Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 39: Người Thứ Bốn Mươi Sáu
Ngày 4 tháng 4, đội đào đến lớp đá cuối cùng của đoạn cuối suối. Từ tinh mơ, Thắng đã cho người kiểm tra lại toàn bộ gỗ chèn và dây neo ở thành hố. Lớp…
Nội dung chương
Ngày 4 tháng 4, đội đào đến lớp đá cuối cùng của đoạn cuối suối.
Từ tinh mơ, Thắng đã cho người kiểm tra lại toàn bộ gỗ chèn và dây neo ở thành hố. Lớp đào hôm nay mỏng hơn, nhưng nguy hiểm hơn, vì nó nằm ngay sát mép ngoài của khối đá lở, nơi chỉ cần gỡ sai một tảng kê là cả phần đá còn lại có thể trượt xuống lòng suối và bịt kín lối ra của người đang ở dưới đáy. Anh quy định rõ: mỗi ca chỉ hai người ở đáy, một người đào, một người quan sát thành hố và không làm việc gì khác ngoài quan sát. Có tiếng rắc, có đá vụn rơi không rõ nguyên nhân, là cả hai phải rút lên ngay, không tranh luận, không cố lấy thêm bất cứ thứ gì.
Hà ở trên bờ, hồ sơ của hai người còn thiếu được chị kẹp riêng trong một bìa cứng màu khác hẳn. Chị đã dặn Tùng từ tối hôm trước: hôm nay nếu tìm được thêm một hộp sọ ở đoạn này, thì đó gần như chắc chắn là tử sĩ thường cuối cùng của nhóm năm người bị vùi ở đoạn này. Còn vị tướng thì không ở đây. Chị nói điều đó không phải để giảm nhẹ niềm vui khi tìm được người, mà để cả đội không lầm tưởng rằng tìm được người hôm nay là đã xong hết.
Đến giữa buổi sáng, người ở đáy hố giơ tay.
Thắng đang ở ca quan sát trên miệng hố. Anh nhìn xuống và thấy Bảo quỳ một gối trên nền đá, tay giơ cao, không nói một lời. Người đào cùng ca với Bảo là một thanh niên của bản Nà Bó, cũng đã dừng tay, mặt hướng về một khe đá hẹp ở mép phải của đáy hố. Thắng xuống hố ngay, mang theo khay vải và bàn chải. Trong khe đá, kẹt giữa hai tảng đá và một lớp bùn đã khô cứng lại qua nhiều mùa, là một hộp sọ nằm nghiêng, một phần xương gò má còn lộ ra ngoài ánh sáng.
Phải mất gần một tiếng đồng hồ đội mới lấy được nó ra nguyên vẹn. Thắng và Bảo phải thay nhau nạy từng viên đá nhỏ quanh khe, có viên chỉ bằng nắm tay nhưng lại là viên kê cho cả một chồng đá phía trên. Ông Cừ đứng trên bờ, nhìn xuống, thỉnh thoảng lại nhắc một câu ngắn: chậm thôi, đá này có chân, đừng giật. Mỗi lần một viên đá được gỡ ra, người quan sát lại gõ nhẹ vào thành hố để nghe tiếng đá đáp lại, đoán xem phía trong còn rỗng hay đã đặc.
Khi hộp sọ cuối cùng được đặt lên khay vải, cả hố và cả bờ suối đều yên lặng một lúc lâu. Nó không nguyên vẹn hoàn toàn: một đường nứt chạy dọc vòm sọ, nhưng toàn bộ hình dáng còn đủ, và ở phía cổ, ngay dưới xương hàm, vết tích của nhát chém năm xưa vẫn còn đọc được trên mép xương. Hà đeo găng, nâng khay lên ngang tầm mắt, xem xét dưới ánh sáng ban ngày một cách kỹ lưỡng khác hẳn những lần kiểm tra vội ở miệng hố.
