Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 28: Năm Ngón Tay Rỉ
Ngày 26 tháng 03, công trường tuyến đường tránh Ải Chi Lăng không còn là một công trường nữa. Cổng chính có công an đứng gác, khu vực Gò Cấm và bờ Khe…
Nội dung chương
Ngày 26 tháng 03, công trường tuyến đường tránh Ải Chi Lăng không còn là một công trường nữa. Cổng chính có công an đứng gác, khu vực Gò Cấm và bờ Khe Cạn bị căng dây phong tỏa phục vụ điều tra, toàn bộ máy móc tắt máy, lán chỉ huy trở thành nơi làm việc của đoàn điều tra liên ngành. Thắng ngồi trong phòng họp từ sáng đến chiều, trả lời từng câu hỏi về hồ sơ tai nạn, về ca trực đêm, về đoạn ghi âm, về những lần hiện tượng xảy ra trước đó mà ban quản lý chưa từng báo cáo chính thức lên cấp trên.
Cái chết của Nguyễn Văn Hậu được lập hồ sơ là vụ chết người chưa rõ nguyên nhân tại nơi làm việc. Công an huyện, thanh tra lao động và đại diện chủ đầu tư cùng vào cuộc. Gia đình Hậu từ Hải Phòng đã lên tới bệnh viện huyện từ chiều hôm trước. Thắng cùng Minh đến gặp gia đình trong phòng chờ của nhà xác. Anh không nhớ mình đã nói những gì trong buổi gặp đó, chỉ nhớ người mẹ của Hậu nắm chặt tay anh, hỏi đi hỏi lại một câu duy nhất: con bà có đau lâu không. Thắng đáp thật, theo đúng đoạn ghi âm: chỉ một tiếng hét ngắn, sau đó im lặng. Anh không thêm, không bớt, không dùng chữ tai nạn lao động để làm nhẹ đi điều đã xảy ra trong sương.
Ngoài hành lang bệnh viện, Minh đứng chờ, tay cầm tập hồ sơ báo cáo bổ sung về việc sửa biên bản mà anh ta đã hứa gửi đi. Sau cái chết của Hậu, tập hồ sơ đó không còn là chuyện nội bộ của dự án nữa. Nó trở thành tài liệu liên quan trực tiếp đến trách nhiệm quản lý an toàn của nhà thầu trong toàn bộ quá trình dẫn tới hai vụ tai nạn nghiêm trọng liên tiếp: Tùng trọng thương và Hậu tử vong. Minh nói với Thắng, giọng khàn đặc, rằng anh ta sẽ nộp báo cáo ngay trong ngày, không chờ đoàn kiểm tra yêu cầu, và chấp nhận mọi hình thức xử lý.
Trong khi đó, ở công trường, dư luận đã vượt khỏi hàng rào dây vàng. Báo chí địa phương cử phóng viên xuống huyện, đứng ngoài cổng công trường chụp ảnh, phỏng vấn người dân trong bản và công nhân ở các quán nước ven đường. Tin đồn về công trường đào trúng mộ cổ không đầu, công nhân chết vặn cổ trong đêm sương, lan lên mạng xã hội với đủ thứ thêu dệt: có trang tin giật tít lớn về oan hồn chiến trường, có người kể lại chuyện đoàn quân hành quân như đã tận mắt thấy, có người bịa thêm số người chết. Hà phải thay mặt đoàn khảo sát trả lời ngắn gọn qua điện thoại của Sở: xác nhận có phát hiện hố chôn tập thể tử sĩ lịch sử đang được xử lý theo quy trình, không bình luận về các yếu tố tâm linh, đề nghị báo chí chờ thông cáo chính thức.
Thắng hiểu sự thận trọng đó, nhưng anh cũng biết, với người dân bản Nà Bó và với đội công trường, thông cáo chính thức không thay đổi được sự thật họ đã sống qua: một người trẻ đã chết đúng theo cách mà già làng cảnh báo từ ngày đầu tiên, vì đáp lời một câu hỏi trong sương.
Trong phòng họp của đoàn điều tra buổi sáng, Thắng phải trả lời lại từ đầu nhiều chuyện mà anh từng kể rời rạc trong các biên bản rời rạc trước đây: lần đầu tiên nghe tiếng vó ngựa, lần lắp camera chỉ ghi được sương trắng, lần giáp mặt đoàn quân lúc một giờ sáng và sống sót nhờ cúi mặt im lặng, lần cho thi công xuyên đêm dẫn tới sạt lở. Lần này, không ai trong phòng cười, không ai ghi hai chữ ảo giác vào biên bản làm việc. Một cán bộ điều tra hỏi anh vì sao biết rõ quy tắc nguy hiểm như vậy mà vẫn để tồn tại ca trực một mình ở bờ suối. Thắng đáp thẳng rằng đó là lỗi tổ chức của anh và của ban chỉ huy, anh nhận trách nhiệm, và anh đề nghị ghi nguyên văn câu trả lời đó vào biên bản thay vì ghi tắt. Sự im lặng sau câu trả lời của anh kéo dài mấy giây, rồi buổi làm việc chuyển sang phần hồ sơ của nhà thầu, nơi những biên bản bị sửa của Minh được đặt lên bàn đối chiếu từng dòng với bản gốc của các đội.
Chiều hôm đó, kết quả giám định pháp y sơ bộ được thông báo cho ban chỉ huy và gia đình, với sự có mặt của Thắng. Bác sĩ pháp y đọc kết luận bằng giọng nghề nghiệp, chậm và rõ: tử vong do gãy đốt sống cổ và tổn thương tủy cổ, gây ngừng hô hấp, thời điểm tử vong khoảng một giờ sáng ngày 25 tháng 03. Không có dấu vết bị đánh đập bằng vật cứng. Không có dấu vết bị siết cổ bằng dây hoặc vật mềm thông thường. Không có độc chất trong xét nghiệm nhanh. Điều khiến cả phòng im lặng nằm ở phần mô tả dấu vết trên da vùng cổ.
