Đôi Dép Ngoài Hiên - Chương 8: Chương 008: Cuốn Sổ Nước Vôi
Mưa phùn mỗi lúc một dày, giăng một lớp màn xám đục lên những mái ngói võng của làng Yên Vĩ. Nước mưa len qua các kẽ ngói, nhỏ tong tòng xuống nền đất…
Nội dung chương
Mưa phùn mỗi lúc một dày, giăng một lớp màn xám đục lên những mái ngói võng của làng Yên Vĩ. Nước mưa len qua các kẽ ngói, nhỏ tong tòng xuống nền đất nện ngoài hiên nhà hội đồng cũ. Ngôi nhà này vốn là nơi họp bàn của các chức dịch thời trước, nay bỏ hoang, tường vôi loang lổ những mảng rêu đen kịt tựa những vết chàm trên da người chết. Mùi vôi tôi ẩm ướt bốc lên nồng nặc từ những bức tường mới được quét lại quét đi quét lại nhiều lần để che giấu vết ẩm mốc.
Cúc kéo sụp chiếc nón lá cũ xuống trán, đứng nép dưới bóng cây nhãn cổ thụ bên hông nhà hội đồng. Đôi mắt cô đảo liên tục về phía con ngõ dẫn ra giếng đình. Giờ này, cả làng đã đóng cửa cài then theo lệnh của bà Hoan. Không một bóng người qua lại, chỉ có tiếng gió lùa qua rặng tre xạc xào và tiếng ếch nhái kêu ran dưới những vũng nước đọng.
Cúc tiến lại gần ô cửa sổ gỗ của gian buồng phía đông. Cánh cửa này đã mục ruỗng, chốt sắt bên trong lỏng lẻo. Cô rút từ túi áo ra một thanh sắt dẹt, khéo léo lách vào khe cửa, đẩy nhẹ. Tiếng cạch khô khốc vang lên. Cúc nín thở, đứng im thin thít mất một phút để nghe ngóng xung quanh. Khi chắc chắn không có tiếng động nào khác ngoài tiếng mưa rơi, cô mới dùng hai tay nhấc bổng cánh cửa gỗ lên để tránh tiếng kẽo kẹt của bản lề rỉ sét, rồi lách người chui vào trong.
Bên trong gian buồng tối om và đặc quánh mùi giấy mục. Cúc bấm chiếc đèn pin nhỏ cầm tay, nhưng cô đã cẩn thận bọc đầu đèn bằng một mảnh vải đỏ để ánh sáng không lọt ra ngoài cửa sổ. Luồng sáng đỏ quạch, yếu ớt quét qua căn phòng. Giữa phòng đặt một chiếc bàn gỗ lim chân quỳ đã lên nước đen bóng, bên trên phủ đầy bụi và xác gián chết khô. Phía góc tường là chiếc hòm tôn cũ kỹ, loại hòm người ta thường dùng để đựng tài liệu hộ tịch từ thời cải cách.
Cúc bước nhẹ chân, tránh những mảnh ngói vỡ và lớp vôi rụng dưới nền nhà. Cô quỳ xuống bên cạnh chiếc hòm tôn. Chiếc khóa đồng khóa miệng hòm đã bị rỉ sét ăn mòn gần hết phần lõi. Cúc dùng thanh sắt dẹt chọc mạnh vào lỗ khóa, xoay vài vòng. Lẫy khóa bật ra với một tiếng kêu giòn giã. Cô vội vàng giữ chặt nắp hòm để nó không va đập vào thành tôn gây tiếng động lớn.
Bên trong hòm xếp đầy những tập hồ sơ ố vàng, mép giấy bị gián nhấm nham nhở. Cúc lục lọi từng tập. Hầu hết là sổ sách thu thuế, sổ chia ruộng đất từ mấy chục năm trước.
Tay cô dừng ở một cuốn sổ dày bìa giấy xi măng nâu xám. Lớp vôi quét rất dày, để ngăn mối mọt và niêm phong những trang giấy bên trong.
Cúc lật trang bìa. Trang đầu tiên ghi dòng chữ viết bằng mực tàu nét thanh nét đậm: "Sổ đinh và sự thế làng Yên Vĩ".
