừ nhiều lần, đã nghe ông nói về đất cấm, về cấm kỵ im lặng và về lệ khâu đầu của dòng họ. Hà cần người dẫn đường, còn dự án cần một người mà ông Cừ chịu mở cửa tiếp đón. Thắng hiểu vị trí của mình lúc này mỏng như sợi chỉ: không còn quyền ra lệnh trên công trường, nhưng lại là cầu nối duy nhất giữa máy móc, hồ sơ và bản làng.

Nhà ông Cừ nằm ở cuối bản, mái ngói âm dương cũ, sân đất nện, hàng rào tre đã ngả màu. Ông Cừ ra đón ở bậc thềm, chống gậy, mắt nhìn Hà trước rồi mới nhìn Thắng. Bà Vi Thị Sâm đứng trong khung cửa bếp, tay cầm khăn, không bước ra. Không khí trong sân yên lặng đến mức Thắng nghe rõ tiếng gà bới đất sau nhà.

- Tôi là Thu Hà, cán bộ Bảo tàng tỉnh, Hà giới thiệu, hai tay đưa giấy giới thiệu. - Hôm nay tôi xuống thưa chuyện với bác, vì công việc ở Gò Cấm. Chúng tôi đã tìm thấy di vật thế kỷ mười lăm trên gò, rất có thể liên quan đến người xưa nằm lại ở đó. Trước khi động thổ thêm bất cứ chỗ nào, tôi muốn nghe lệ của bản và nghe bác chỉ đường.

Ông Cừ cầm giấy, đọc chậm, rồi gật đầu. Thái độ của ông khác hẳn hôm ông bị Minh cười xòa mời rượu xua khéo ở lán công trường. Người đến hôm nay không mang theo chai rượu, không mang theo lời hứa tiến độ. Bà mang theo sổ ghi chép và sự tôn trọng tối thiểu mà ông đã chờ từ ngày đầu tiên.

- Vào nhà uống nước đã, ông Cừ nói. - Chuyện đất có người nằm, không nói vội ở sân được.

Trong nhà, trên bàn thờ nhỏ có bát nhang đã nguội và một đĩa trầu. Ông Cừ rót nước chè xanh, kể lại những điều Thắng đã từng nghe vào ngày 13 tháng 03, nhưng lần này đầy đủ hơn vì có Hà ghi chép và hỏi lại từng chi tiết. Đất Gò Cấm là đất cấm của bản từ nhiều đời. Người xưa đi qua Ải chết ở đó rất nhiều, không chỉ một trận. Dân bản không đào gò, không lấy đất gò về đắp nền nhà, không chăn thả qua đêm ở chân gò khi sương xuống. Ai đi đêm gặp đoàn quân cụt đầu thì cúi mặt, đứng yên, không đáp lời, không chỉ tay.

Hà ghi chép không bỏ sót một câu. Bà hỏi về nguồn gốc của lệ, về những lần dân bản từng đào phải hài cốt, về cách xử lý khi gặp xương người lạ. Ông Cừ trả lời rành rọt: gặp xương thì đắp lại, thắp nhang, báo cho già làng, không được mang về, không được nói đùa. Có những việc người ngoài cho là mê tín, nhưng với dân bản, đó là cách giữ cho người sống không phạm vào người chết.

Rồi ông đặt điều kiện, giọng chậm và dứt khoát.

- Tôi đồng ý dẫn đoàn của cô đi xem đất, xem suối, ông nói. - Nhưng có ba điều phải giữ. Một là không đào bừa. Muốn mở chỗ nào phải nói trước với tôi và với cô Hà đây, đào tới đâu dừng tới đó. Hai là trước khi động thổ ở gò, phải làm lễ xin phép ở chân gò theo lệ bản, dù các anh chị tin hay không tin. Ba là nếu thật sự có người nằm dưới gò, đào lên tới đâu phải lo chôn cất tử tế tới đó, không được đào lên rồi bỏ dở giữa chừng. Người chết đã chờ lâu lắm rồi, không chờ thêm một lần bỏ dở nữa đâu.

Hà gật đầu ngay.

- Ba điều đó, tôi đồng ý thay mặt đoàn khảo sát, bà nói. - Riêng điều thứ hai, lễ xin phép sẽ do bác chủ trì, đoàn chúng tôi tham gia và chịu chi phí theo lệ. Chúng tôi làm khảo cổ, nhưng đất này có chủ là bản, có lệ là bản. Không ai được phép coi thường.