Quanh cổ của Hậu, ở hai bên và phía sau gáy, có năm vết bầm tụ máu xếp thành hình bàn tay nắm, kích thước lớn hơn bàn tay người trưởng thành bình thường, khoảng cách giữa các ngón tay rộng bất thường. Khi đối chiếu dưới kính, trong các vết bầm có lẫn những hạt li ti màu nâu đỏ, thành phần là oxit sắt cổ, dạng rỉ kim loại lâu năm, không phải rỉ của dụng cụ lao động hiện đại tại công trường. Bác sĩ pháp y nói rõ: đây là nhận định mô tả dấu vết, cơ quan giám định không kết luận về tác nhân siêu nhiên, nhưng dấu vết này không khớp với bất kỳ bàn tay người nào, cũng không khớp với cơ cấu kẹp của máy móc thi công đang có tại hiện trường.
Thắng cầm bản sao biên bản giám định, đọc đi đọc lại phần mô tả đó. Năm ngón tay kim loại rỉ. Anh nhớ lại những bộ giáp rỉ sét trong hố chôn, những bàn tay xương nắm chuôi gươm gãy, những dấu chân sắt in trên cát ẩm. Mọi vật chứng của thung lũng này, dù qua tay khảo cổ, công an hay pháp y, đều quay về cùng một chất liệu: sắt cổ đã rỉ qua gần sáu trăm năm đất lạnh.
Tối hôm đó, Minh bị triệu tập làm việc riêng với đoàn điều tra về trách nhiệm ém tai nạn. Thắng ở lại lán, cùng Hà và ông Cừ bàn việc tiếp theo cho khu Gò Cấm đang bị phong tỏa một phần: hài cốt vẫn nằm dưới bạt che, cần người trực bảo vệ liên tục, cần phương án xử lý tổng thể trình tỉnh phê duyệt, không thể để bốn mươi bảy người nằm chờ vô thời hạn trong lúc hồ sơ hình sự còn đang mở. Ông Cừ nói một câu mà Thắng ghi vào sổ: người sống kiện nhau bao lâu cũng được, người chết thì chỉ còn ít ngày nữa là tới tháng Ba âm lịch, lệ bản không chờ hồ sơ của người sống đâu.
Thắng gấp biên bản giám định lại, cho vào túi hồ sơ cùng bản sao báo cáo bổ sung của Minh và đoạn ghi âm đêm trực. Anh biết hồ sơ vụ việc từ đây sẽ đi theo hai ngả hoàn toàn khác nhau: một ngả là hồ sơ pháp lý của người sống, với kiểm điểm, xử lý trách nhiệm và những cuộc họp dài ngày ở huyện và ở tỉnh; một ngả là hồ sơ quy tập của người chết, với con số bốn mươi bảy, lòng suối Khe Cạn và hạn chót đêm rằm tháng Ba đang đến gần từng ngày. Cả hai ngả đều bắt đầu từ cùng một đêm sương, và cả hai đều không cho phép bất kỳ ai trong ban chỉ huy lùi lại phía sau được nữa. Anh đề nghị Hà triệu tập một buổi làm việc ngay ngày mai, có ông Cừ và bà Sâm tham dự, để chốt phương án duy nhất còn lại cho Gò Cấm và Khe Cạn trước khi phong tỏa hiện trường làm lỡ mất thời gian của cả người sống lẫn người chết.
Đêm đó, lần đầu tiên sau cái chết của Hậu, Thắng ngủ được hai giờ liên tục trong lán, không phải vì yên tâm, mà vì kiệt sức. Trong giấc ngủ ngắn đó anh không mơ thấy đoàn quân, chỉ mơ thấy một bàn tay lớn bằng sắt rỉ từ từ mở ra trên mặt đá bên bờ suối, các ngón tay buông lỏng như vừa thả xuống một vật gì rất nhẹ, rồi tan vào sương.
Sáng hôm sau, Thắng sẽ phải ngồi vào bàn họp với tư cách người đề xuất phương án quy tập, mang theo biên bản pháp y này như bằng chứng cuối cùng rằng thung lũng này không còn chỗ cho sự chần chừ hay mặc cả về tiến độ nữa.
Anh cất bản sao ảnh pháp y vào cặp hồ sơ cá nhân, cạnh tấm ảnh hàng dấu chân sắt chụp ở bờ suối hôm phát hiện thi thể. Hai tấm ảnh, một của cơ quan giám định và một của chính tay anh chụp, nói cùng một câu chuyện bằng hai thứ ngôn ngữ khác nhau của người sống: ngôn ngữ hồ sơ và ngôn ngữ hiện trường. Cả hai đều dẫn tới cùng một kết luận mà không văn bản nào dám viết thẳng ra: đoàn quân cụt đầu ở thung lũng Chi Lăng là có thật, họ đã chạm vào một người sống, và họ sẽ còn hành quân mỗi đêm sương cho đến khi được trả lại đủ đầu của mình.
Đêm xuống, khu phong tỏa lên đèn vàng, tiếng côn trùng trong cỏ nghe rõ hơn mọi đêm trước vì không còn tiếng máy nào át đi.
Thắng ghi thêm vào cuối biên bản làm việc của ngày một dòng cam kết cá nhân về việc phối hợp quy tập, rồi ký tên rõ ràng.
Ảnh pháp y cho thấy quanh cổ Hậu có vết bầm năm ngón tay kim loại rỉ, không khớp bất kỳ bàn tay người nào.