Bên dưới dòng chữ đó, có một dòng chữ nhỏ hơn viết bằng mực đỏ đã xỉn màu: "Kẻ có tên trong sổ, chân không chạm đất, đầu không hướng thiên".
Cúc cảm thấy gáy mình lạnh toát. Cô lật tiếp sang các trang sau. Đó là danh sách tên của những người dân trong làng qua nhiều thế hệ. Điều kỳ lạ là bên cạnh mỗi cái tên đều có ba ô vuông nhỏ được vẽ bằng mực đen. Ở trang đầu tiên, tất cả các ô vuông đều trống không. Nhưng càng lật về những trang sau, những cái tên bắt đầu xuất hiện những ký hiệu lạ.
Cúc dừng lại ở trang có ghi chép của mười năm trở lại đây. Mỗi cái tên ở trang này đều đi kèm với ba ô vuông nhỏ, và ở cột ngoài cùng, tương ứng với đêm thứ tư kể từ khi tên họ xuất hiện, có một dấu mực đỏ chót tròn vo, dày cộp như vết máu khô đè lên.
Cúc đưa ngón tay miết nhẹ lên một dấu mực đỏ. Vết mực cộm lên dưới da tay cô, thô ráp. Cô lật nhanh đến những trang cuối cùng.
Tên của Thắm nằm ở lưng chừng trang giấy. Một đường gạch chéo thô bạo bằng mực đen đè ngang qua tên cô bé. Ba ô vuông bên cạnh tên Thắm đều đã bị tô đen bằng mực, và ở cột đêm thứ tư là một dấu mực đỏ thẫm, nhòe nhoẹt.
Ngay bên dưới tên Thắm, một cái tên mới được viết vào. Nét chữ viết bằng mực xanh loại rẻ tiền, nét bút run rẩy nhưng khoảng cách giữa các chữ đều tăm tắp một cách phi tự nhiên: "Nguyễn Thị Hậu".
Bên cạnh tên của Hậu, ô vuông thứ nhất đã được đánh một dấu nhân màu đỏ.
Cúc cảm thấy tim mình đập thình thịch trong lồng ngực. Cô nhìn xuống dòng tiếp theo. Nét chữ ở dòng này chưa hoàn chỉnh; người viết đang viết dở thì bị gián đoạn.
Nguyễn Thị C...
Nét gạch ngang của chữ "C" kéo dài ra, nhọn hoắt và kéo tuột xuống mép dưới của trang giấy, giống như một vết cào bằng móng tay.
Cúc run rẩy khép cuốn sổ, hít sâu lấy lại bình tĩnh rồi lục tiếp đáy hòm tôn. Ở đó có một xấp tài liệu mỏng hơn buộc bằng sợi dây đay mục. Cúc cởi sợi dây, mở tờ giấy trên cùng ra. Đó là những tờ biên bản ghi chép của lý trưởng cũ và công an xã từ những năm tám mươi của thế kỷ trước về các vụ tử vong bất thường trong làng.
Tờ biên bản thứ nhất ghi về cái chết của một người đàn ông tên là Nguyễn Văn Sáng, chết vào năm 1984.
Nạn nhân chết trong tư thế nằm dưới gầm phản gỗ của gia đình. Khớp háng hai bên bị gãy gập ngược ra phía sau, xương chậu vỡ vụn. Đầu gối ép chặt vào ngực. Đầu bị ngoẹo sang một bên, hai mắt mở trừng trừng nhìn thẳng lên dát giường. Khoảng trống dưới gầm phản chỉ rộng chưa đầy hai mươi phân, không đủ cho một đứa trẻ nằm, nhưng nạn nhân là nam giới trưởng trưởng thành, nặng gần sáu mươi cân, đã tự chui vào đó.
Cúc lật sang tờ biên bản thứ hai. Một người phụ nữ tên là Lê Thị Mai, chết năm 1989.
Nạn nhân chết dưới gầm giường đất. Toàn bộ xương sườn bị gãy nát do sức ép. Khớp vai bị vặn xoắn ngược ra sau lưng. Hai bàn tay mất hết móng, thịt đầu ngón tay bong tróc bám đầy vào chân giường gỗ và nền đất nện. Dưới gầm giường có nhiều vết cào xước sâu vào lòng đất.