Thắng ngồi bên, nghe hai người chốt từng điều mà thấy nhẹ đi một phần. Mười bốn ngày trước, cũng những lời này của ông Cừ đã bị gạt đi bằng một chén rượu và một câu cười. Hôm nay, chúng được ghi vào biên bản làm việc, có chữ ký của chuyên gia khảo cổ. Sự thay đổi không làm Tùng lành chân lại được, không xóa được vụ sạt lở, nhưng ít nhất nó chặn đứng khả năng tệ nhất: máy xúc lại vào gò như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Trước khi bà Sâm từ bếp lên, ông Cừ còn kể thêm một chuyện mà Thắng chưa từng nghe. Khoảng những năm ông còn trẻ, một đội trắc địa từ tỉnh về đo đạc quanh Ải đã vô tình cuốc phải một hố xương ở sườn gò phía đông. Hồi đó chưa có quy trình khảo cổ như bây giờ, người ta chỉ lấp vội lại, thắp một tuần nhang rồi rút đi. Sau đó mấy năm liền, dân bản kể rằng tiếng vó ngựa trong sương dày hơn, nhiều người đi đêm về ốm mê man, trẻ con trong bản hay giật mình khóc lúc một giờ sáng. Ông Cừ nói chuyện đó không để dọa ai, chỉ để đoàn hiểu rằng đất chiến trường không giống đất thường: động vào mà không lo cho trọn, thì người sống trong vùng phải gánh hậu quả dài lâu. Hà hỏi kỹ năm tháng, vị trí sườn đông, tên những người già trong bản còn nhớ chuyện, và ghi tất cả vào sổ như một hồ sơ tiền lệ. Thắng nghe mà hiểu thêm một điều: những gì sắp làm ở Gò Cấm không phải việc chưa từng có ai nghĩ tới, mà là việc nhiều đời đã biết là phải làm nhưng chưa ai làm được tới nơi tới chốn.

Ông Cừ cũng dặn Thắng riêng một câu, khi Hà ra sân xem hàng rào và hỏi đường xuống suối: làm việc với người chết thì phải giữ lời còn hơn làm việc với người sống, vì người sống còn cãi lại được, còn người chết chỉ biết chờ. Thắng ghi nhớ câu đó suốt quãng đường về.

Bà Sâm từ bếp mang lên một ấm nước mới. Bà đặt ấm xuống, không ngồi, chỉ đứng sau lưng chồng, ánh mắt dừng lại trên mặt Thắng. Bà nhìn anh rất lâu, lâu đến mức Thắng phải quay lại nhìn thẳng vào bà. Trong mắt bà lão sáu mươi tám tuổi có một sự nhận ra nào đó khiến anh bất an.

- Bác Sâm, Hà lên tiếng, - bác là người giữ lệ khâu đầu của dòng họ, phải không ạ? Bác Cừ vừa nhắc đến chuyện đời trước nhà mình từng khâu đầu chôn cất cho một người lính lạc chết bên suối.

Bà Sâm gật đầu, nhưng vẫn không rời mắt khỏi Thắng.

- Chuyện đó để sau, bà nói. - Hôm nay chưa tới lúc kể hết. Khi nào đào thấy người, khâu đầu mới thành việc phải làm. Còn bây giờ, tôi chỉ hỏi cậu Thắng một câu thôi.

Thắng ngồi thẳng lên.

- Bác cứ hỏi ạ.

Bà Sâm bước lại gần thêm một bước, nhìn vào mắt anh như người thầy thuốc nhìn vào vết thương cũ.

- Cậu đã gặp họ rồi, phải không? Không phải nghe tiếng, mà là gặp thật, đứng trước mặt họ lúc một giờ sáng ở đoạn gò.

Thắng im lặng vài giây. Trong gian nhà gỗ của bản Nà Bó, trước mặt già làng và chuyên gia khảo cổ, anh không còn lý do để nói dối bằng những từ như vọng âm hay ảo giác nữa. Anh gật đầu.

- Vâng. Đêm mười bốn, cháu giáp mặt đoàn quân ở đoạn tuyến qua gò. Cháu cúi mặt, nín thở, họ đi qua. Cháu sống là nhờ lời bác Cừ dặn hôm trước.

Ông Cừ thở dài, như trút được một gánh nặng đã mang từ ngày đầu tiên lên công trường. Hà không xen vào. Bà chỉ lặng lẽ ghi thêm một dòng vào sổ, nét chữ chậm hơn trước. Trên đường trở lại công trường sau đó, Hà nói với Thắng rằng bà làm khảo cổ mười lăm năm, đã khai quật nhiều khu mộ cổ và bãi chiến trường, nhưng đây là lần đầu tiên một già làng đặt điều kiện chôn cất tử tế như một điều khoản bắt buộc trong biên bản khảo sát, và cũng là lần đầu tiên bà thấy điều khoản đó hoàn toàn đúng về mặt nghề nghiệp lẫn mặt con người. Thắng đáp rằng anh từng coi những lời của ông Cừ là chuyện cản trở tiến độ, cho đến đêm anh đứng giữa đoạn tuyến lúc một giờ sáng và hiểu ra rằng có những quy tắc không nằm trong tiêu chuẩn kỹ thuật nào mà vẫn cứu được mạng người. Xe về tới cổng công trường khi nắng chiều đã nhạt, hàng rào dây vàng quanh Gò Cấm nổi bật giữa thung lũng yên tĩnh lạ thường, và Thắng biết ngày mai, lần đầu tiên, họ sẽ động vào gò đất đó bằng lễ phép thay vì bằng gầu xúc. Nhưng câu nói của bà Sâm vẫn bám theo anh suốt quãng đường, như một vệt lạnh chưa tan giữa hai mắt.

Bà Sâm đưa tay lên, không chạm vào người Thắng, chỉ chỉ vào khoảng giữa hai mắt anh, rồi nói câu nói khiến cả gian nhà im bặt.

- Cậu đã gặp họ rồi. Mắt cậu còn vết khói lạnh.

Chương khác

Xem thêm