Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 36: Đào Bằng Tay
Sáng ngày 1 tháng 4, đoạn cuối Khe Cạn không còn tiếng máy. Thắng đứng ở mép hố sạt, nhìn xuống lòng suối bị đá vùi kín như một cái nắp vừa sập xuống đêm…
Nội dung chương
Sáng ngày 1 tháng 4, đoạn cuối Khe Cạn không còn tiếng máy.
Thắng đứng ở mép hố sạt, nhìn xuống lòng suối bị đá vùi kín như một cái nắp vừa sập xuống đêm qua. Tảng lớn, tảng nhỏ chồng lên nhau, khe nào cũng nhét đầy bùn khô và sỏi vụn. Dưới hai mét đá ấy, theo sơ đồ của Hà, là những hộp sọ cuối cùng còn thiếu của bốn mươi bảy người. Đêm qua, khi máy xúc của Minh vừa gạt thêm một gầu, cả vách đá đã trượt xuống trong một tiếng rên dài. Một hộp sọ lăn ra và vỡ đôi ngay trước mắt mọi người. Tiếng tù và trong khe núi nổi lên dữ dội đến mức không ai dám nói thêm một câu nào cho đến khi trời hửng.
Bây giờ thì im lặng. Im lặng của một công trường đã hết đường lùi.
- Từ hôm nay, đoạn này không dùng máy nữa. - Thắng nói với cả đội đang đứng thành vòng quanh hố. - Đào bằng tay. Chuyền đá bằng tay. Ai mệt thì đổi ca. Ai sợ thì cứ nói thẳng, tôi không ép ai xuống lòng suối sau sáu giờ tối.
Không ai bỏ đi. Bảo đứng ở hàng đầu, tay đã quấn băng ở khớp ngón vì đêm qua bê đá cứu hộp sọ vỡ. Mấy công nhân trẻ hơn thì lặng lẽ xắn tay áo. Ở phía sau, Minh đứng cách một quãng, áo sơ mi lấm bùn từ đêm qua chưa thay. Ông ta không còn vẻ vội vã của những ngày ép tiến độ. Khi Thắng nhìn sang, Minh chỉ gật đầu một cái rất khẽ, như người biết mình vừa gây ra một việc không thể gỡ bằng lời xin lỗi.
Hà trải sơ đồ ra trên nắp thùng gỗ đặt tạm bên bờ suối. Bản vẽ được bọc trong túi nilon trong suốt, các ô đánh số từ một đến bốn mươi bảy. Bốn mươi mốt ô đã được tô kín bằng bút đỏ. Sáu ô cuối cùng để trống, nằm ở góc dưới cùng của tờ giấy, ngay dưới dòng chữ ghi tay của chính Hà: đoạn đá lở cuối suối, chưa tiếp cận được bằng tay.
- Phần xương đã gom ở khu tạm bị xáo trộn đêm qua, tôi đã phân loại lại từ năm giờ sáng. - Hà nói, giọng đều và khô như mọi lần chị nói về hồ sơ. - Tin tốt là không mất thêm bộ nào. Xương vỡ vẫn đối chiếu được theo vị trí và vết chém ở đốt sống cổ. Tin xấu là những hộp sọ cuối giờ không còn nằm rải trên mặt lòng suối như trước nữa. Chúng bị vùi sâu, có thể đã lăn xuống các khe đá phía dưới. Đào đến đâu phải ghi đến đó, không được xê dịch thứ tự.
Thắng gật đầu. Anh đã làm công binh mười năm, anh hiểu thế nào là gỡ một hiện trường bị vùi lấp. Khác nhau chỉ ở chỗ ngày xưa anh gỡ mìn và sập hầm vì nhiệm vụ, còn lần này anh gỡ đá để tìm đầu người đã chết gần sáu trăm năm. Và ở chỗ lần này, nếu anh làm sai, cái giá không tính bằng biên bản.
