Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 22: Tử Sĩ Lam Sơn
Ngày 21 tháng 03, lán dã chiến ở chân Gò Cấm biến thành một phòng hồ sơ thu nhỏ. Trên bàn dài, Hà bày toàn bộ di vật đã thu được trong bốn ngày khảo sát…
Nội dung chương
Ngày 21 tháng 03, lán dã chiến ở chân Gò Cấm biến thành một phòng hồ sơ thu nhỏ. Trên bàn dài, Hà bày toàn bộ di vật đã thu được trong bốn ngày khảo sát và khai quật: mảnh gươm khắc chữ, mũi giáo, đinh móng ngựa, mảnh giáp, khuy đồng, chuôi gươm gãy và chiếc mũ sắt cổ Thắng nhặt ở bờ Khe Cạn. Bên cạnh di vật là chồng địa chí huyện Chi Lăng, bản sao sử liệu về trận Chi Lăng và sơ đồ hố đào được vẽ tay cập nhật đến ô cuối cùng.
Thắng ngồi đối diện Hà, cùng Bảo và ông Cừ. Ông Cừ được mời lên không phải để chứng kiến khai quật như hôm trước, mà để nghe kết luận định danh và đối chiếu với truyền khẩu của bản. Hà nói rõ từ đầu: kết luận của bà dựa trên di vật, địa tầng và sử liệu. Phần truyền khẩu của bản sẽ được ghi riêng, không trộn lẫn, nhưng bà muốn nghe ông Cừ xác nhận những điểm trùng khớp.
- Tôi bắt đầu từ mảnh gươm, Hà nói, đeo găng và cầm di vật đầu tiên lên. - Lưỡi gươm, cách rèn, kiểu chữ khắc và lớp rỉ đều cho niên đại thế kỷ mười lăm, giai đoạn đầu nhà Lê. Mũi giáo và giáp lá liễu cùng thời. Đinh móng ngựa thuộc loại đóng cho ngựa chiến thời đó. Không một di vật nào trong số này thuộc thế kỷ mười sáu về sau, càng không phải đồ hiện đại giả cổ.
Bà mở địa chí, chỉ vào đoạn mô tả cửa Ải Chi Lăng và trận đánh năm 1427.
- Tháng mười năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo phục kích quân Minh tại Ải Chi Lăng. Quân Minh thua lớn, tướng giặc tử trận, đường tiếp viện bị cắt. Sử sách ghi đây là một trong những trận quyết định của cuộc kháng chiến mười năm. Vị trí trận đánh chính là thung lũng hẹp này, lối qua Ải duy nhất mà ngày nay tuyến đường tránh của chúng ta đang mở lại.
Bảo hỏi nhỏ:
- Vậy những người trong hố là quân Minh hay quân ta?
- Là quân ta, Hà đáp chắc chắn. - Ba căn cứ. Thứ nhất, giáp và vũ khí là của nghĩa quân Lam Sơn, không phải giáp chính quy nhà Minh. Thứ hai, cách chôn: thân bị vùi chung một hố ngay tại trận địa, không quan tài, không đồ tùy táng, đó là cách kẻ thắng trận xử lý xác của đối phương, không phải cách một đội quân chôn đồng đội của mình. Thứ ba, và quan trọng nhất, toàn bộ hài cốt đều bị chặt đầu sau khi chết. Quân Minh khi thắng một trận nhỏ lẻ trong lúc rút lui hoặc phản kích thường chặt đầu tù binh và tử sĩ của ta mang đi thị uy, ghi công, rồi vứt bỏ. Đầu của người chết bị coi là chiến lợi phẩm. Thân bị bỏ lại, vùi vội để dọn đường hành quân.