- Tử sĩ số bảy. - Chị nói cuối cùng, giọng chắc chắn. - Vết chém ở cổ sâu và lệch sang trái, khớp hoàn toàn với đốt sống cổ của thân số bảy ở hàng thứ hai trong hố chôn. Kích thước cũng khớp. Đây là người thứ bốn mươi sáu của đoàn. Và là người cuối cùng của nhóm bị vùi ở đoạn đá lở này.
Bốn mươi sáu trên bốn mươi bảy. Tùng ghi con số ấy vào sổ, rồi ngẩng lên nhìn Thắng. Trong mắt cậu thanh niên có một thứ gì đó vừa nhẹ nhõm vừa lo lắng, vì cả hai người đều biết con số tiếp theo không nằm dưới chân họ nữa. Nó nằm ở một nơi khác, xa hơn và tối hơn.
Thắng cho đội nghỉ sớm hơn thường lệ trong ngày hôm đó. Không phải vì đã xong việc ở đoạn cuối suối, dù về mặt đào đá thì đúng là đoạn này đã xong: năm hộp sọ bị vùi ở đoạn này đều đã được lấy lên, không thiếu một người nào của nhóm này. Anh cho nghỉ vì anh cần cả đội còn đủ sức và đủ tỉnh táo cho quyết định tiếp theo, một quyết định mà anh đã nghĩ tới từ đêm qua nhưng chưa nói thành lời trước mặt mọi người.
Buổi chiều, anh tập hợp những người chủ chốt ở lán chỉ huy: Hà, Bảo, ông Cừ, bà Sâm và Minh. Tùng ngồi ở góc bàn với cuốn sổ quy tập, dòng thứ bốn mươi bảy còn trống. Thắng trải bản đồ địa hình khu vực Khe Cạn ra bàn. Trên bản đồ, đoạn suối mà đội đã làm việc suốt từ cuối tháng ba được đánh dấu dày đặc bằng bút đỏ. Phía trên nó, ngược về thượng nguồn sâu trong núi, là một đoạn suối nữa gần như trắng hoàn toàn, chỉ có một ký hiệu thác nhỏ và vài đường đồng mức thưa. Đó là đoạn suối trong núi.
- Hộp sọ của vị tướng không ở đoạn này. - Thắng nói. - Hà đã khẳng định bằng hồ sơ. Ông Cừ cũng đã nói từ trước: đầu của tướng bị vứt ở đoạn sâu nhất, sau thác cạn, nơi cửa Ải xưa. Tôi quyết định ngày mai lội ngược lên đoạn suối trong núi để tìm. Đi ban ngày, đi ít người, nhẹ và nhanh. Tôi đi, Bảo đi cùng. Nếu cần, thêm một người của bản dẫn đường đến chân thác.
Hà nhìn bản đồ, không phản đối ngay. Chị chỉ hỏi một câu về hồ sơ.
- Nếu tìm thấy, anh phải chụp lại vị trí tại chỗ trước khi nhấc lên, và để nguyên mọi vật đi kèm dù là một mảnh kim loại nhỏ. Nhận diện vị tướng không chỉ bằng hộp sọ. Nó bằng vật đi kèm và bằng vết chém khớp với thân. Thiếu vật đi kèm là tôi không ký xác nhận được, dù hộp sọ có lớn đến đâu.
- Tôi nhớ. - Thắng nói. - Mảnh giáp chim ưng. Chị đã nói từ ngày lập sơ đồ.
Minh ngồi im từ đầu buổi họp. Đến lúc này ông ta mới lên tiếng, giọng thấp.
- Cho tôi đi cùng. Tôi còn nợ đoạn suối này một lần làm đúng.
Thắng nhìn Minh một lúc. Anh hiểu ý của Minh, và anh cũng hiểu vì sao mình phải từ chối.
- Anh ở lại. - Thắng nói, không gay gắt. - Ở đây còn cả khu quy tập, tiểu sành, người và vật tư. Mai tôi và Bảo vào núi, ở ngoài này phải có người chịu trách nhiệm điều phối nếu trời mưa bất ngờ hoặc có việc ở Gò Cấm. Anh làm việc đó. Đó là phần việc của anh, và nó không nhẹ hơn việc vào núi đâu.