Ông Cừ đến vào lúc gần trưa, đi cùng mấy thanh niên và hai người phụ nữ của bản Nà Bó. Họ không mang theo cuốc xẻng lớn, chỉ mang xà beng ngắn, rổ tre và những tấm vải trắng đã giặt sạch gấp gọn trong túi vải. Bà Sâm đi sau cùng, tay cầm một bó nhang và một cuộn chỉ đỏ nhỏ bỏ trong túi áo. Bà không nói gì, chỉ đi một vòng quanh khu chứa tiểu sành tạm, đếm lại bằng mắt, rồi mới quay sang Thắng.
- Bản nghe chuyện đêm qua rồi. - Ông Cừ nói. - Người của bản xin góp tay. Đất này là đất của người nằm ở đây từ trước khi có bản, có đường. Việc trả đầu cho họ không phải việc của riêng công trường các anh nữa.
Thắng định nói lời cảm ơn thì ông Cừ đã xua tay. Ông già bảy mươi bốn tuổi không thích nghe cảm ơn trong lúc tay chân còn đang phải làm. Ông chỉ vào đống đá.
- Đào thì đào, nhưng đào có lệ. Đá lở ở suối này không giống đá thường. Lớp trên là đá mới sạt đêm qua, còn mềm chân. Lớp dưới là đá cũ của lòng suối, đã nằm yên từ lâu. Đừng cậy sức bẩy cả tảng lớn. Bẩy sai một tảng, cả vách lại trượt.
Đó là câu nói có ích nhất trong buổi sáng. Thắng chia đội thành ba tổ. Tổ một gỡ đá mặt và chuyền ra ngoài theo hàng người. Tổ hai giữ thành hố, chèn gỗ chống những tảng có dấu hiệu trượt. Tổ ba làm việc ở khu tạm, phụ Hà phân loại lại những phần xương bị xáo trộn, lau sạch bùn đá bám trên từng mảnh. Không ai được làm quá hai tiếng liên tục ở đáy hố. Anh ghi rõ từng ca lên tấm bảng trắng dựng ở lán chỉ huy tạm, nét chữ ngay ngắn như hồi còn trong quân ngũ.
Đến đầu giờ chiều, hàng người chuyền đá đã chạy đều. Tiếng đá va vào nhau khô khốc, tiếng thở dốc, tiếng Bảo hô nhịp để cả hàng cùng nhấc. Thắng tự xuống đáy hố ở ca đầu tiên. Dưới đó, không khí nặng mùi đất ẩm và một mùi sắt rỉ rất thoảng, cái mùi anh đã ngửi thấy lần đầu ở Gò Cấm và không bao giờ quên được nữa. Anh bẩy từng viên đá bằng xà beng ngắn, tay trần sờ vào từng khe tối để đoán xem bên dưới là đá hay là thứ gì khác mỏng manh hơn đá rất nhiều.
Giữa ca thứ hai, có tiếng xe chống gậy lạch cạch trên con đường đất dẫn vào khu quy tập.
Tùng đến.
Chân phải của cậu vẫn bó bột trắng đến gần đầu gối, hai cây nạng kẹp chặt dưới nách. Áo công nhân mặc không cài hết cúc, mặt gầy đi nhiều sau nửa tháng nằm viện, nhưng mắt thì tỉnh. Cậu chống nạng đi qua dãy tiểu sành tạm, dừng lại một lúc trước ô đất trống dành cho những người chưa tìm được đầu, rồi mới đi tới chỗ Thắng vừa leo lên khỏi hố.
- Anh Thắng. - Tùng nói. - Em không đào được, em biết. Nhưng em ghi sổ được. Chị Hà cần người ghi số đối chiếu, đúng không. Cho em ngồi ghi sổ quy tập. Em nằm viện nghe tin anh Hậu mà không làm được gì, em chịu không nổi nữa.
Thắng nhìn xuống cây nạng và cái chân bó bột. Anh nhớ đêm mười bốn tháng ba, tiếng sạt lở và tiếng Tùng hét lên dưới đống gỗ lán. Lỗi của đêm đó có một phần rất lớn là của anh. Anh đã định nói cậu về nghỉ thêm, nhưng Tùng đã nói trước, giọng thấp mà chắc.
