Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 29: Trả Đầu Cho Họ

Ngày 27 tháng 03, trong gian nhà gỗ của già làng Vi Văn Cừ ở bản Nà Bó, ba người ngồi quanh một chiếc bàn thấp và đi tới quyết định quan trọng nhất kể từ…

Nội dung chương

Ngày 27 tháng 03, trong gian nhà gỗ của già làng Vi Văn Cừ ở bản Nà Bó, ba người ngồi quanh một chiếc bàn thấp và đi tới quyết định quan trọng nhất kể từ ngày công trường khởi công. Một bên là Hoàng Đức Thắng, kỹ sư trưởng vừa trải qua hai tuần đình chỉ, một đồng nghiệp trọng thương và một đồng nghiệp tử vong. Một bên là Nguyễn Thị Thu Hà, chuyên gia khảo cổ nắm toàn bộ hồ sơ di vật, địa tầng và con số bốn mươi bảy. Ở giữa là ông Cừ, người giữ ký ức, lệ bản và cấm kỵ của thung lũng này. Bà Sâm ngồi ở ghế bên bếp, tay lần tràng hạt gỗ, nghe nhiều hơn nói, nhưng mỗi câu bà nói ra đều được cả bàn ghi lại.

Thắng trình bày trước. Anh đặt lên bàn toàn bộ hồ sơ tóm tắt: kết luận định danh tử sĩ Lam Sơn, biên bản đếm đủ bốn mươi bảy thân thể, hai mảnh xương sọ tìm thấy ở Khe Cạn, ảnh pháp y của Hậu và đoạn mô tả dấu chân sắt ở bờ suối. Anh nói rõ mục đích của buổi gặp: không phải để bàn có nên làm gì hay không nữa, mà để chốt phương án duy nhất còn lại và trình lên tỉnh phê duyệt ngay trong tuần này.

- Theo tôi, chỉ còn một phương án, Thắng nói. - Quy tập toàn bộ. Tìm đủ đầu ở Khe Cạn, đối chiếu từng hộp sọ với từng thân thể ở gò, khâu đầu theo lệ của bản, khâm liệm vào tiểu sành, quy tập về một khu mộ chung bên Gò Cấm. Làm xong việc đó, đoàn quân mới có lý do để dừng hành quân. Mọi phương án khác, từ lấp hố làm đường tiếp đến mời thầy về trấn yểm, đều là né tránh.

Hà tiếp lời bằng phần chuyên môn. Bà trình bày quy trình khảo cổ của một cuộc quy tập quy mô này: phân đoạn toàn bộ lòng Khe Cạn, gom hộp sọ theo từng đoạn với tọa độ cụ thể, làm sạch và phân loại tại phòng xử lý mẫu, lập sơ đồ đối chiếu hộp sọ với thân thể dựa trên vị trí đội hình, kích thước xương và đặc biệt là vết chém trên đốt sống cổ phải khớp với vết chém trên hộp sọ tương ứng. Bà nhấn mạnh con số đích là bốn mươi bảy, không chấp nhận con số gần đủ, vì mỗi thân thể trong hố đều là một con người riêng, thiếu một người là thiếu một phần của đội hình và của lễ quy tập.

Ông Cừ nghe xong cả hai phần trình bày, gật đầu chậm rãi. Rồi ông kể lại phần mà hồ sơ khảo cổ và biên bản công an đều không có: tiền lệ trấn yểm của bản.