Cúc đọc tiếp ba tờ biên bản khác. Tất cả các nạn nhân đều có chung một đặc điểm: chết dưới gầm giường hoặc gầm phản hẹp, nơi cơ thể họ không thể nào chui lọt nếu không tự bẻ gãy toàn bộ xương cốt của chính mình. Những nét chữ miêu tả khô khốc của biên bản hiện lên trong đầu Cúc thành những hình ảnh sống động. Những con người đó, trong đêm tối, đã tự dùng hai tay bẻ gãy khớp háng của mình, rồi bò lê lết bằng khuỷu tay vào gầm giường, cào cấu xuống đất cho đến khi tắt thở.
Họ không bị ai kéo vào. Họ tự chui vào đó.
Một luồng gió lạnh từ cửa sổ thổi vào, làm ngọn đèn pin bọc vải đỏ trong tay Cúc chao đảo. Mùi nước vôi tôi trên tường tỏa ra đậm đặc hơn, trộn lẫn với mùi giấy mục tạo nên một thứ mùi giống như mùi của những xác chết nằm lâu ngày trong hòm gỗ ẩm.
Cúc vội vàng xếp những tờ biên bản lại, nhét chúng cùng cuốn sổ nước vôi vào trong áo khoác. Cô đóng nắp hòm tôn, cố gắng không gây ra tiếng động.
Đúng lúc cô định đứng lên để quay ra phía cửa sổ, một tiếng động lạ từ phía hành lang bên ngoài dội vào.
Tiếng loẹt quẹt.
Đó là tiếng của một đôi dép lê ẩm ướt kéo đi trên nền gạch tàu của nhà hội đồng. Tiếng động chậm rãi, đều đặn, mỗi bước đi kèm theo một tiếng rít nhẹ của đế cao su miết xuống mặt gạch ướt.
Cúc lập tức tắt đèn pin. Căn phòng chìm vào bóng tối dày đặc. Cô áp sát lưng vào chiếc tủ tài liệu cũ bằng gỗ lim đặt sát góc tường, nín thở.
Tiếng bước chân dừng lại ngay trước cửa gian buồng.
Cúc nghe thấy tiếng lạch cạch của then cửa sắt bên ngoài đang bị người ta dịch chuyển. Tiếng sắt rỉ cọ xát vào nhau nhức óc. Cánh cửa gỗ ngách từ phía hành lang từ từ mở ra. Một luồng ánh sáng vàng vọt từ chiếc đèn bão của người ngoài cửa hắt vào phòng, tạo thành một vệt sáng dài trên nền đất nện đầy bụi.
Qua khe hở giữa chiếc tủ gỗ và bức tường quét vôi lở dở, Cúc nhìn thấy một bóng người bước vào.
Y khoác chiếc áo mưa cánh dơi màu xanh đen ướt sũng. Nước mưa từ mép áo nhỏ giọt xuống nền nhà thành những tiếng "tách, tách" đều đặn. Dưới chân y là đôi dép cao su màu cháo lòng, bùn đất bám đầy quanh quai.
Y giơ cao chiếc đèn bão. Ánh sáng vàng vọt quét qua chiếc bàn gỗ lim, rồi dừng lại ở chiếc hòm tôn đã bị mở khóa.
Cúc cắn chặt môi để ngăn bản thân không phát ra tiếng thở gấp. Tim cô đập mạnh đến mức sợ kẻ đứng kia nghe thấy.
Kẻ mặc áo mưa bước lại gần chiếc hòm tôn. Gã cúi xuống, dùng bàn tay khẳng khiu, da dẻ nhăn nheo đầy những đốm đồi mồi mở nắp hòm ra.
Đó là tay của một người già.
Cúc nhận ra chiếc nhẫn bạc mặt đá xanh bị sứt một góc trên ngón tay trỏ của người đó. Đó là chiếc nhẫn của ông Sử, người đàn ông liệt giường ở cuối xóm. Nhưng ông Sử đã liệt giường hơn ba năm nay, làm sao có thể đi lại được trong đêm mưa thế này?
Người đó lục lọi trong hòm tôn một lát, rồi khựng lại. Gã nhận ra cuốn sổ đinh quét vôi và những tờ biên bản đã biến mất.
Một tiếng thở dài khàn khục vang lên trong căn buồng tối. Âm thanh đó nghe như tiếng của hai miếng gỗ khô cọ xát vào nhau.