Phòng lán im lặng. Thắng nhìn xuống sơ đồ hố đào: những ô vuông, những con số đánh dấu từng bộ xương, những đường kẻ thể hiện hướng nằm của đội hình. Sáu trăm năm trước, những con người đó đã đứng thành đội hình ở cửa Ải này, cầm những thanh gươm và mũi giáo giờ nằm trên bàn. Họ chết ở đây, bị chặt đầu ở đây hoặc bị mang đầu đi khỏi đây, và bị vùi xuống đất lạnh mà không một người thân nào biết mộ phần ở đâu.
Ông Cừ ngồi nghe từ đầu đến cuối không xen một lời. Đến khi Hà kết luận, ông mới chậm rãi lên tiếng, kể lại điều mà người già trong bản đã truyền cho nhau từ đời này sang đời khác, điều mà chính ông từng nghe ông nội mình kể bên bếp lửa: ngày xưa, sau trận đánh lớn ở Ải, quân giặc thắng một keo nhỏ đã gom đầu người của quân ta mang đi, sau đó vứt bỏ ở phía sau núi, nơi có con suối chỉ chảy khi mưa lớn, còn quanh năm khô cạn giữa đá. Người bản gọi con suối đó là Khe Cạn từ đó đến nay. Không ai dám lội sâu vào lòng suối nhặt xương, vì sợ phạm vào người chết và vì sợ đoàn quân không đầu đi tìm đầu sẽ đi theo về bản.
Hà ghi chép toàn bộ lời kể, ghi rõ đây là truyền khẩu dân gian, nhưng nét mặt bà cho thấy bà coi trọng nó không kém sử liệu. Trong khảo cổ chiến trường, truyền khẩu của dân địa phương nhiều khi giữ đúng vị trí mà sử sách bỏ sót, vì sử sách ghi chuyện vua tướng, còn dân bản ghi chuyện đất đai nơi họ sống mỗi ngày.
Thắng là người nối hai phần thông tin lại với nhau thành một câu hỏi hoàn chỉnh. Anh đứng lên, chỉ vào bản đồ địa hình treo trên vách lán: một bên là Gò Cấm với hố chôn tập thể, một bên là dãy núi thấp, phía sau núi là lòng Khe Cạn chạy dài từ thượng nguồn xuống hạ nguồn, nơi anh từng nhặt được chiếc mũ sắt cổ, nơi công nhân trực đêm từng thấy bóng người không đầu quờ quạng trong sương.
- Vậy là thân ở đây, đầu ở phía suối, Thắng nói. - Nếu đúng như vậy, chúng ta phải tổ chức khảo sát Khe Cạn ngay. Không phải đi dạo xem xét, mà là tìm kiếm có hệ thống, chia đoạn, ghi tọa độ, giống như đã làm ở gò.
- Đúng, Hà gật đầu. - Nhưng trước hết phải hoàn thành đếm đủ số thân thể trong hố chôn. Biết chắc có bao nhiêu người nằm ở đây, mới biết phải tìm bao nhiêu hộp sọ ở suối. Thiếu con số đó, mọi việc tìm kiếm đều là mò mẫm. Ngày mai đoàn mở rộng khai quật toàn bộ vệt sụt. Anh Thắng chuẩn bị nhân lực phụ và bảo vệ hiện trường. Ông Cừ, tôi mời bác và bà con chứng kiến như hôm đầu.
Sau phần kết luận, Hà dành thêm một giờ để giải thích cho đội liên lạc hiểu vì sao việc định danh này quan trọng vượt xa một bản báo cáo khảo cổ thông thường. Nếu hố chôn chỉ là mộ cổ vô danh không rõ niên đại, quy trình xử lý sẽ là khai quật, di dời và bàn giao theo thủ tục chung. Nhưng khi hố chôn được định danh là tử sĩ của một trận đánh có ghi trong sử sách, trên một cửa ải được cả nước biết tên, thì mỗi bộ hài cốt trong hố đều mang một trọng lượng khác: họ là những người lính vô danh đã góp phần vào một thắng lợi nổi tiếng, bị lãng quên trong đất gần sáu trăm năm, nay bị đào trúng bởi một dự án đường bộ. Cách đoàn xử lý họ sẽ được tỉnh, báo chí và dân bản nhìn vào rất kỹ. Thắng nghe mà thấm thía: từ hôm nay, đào ở Gò Cấm không còn là việc kỹ thuật hay việc khảo cổ thuần túy nữa. Nó là việc trả một món nợ lịch sử, và mọi sai sót từ đây về sau đều sẽ bị ghi nhớ lâu hơn mọi sai sót về tiến độ.