- Em là người đào trúng mảnh gươm đầu tiên. Việc này bắt đầu từ tay em, thì cho em theo nó đến cuối.
Hà đi tới, nghe hết câu chuyện mà không chen vào. Chị đưa cho Tùng cuốn sổ bìa cứng mới, trong đã kẻ sẵn bốn mươi bảy dòng.
- Ghi bằng bút chì trước. - Chị nói. - Tìm được đến đâu, tôi đọc số, cậu ghi số. Sai một dòng là sai cả một người. Cậu làm được không.
- Được, chị. - Tùng đáp, và lần đầu tiên sau nhiều ngày, Thắng thấy cậu cười, dù chỉ rất thoáng.
Từ lúc đó, cuốn sổ quy tập nằm trên chiếc bàn nhỏ kê ngay miệng hố, và tiếng đọc số của Hà thành nhịp của cả buổi chiều. Đá được chuyền lên, đất được rây qua sàng tre của người bản, từng mảnh nhỏ khả nghi đều được đặt lên khay vải trắng chờ kiểm tra. Có lúc cả đội nín thở khi một vật tròn lẫn trong đá được nhấc lên, rồi lại thở ra thất vọng vì đó chỉ là một hòn cuội suối tròn nhẵn. Có lúc Thắng phải ra lệnh dừng hẳn mười phút vì một tảng đá lớn ở thành hố vừa nứt thêm một đường mới.
Minh ở lại đến cuối ngày. Ông ta không chỉ đạo gì nữa. Khi hàng người chuyền đá thiếu một người ở đoạn dốc, Minh lặng lẽ bước vào đứng thế chỗ, hai tay bê một tảng đá vừa sức, mặt đỏ lên vì gắng sức. Không ai nói gì về chuyện đêm qua trong lúc đó. Nhưng Thắng hiểu, có những lời chuộc lỗi không nói bằng miệng được.
Chiều xuống nhanh trong lòng suối. Bóng núi phủ qua hố đào, không khí lạnh dần. Thắng cho dừng ca cuối khi ánh sáng không còn đủ để phân biệt đá với xương. Đội rút lên bờ, rửa tay chân ở thùng nước đặt sẵn, ăn vội bữa cơm do người bản nấu mang lên. Cơm trắng, canh rau và mấy miếng thịt kho mặn, ăn ngay bên khu đất quy tập mà ngon lạ thường sau một ngày bê đá.
Trước khi trời tối hẳn, Hà gọi Thắng lại bên bàn sổ sách. Chị lật cuốn sổ Tùng vừa ghi, chỉ vào sáu dòng còn trống ở cuối.
- Hôm nay mới gỡ được lớp mặt. - Chị nói. - Chưa thấy thêm hộp sọ nào, điều đó là bình thường với độ sâu này. Nhưng tôi cần anh nghe rõ phần còn lại. Đêm qua tôi đã đối chiếu lại toàn bộ phần xương bị xáo trộn ở khu tạm, cả những mảnh vỡ của hộp sọ bị đá đè đôi. Số lượng vẫn khớp. Xương vỡ vẫn đối chiếu được từng người, không lẫn, không thiếu. Nền của chúng ta còn nguyên.
Thắng gật đầu, tưởng câu chuyện chỉ có vậy. Hà nhìn xuống hố đá đã tối sẫm ở phía dưới, giọng chậm lại.
- Nhưng những hộp sọ cuối ở đoạn này, theo vị trí lăn của đá đêm qua, giờ gần như chắc chắn đã bị vùi xuống sâu hơn trước rất nhiều. Tôi ước tính lớp đá phủ lên chúng bây giờ dày khoảng hai mét. Đào tay qua hai mét đá lở, trong lòng suối hẹp này, không phải việc một ngày.
Thắng nhìn theo mắt chị. Hai mét đá. Mười một ngày nữa là đêm rằm tháng Ba. Anh bỗng nghe rất rõ tiếng nước rỉ đâu đó dưới lòng suối cạn, thứ nước chưa thành dòng, chỉ mới thấm qua đá, báo hiệu mùa mưa đang ở rất gần sau lưng núi.