- Ai lấy rồi?
Giọng nói thào thào, không rõ là của đàn ông hay đàn bà, vang lên trong không gian chật hẹp.
Người đó quay ngoắt đầu về phía chiếc tủ gỗ nơi Cúc đang trốn. Chiếc mũ trùm đầu của áo mưa tuột ra phía sau, để lộ một khuôn mặt xám ngoét, da mặt căng bóng như da trống, hai mắt mở to không hề chớp. Đó đúng là khuôn mặt của ông Sử, nhưng trên mặt gã không có chút thần sắc nào của người sống. Hai tròng mắt đục ngầu, đứng im không có phản xạ đồng tử.
Cúc nhắm chặt mắt lại, ép người hết mức vào khe tường. Lưng cô chạm vào lớp vôi quét tường lạnh ngắt và ẩm ướt. Cô cảm nhận được một mảnh vôi nhỏ tróc ra, rơi xuống vai mình.
Tiếng bước chân loẹt quẹt lại vang lên, tiến về phía chiếc tủ gỗ.
Mỗi bước đi của gã như nện thẳng vào lồng ngực Cúc. Mùi nước vôi tôi trên người gã xộc vào mũi cô, nồng nặc và lợm giọng. Gã dừng lại ngay trước chiếc tủ gỗ. Khoảng cách giữa Cúc và gã chỉ cách nhau một cánh cửa tủ mỏng manh.
Cúc nghe thấy tiếng hít ngửi của gã. Tiếng mũi gã khụt khịt trong không khí như đang dò tìm một mùi hương quen thuộc.
Đột nhiên, từ phía ngoài sân nhà hội đồng vang lên một tiếng động lớn. Tiếng một chiếc chậu nhôm bị đổ, lăn loảng xoảng trên sân gạch.
Bóng người ngoài tủ lập tức quay đầu hướng về phía tiếng động. Gã không thèm khép cửa buồng, vội vàng kéo lê đôi dép lê ẩm ướt đi nhanh ra ngoài. Ánh đèn bão khuất dần sau cánh cửa ngách, mang theo luồng sáng vàng vọt và mùi nước vôi nồng nặc.
Cúc chờ thêm hai phút nữa. Khi chắc chắn tiếng bước chân đã đi xa hẳn ra phía cổng đình, cô mới dám lách người ra khỏi khe tủ. Chân cô run rẩy suýt ngã quỵ xuống nền đất. Cô không dám chần chừ, vội vàng trèo qua ô cửa sổ gỗ hông nhà, nhảy xuống bãi cỏ ướt sũng bên ngoài.
Mưa vẫn rơi tầm tã. Cúc cắm đầu chạy trong bóng tối, không dám dùng đèn pin. Cô chạy qua những con ngõ nhỏ lầy lội, bùn đất bắn đầy lên ống quần. Nước mưa lạnh buốt dội vào mặt giúp cô tỉnh táo lại phần nào, nhưng nỗi sợ hãi vẫn như một bàn tay vô hình bóp nghẹt lấy cổ họng.
Cô phải tìm đến nhà Hậu. Cuốn sổ trong ngực áo như một khối than nóng, đốt cháy da thịt cô qua lớp áo mỏng.
Khi Cúc chạy đến đầu ngõ nhà Hậu, cô nhìn thấy một bóng đen đang đứng dưới gốc cây xoan cổ thụ. Bóng đen đó đứng im lìm trong mưa, không che ô, không đội nón.
Cúc giảm tốc độ, đi chậm lại. Cô nhận ra đó là bà Hoan.
Bà Hoan mặc chiếc áo bà ba màu nâu sẫm, hai tay chắp sau lưng, mắt nhìn đăm đăm vào ngôi nhà ba gian của gia đình Hậu. Cửa nhà Hậu đã được khóa chặt bằng một sợi xích sắt lớn vòng qua hai tay nắm cửa, khóa ngoài bằng một ổ khóa đồng to bản.
Cúc tiến lại gần, cố giữ cho giọng mình không bị run.
- Bà Hoan. Sao bà lại đứng đây?
Bà Hoan không quay đầu lại, vẫn nhìn chằm chằm vào ngôi nhà tối om của Hậu.
- Tôi đứng canh.