Ông Cừ bổ sung một chi tiết nhỏ mà Hà ghi ngay vào biên bản: người bản khi đi qua chân Gò Cấm vào những đêm sương dày thường hạ giọng nói chuyện, trẻ con được dặn không chỉ tay về phía gò, không gọi tên người lạ trong sương. Những dặn dò tưởng như mê tín ấy, đặt cạnh kết luận khảo cổ hôm nay, hóa ra đều là cách dân bản tự bảo vệ mình trước một sự thật mà họ không có chữ nghĩa để ghi lại: ở đó có người chết oan chưa được chôn cất trọn vẹn, và họ vẫn còn đi lại trong sương để tìm phần thân thể bị mang đi.
Chiều hôm đó, Hà viết báo cáo định danh gửi tỉnh ngay tại lán dã chiến, Thắng ký xác nhận phần hiện trường thi công. Báo cáo kết luận rõ ràng: hố chôn tập thể tại Gò Cấm là nơi vùi thân thể tử sĩ nghĩa quân Lam Sơn tử trận trong trận Chi Lăng năm 1427, đầu của họ bị quân Minh chặt mang đi, nhiều khả năng bị vứt xuống khu vực Khe Cạn sau núi theo sử liệu phụ và truyền khẩu địa phương. Đề xuất: mở rộng khai quật, đếm đủ số lượng hài cốt, đồng thời khảo sát Khe Cạn để tìm phần hộp sọ còn thiếu.
Khi báo cáo được gửi đi, nắng chiều đã tắt trên thung lũng. Ông Cừ đứng ở cửa lán, nhìn về phía dãy núi sau bản, nơi lòng suối cạn nằm khuất sau những rặng cây và đá xám. Ông đứng rất lâu, gậy chống xuống đất, rồi mới quay sang Thắng và Hà, giọng trầm xuống như người vừa nghe lại một câu chuyện cũ của chính gia đình mình sau nhiều chục năm.
Thắng tiễn ông Cừ ra đến cổng khu phong tỏa. Ông già đi chậm, thỉnh thoảng dừng lại nhìn về phía núi như đang nghe ngóng một tiếng động nào rất xa mà người trẻ không nghe thấy. Thắng hỏi ông có sợ khi đoàn bắt đầu lội suối tìm đầu người hay không. Ông Cừ lắc đầu, nói sợ thì cả bản đã sợ mấy trăm năm rồi, sợ mãi cũng phải có ngày hết sợ, khi có người chịu làm cho xong việc dở dang của người xưa. Câu nói ấy theo Thắng suốt buổi tối, khi anh ngồi soạn danh sách nhân lực và dụng cụ cho buổi lội suối đầu tiên vào sáng hôm sau: ủng cao su, găng tay, sàng lọc, túi mẫu, dây chia đoạn và đèn pin đội đầu cho những đoạn suối khuất nắng.
Đêm đó, khi ghi nhật ký hiện trường, Thắng viết thêm một dòng không có trong mẫu biểu nào: kể từ hôm nay, mọi nhát cuốc trên công trường này đều phải trả lời được câu hỏi đào để làm gì và đào cho ai.
Anh tắt đèn lán, đứng trong bóng tối nghe tiếng gió núi một lúc lâu rồi mới về chỗ ngủ.
Ông Cừ nghe xong lặng người.
- Ở suối. Người xưa nói, suối sau núi là nơi quân giặc vứt đầu người.