Theo lời ông, dòng họ của ông và dân bản Nà Bó không phải chưa từng tìm cách làm cho đoàn quân yên nghỉ mà không cần quy tập. Nhiều đời trước, khi chưa có đường sá và công trường, dân bản đã từng mời thầy từ nơi khác về làm lễ trấn ở chân gò, từng chôn vật trấn theo lời thầy dạy, từng cúng lớn vào dịp rằm để cầu cho tiếng vó ngựa im đi. Lần nào cũng vậy: yên được một thời gian ngắn, vài tháng, một mùa, rồi đến một đêm sương dày nào đó, tiếng vó ngựa lại quay lại thung lũng, đều nhịp như chưa từng có lễ trấn nào xảy ra. Ông nội của ông Cừ từng kết luận một câu mà dòng họ truyền lại đến nay: người ta không trấn được một đội quân đang đi tìm đầu của mình. Trấn yểm chỉ làm họ đi chậm lại ít lâu, giống như đóng tạm một cánh cửa mà người bên ngoài vẫn còn chìa khóa là nỗi oan chưa được trả.

Bà Sâm lúc đó mới lên tiếng, giọng nhỏ và chắc.

- Muốn người ta nằm yên, phải trả cho người ta thứ người ta bị lấy mất, bà nói. - Đầu của họ bị mang đi, thì trả đầu. Thân của họ nằm một nơi, thì mang đầu về đúng nơi đó, khâu lại bằng chỉ đỏ cho liền, khâm liệm cho ấm, đếm đủ người mới đóng nắp tiểu, mới dựng bia, mới cắm nhang. Thiếu một cái đầu, lễ không trọn. Lễ không trọn, quân không tan. Đó là lệ từ đời người lính lạc bên suối, không phải lệ tôi bịa ra hôm nay.

Thắng hỏi về thời hạn. Ông Cừ đáp ngay, không cần xem lịch: lệ bản quy định việc khâu đầu và quy tập cho người chết trận ở Ải phải hoàn tất trước đêm rằm tháng Ba âm lịch, khi trăng tròn nhất của mùa xuân và cũng là lúc sương ở thung lũng dày nhất trong năm. Năm nay, đêm rằm tháng Ba rơi vào ngày 12 tháng 04 dương lịch. Từ hôm nay đến hôm đó còn hơn hai tuần. Hai tuần để gom đủ bốn mươi bảy hộp sọ dọc một lòng suối dài, đối chiếu, khâu đầu, khâm liệm và quy tập. Thắng nghe con số ngày tháng đó mà thấy nó vừa là hạn chót vừa là cơ hội cuối cùng: quá hạn, theo lời ông Cừ, đoàn quân sẽ hành quân qua cả mùa mưa, và lòng suối khi có nước sẽ cuốn đi, vùi sâu thêm những hộp sọ còn lại, làm công việc tìm kiếm khó gấp nhiều lần.

Buổi làm việc kết thúc bằng một bản ghi nhớ ba bên, viết tay ngay tại nhà ông Cừ: phương án quy tập toàn bộ bốn mươi bảy tử sĩ là phương án duy nhất trình tỉnh phê duyệt; đoàn khảo sát phụ trách chuyên môn đối chiếu; nhà ông Cừ giữ lệ khâu đầu và chủ trì nghi lễ; Thắng phụ trách điều phối hiện trường, nhân lực và an toàn; dự án đường bộ tạm dừng toàn bộ đoạn qua Gò Cấm và Khe Cạn cho đến khi quy tập hoàn tất. Minh, dù không có mặt ở bản, đã đồng ý qua điện thoại sẽ ký vào văn bản đề xuất với tư cách giám đốc dự án và chịu trách nhiệm về phần kinh phí hỗ trợ quy tập của nhà thầu.

Trên đường từ bản về công trường, Thắng đi bộ cùng Hà một đoạn qua chân núi. Hà nói rằng trong nghề của bà, đây là lần đầu tiên một phương án xử lý di tích lại đồng thời là phương án xử lý một hiện tượng không giải thích được, và bà không thấy hai việc đó mâu thuẫn nhau chút nào: dù tin hay không tin vào đoàn quân trong sương, việc trả lại đầu cho bốn mươi bảy người lính vô danh vẫn là việc phải làm, đúng về khảo cổ, đúng về luật di sản và đúng về đạo lý. Thắng đáp rằng với anh, thứ tự đã đảo ngược: anh tin vào đoàn quân trước, rồi mới hiểu ra việc quy tập là đúng về mọi mặt còn lại.