- Canh cái gì cơ ạ?
- Canh cho đứa con gái nhà này không tự mở cửa đi ra. Và canh cho cái thứ bên ngoài không vào được.
Bà Hoan quay sang nhìn Cúc. Dưới ánh đèn mờ đêm mưa, khuôn mặt nhăn nhúm của bà ta xám xịt tựa tượng đất. Ánh mắt bà ta dừng lại ở chỗ ngực áo Cúc phồng lên, nơi giấu cuốn sổ nước vôi.
- Cô đi đâu về mà ướt hết thế này?
Cúc vội vàng kéo vạt áo khoác để che đi chỗ phồng.
- Cháu sang ngủ lại với con Hậu tonight.
Bà Hoan cười nhạt, nụ cười làm những nếp nhăn trên mặt bà ta co rúm lại.
- Muộn rồi. Nhà nó đã khóa cửa từ lúc chập tối. Bố mẹ nó đem khóa đi gửi bên nhà bác cả rồi. Đêm nay, ai ở đâu thì ở yên đó. Cô về nhà mình đi.
- Nhưng con Hậu...
- Con Hậu đã có phần của nó.
Bà Hoan ngắt lời Cúc bằng một giọng lạnh lùng, dứt khoát.
- Lượt đã chạy rồi thì thôi. Cô cứ lo phần mình đã.
Nói rồi, bà Hoan quay lưng, đi bộ dọc theo con ngõ nhỏ dẫn về phía cuối làng. Bóng bà ta nhanh chóng chìm vào màn mưa xám xịt, chỉ còn lại tiếng bước chân nện xuống những viên gạch lát ngõ đều đặn.
Cúc đứng trơ trọi giữa ngõ. Cô nhìn lại ngôi nhà của Hậu. Ngôi nhà tối om, không một ánh đèn. Bên trong im phăng phắc, chẳng có tiếng nói chuyện, cũng chẳng có tiếng khóc của Hậu. Yên tĩnh đến mức đáng sợ như một ngôi mộ lớn bằng gạch ngói.
Cúc ôm chặt lấy ngực áo, nơi cuốn sổ đinh đang nằm im lìm. Cô biết mình không thể ở lại đây lâu hơn. Cô phải quay về nhà mình để đọc kỹ lại những trang viết trong cuốn sổ đó. Cô cần biết dấu nhân màu đỏ bên cạnh tên Hậu có nghĩa là gì, và tại sao tên của cô lại bị viết dở dang như vậy.
Cúc quay người chạy về nhà mình. Ngôi nhà của cô nằm ở đầu làng, cách biệt với các hộ gia đình khác bằng một mảnh vườn trồng chuối rộng.
Khi cô về đến cổng, cổng tre vẫn khép hờ như lúc cô đi. Cúc lách người qua khe cổng, đi vào sân.
Căn nhà ba gian của cô chìm trong bóng tối. Cúc bước lên bậc thềm hiên bằng đá xanh. Cô rút chìa khóa từ trong túi ra để mở cửa.
Đúng lúc đó, ánh sáng từ chiếc đèn pin cầm tay của cô quét qua bậc thềm.
Đôi dép tổ ong màu trắng của Cúc đặt ở thềm cửa.
Mũi dép đang hướng thẳng vào trong nhà.
Cúc khựng lại. Cô nhớ rất rõ trước khi đi, cô đã cẩn thận xếp đôi dép hướng mũi ra ngoài sân, gót dép sát vào ngạch cửa. Cô luôn làm như vậy kể từ đêm Thắm chết.
Nhưng bây giờ, đôi dép đã bị xoay ngược lại. Mũi dép quay vào trong phòng, giống như có một người vừa bước từ ngoài sân vào trong nhà, cởi dép ra rồi đi thẳng vào bóng tối phía sau cánh cửa gỗ khép hờ.
Cúc đứng chôn chân trên bậc thềm. Gió mưa từ phía sau lưng thổi tới, tạt những hạt nước lạnh buốt vào gáy cô.
Từ bên trong gian buồng tối của ngôi nhà, vang lên một tiếng loẹt quẹt rất khẽ. Tiếng động nhỏ nhưng rõ mồn một, giống như tiếng của một bàn chân trần đang lê lết trên nền gạch ẩm ướt.