Minh gật đầu, không năn nỉ thêm. Sự thay đổi của người đàn ông này trong mấy ngày qua là thật: ông ta đã thôi tìm cách chứng tỏ, và bắt đầu chấp nhận làm phần việc được giao, dù phần việc đó không ai nhìn thấy.
Ông Cừ là người nói cuối cùng. Ông đã ngồi nghe suốt buổi họp mà không chen vào, hai tay đan vào nhau trên mặt bàn gỗ. Khi Thắng nhìn sang ông để chờ một lời dẫn đường hay một lời dặn, ông già chậm rãi đứng dậy, đi ra cửa lán, nhìn về phía dãy núi sau Ải, nơi đoạn suối trong núi nằm khuất sau mấy lớp rừng và đá.
- Tôi phải ngăn cậu một lần, dù biết là không ngăn được. - Ông nói. - Đoạn đó là cửa Ải xưa, nơi tướng sĩ chết nhiều nhất trong trận năm ấy. Đất ở đó không giống đất ở đây. Sương ở đó không bao giờ tan hẳn, kể cả giữa trưa nắng. Người bản đi rừng thạo đến đâu cũng không vào đoạn đó một mình, và không ai vào đó mà nói to. Cậu và Bảo vào đó thì nhớ lời tôi dặn từ ngày đầu: thấy gì cũng cúi mặt, nghe gì cũng im lặng. Đầu của tướng ở đó, nhưng ở đó không chỉ có đầu của tướng.
Thắng đứng ở cửa lán cạnh ông già, nhìn theo hướng núi. Chiều đang xuống, và đúng như lời ông Cừ vừa nói, ở phía sâu trong núi, trên đoạn suối mà ngày mai anh sẽ đặt chân tới, một lớp sương mỏng đã bắt đầu tụ lại từ rất sớm, trắng đục và đứng yên giữa những tán cây, trong khi thung lũng dưới này trời vẫn còn sáng rõ.
Đêm đó, Thắng chuẩn bị đồ vào núi một cách kỹ lưỡng như chuẩn bị cho một ca công binh ngày xưa. Ba lô nhẹ chỉ gồm nước, lương khô đủ hai ngày, đèn đội đầu và pin dự phòng, dây thừng ngắn, dao rừng, bàn chải khảo cổ của Hà, túi vải trắng đựng hài cốt, máy ảnh và một chiếc túi nilon dày để bọc hồ sơ vị trí. Bảo kiểm tra lại từng thứ cùng anh, không nói chuyện thừa. Bà Sâm gửi lên một cuộn chỉ đỏ nhỏ và một mảnh vải liệm sạch, dặn rằng nếu tìm thấy đầu của tướng thì phải lót vải ngay từ lúc nhấc lên, không để đầu chạm trực tiếp vào đá lạnh thêm một lần nào nữa. Thắng gói hai thứ ấy vào ngăn ngoài cùng của ba lô, nơi tay anh có thể chạm tới nhanh nhất. Anh đi ngủ sớm hơn mọi đêm, nằm nghe tiếng sương rơi trên mái tôn lán thành từng giọt chậm rãi, và tự nhủ rằng ngày mai, dù sương trong núi có dày đến đâu, anh cũng phải mang được người cuối cùng ấy về cho đủ đội hình bốn mươi bảy người. Trước khi chợp mắt, anh còn nghe rất rõ tiếng Tùng chống nạng đi một vòng cuối quanh khu chứa tiểu sành ở sân ngoài, như một người lính gác tự nguyện canh cho những người đã về đủ giấc ngủ yên. Tiếng nạng của cậu dừng lại khá lâu trước chiếc tiểu trống duy nhất còn lại của đoàn, chiếc tiểu của vị tướng vô danh mà cả đội đang chờ đợi ở phía trong núi sâu kia, giữa sương không tan và đá lạnh, nơi chưa một người sống nào của bản dám ở lại qua một đêm trọn vẹn từ đời trước cho đến tận bây giờ.