Tối hôm đó, Thắng soạn xong văn bản đề xuất quy tập trong lán, gửi đi qua thư điện tử của ban quản lý kèm bản ghi nhớ ba bên. Anh viết ở dòng cuối cùng của văn bản một câu không có trong mẫu biểu hành chính nào, rồi quyết định giữ lại, không xóa.

Đêm đó, Thắng gọi điện về bệnh viện huyện, báo cho Tùng biết phương án quy tập vừa được chốt. Tùng nghe qua điện thoại, giọng còn yếu vì thuốc giảm đau, nhưng tỉnh táo lạ thường. Cậu nói rằng chân mình còn lâu mới lành, không xuống suối gom sọ cùng anh em được, nhưng cậu xin một việc: khi đội bắt đầu ghi sổ quy tập, cho cậu giữ cuốn sổ đó, ghi tên từng hộp sọ tìm được, từng tiểu sành đã khâm liệm, để cậu nằm một chỗ vẫn góp được một phần vào việc của đội. Thắng hứa sẽ mang sổ lên bệnh viện cho Tùng khi phương án được tỉnh phê duyệt chính thức. Cúp máy, anh ngồi yên trong lán tối, nghĩ về đội hình những con người đang cùng nhau làm một việc chưa từng có tiền lệ trong bất kỳ dự án đường bộ nào: một kỹ sư bị đình chỉ điều phối, một giám đốc chờ kiểm điểm chịu kinh phí, một chuyên gia khảo cổ giữ chuẩn đối chiếu, một già làng giữ lệ, một lái máy xúc nằm viện giữ sổ, và cả một bản làng đứng phía sau lưng họ.

Trước khi chìm vào giấc ngủ ngắn, Thắng mở lại bản ghi nhớ ba bên, đọc từng dòng chữ tay của ông Cừ, của Hà và của chính mình. Ba nét chữ khác nhau trên cùng một tờ giấy, ba thứ thẩm quyền khác nhau trên cùng một vùng đất: thẩm quyền của lệ bản, thẩm quyền của khoa học và thẩm quyền của người đã tận mắt giáp mặt đoàn quân. Anh biết văn bản này khi lên tới tỉnh sẽ còn phải qua nhiều cửa, nhiều cuộc họp, nhiều câu hỏi về kinh phí và thời hạn. Nhưng anh cũng biết, kể từ buổi chiều hôm nay ở bản Nà Bó, không ai trong ba người ký tên còn đường lui nữa. Họ đã hứa với nhau, và quan trọng hơn, đã hứa trước bát nhang của nhà ông Cừ, rằng sẽ trả đủ đầu cho bốn mươi bảy người lính vô danh của trận Chi Lăng.

Ngoài hiên lán, sương đêm bắt đầu tụ lại trên mặt đường công vụ, mỏng và yên tĩnh, như thể thung lũng cũng đang lắng nghe quyết định vừa được chốt trong gian nhà gỗ của bản Nà Bó và chờ xem người sống có giữ được lời hứa của mình hay không.

Thắng tắt đèn, nằm xuống giường xếp, và lần đầu tiên sau nhiều đêm, anh thiếp đi với một kế hoạch rõ ràng trong đầu thay vì một nỗi lo không tên.

Trong sổ tay của anh, dưới bản ghi nhớ, còn một dòng anh tự viết cho mình: từ mai, mọi ca làm việc ở suối đều phải kết thúc trước khi sương xuống, không ngoại lệ.

Anh gấp sổ lại, đặt dưới gối, và nhắm mắt trong tiếng gió núi đều đặn ngoài cửa sổ lán.

Ông Cừ nói.

- Muốn họ nằm yên, phải trả đầu cho họ. Thiếu một cái cũng không được.

Chương khác

Xem thêm