Đồi Thông Hai Mộ - Chương 10: Trầm Mình Bên Hồ Than Thở

Mưa phùn đầu tháng Ba giăng một tấm màn xám xịt trùm kín các mái ngói cổ kính của thị xã Đà Lạt. Những rặng thông ba lá quanh thung lũng rũ rượi trong…

Nội dung chương

Mưa phùn đầu tháng Ba giăng một tấm màn xám xịt trùm kín các mái ngói cổ kính của thị xã Đà Lạt. Những rặng thông ba lá quanh thung lũng rũ rượi trong giá rét buốt xương, trút từng giọt nước đùng đục xuống nền đất đỏ đã nhão nhoét vì những đợt gió mùa kéo dài từ phía biển vào cao nguyên.

Sau buổi chiều nhận được bức thiệp báo hôn sự mang mùi trầm hương nồng nặc từ Gò Công, Lê Thị Thảo gần như không còn nuốt trôi một chén cơm nào. Thân hình nàng gầy rộc đi, đôi mắt sâu hoắm thâm quầng sau những đêm chong đèn nhìn trừng trừng lên trần nhà bằng ván thông ghép lỏng lẻo. Bức thư viết bằng bút chì cháy sém của Tâm được nàng vuốt phẳng phiu, giấu kỹ bên dưới vạt áo lót ngay sát ngực, nơi trái tim nàng đang đập những nhịp yếu ớt và hoảng loạn. Từng dòng chữ méo mó của chàng - dặn nàng trọn đời chỉ có mình nàng, dặn nàng chớ tin lời ong tiếng ve - là chỗ bám víu mỏng manh nhất để nàng giữ cho bản thân không ngã quỵ trước những lời xì xào độc địa bủa vây từ trường học cho tới chợ búa.

Người ta đồn chàng sĩ quan trẻ con nhà đại điền chủ đã xuôi về miền Tây để bái lạy tổ tiên, chuẩn bị đón dâu môn đăng hộ đối. Nhưng cùng lúc ấy, những tin đồn khác hung hiểm hơn bắt đầu theo các chuyến xe đò tuyến Phan Rang - Đà Lạt dội ngược lên phố núi. Chiến dịch càn quét tàn quân vùng rừng lá gai giáp ranh Nam Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ đang nổ ra khốc liệt. Những chuyến xe chở thương binh phủ bạt kín mít chạy rầm rập qua khúc quanh bến xe, rẽ vào bệnh xá quân đội trong màn sương mù đặc quánh.

Thảo rời trường Nữ trung học Bùi Thị Xuân khi hồi chuông bãi khóa vừa dứt. Nàng không về thẳng căn gác xép trọ ven đường mà khoác chiếc áo len mỏng đã sờn chỉ, rảo bước vội vã qua khu Hòa Bình, hướng về bưu điện trung tâm thị xã. Đôi giày vải của nàng ướt sũng bùn lầy, gót chân lạnh buốt đến tê dại.

"Thưa chú, có điện tín hay thư từ nào gửi từ mặt trận miền Đông về cho Lê Thị Thảo không chú?"

Người nhân viên bưu điện trạc ngũ tuần, đeo cặp kính lão viền đồi mồi, nhìn khuôn mặt nhợt nhạt của cô giáo trẻ với vẻ thương hại. Ông lật qua xấp thư dày cộm kẹp trong ngăn kéo gỗ thông, rồi chậm rãi lắc đầu:

"Không có cô giáo ơi. Tuyến đường dây quân sự dưới mạn sông Bé, rừng Tánh Linh đang bị gián đoạn hoàn toàn. Thư từ dân sự hay điện tín tư nhân gửi vào vùng chiến sự đều bị đình chỉ theo lệnh thiết quân luật. Cô có đứng chờ ở đây cả ngày cũng vô ích thôi."

Thảo níu lấy mép bàn gỗ trơn nhẵn, giọng nàng run lên từng chặp:

"Cháu chỉ xin chú kiểm tra lại danh sách điện tín đến. Biết đâu... biết đâu có bức điện nào từ Bộ chỉ huy tiền phương đánh về..."

"Tôi nhớ mặt cô rồi, ba hôm nay ngày nào cô cũng hỏi đúng một câu." Người đàn ông thở dài, tháo mục kỉnh xuống lau vào vạt áo bông. "Tin chiến trận đưa về lộn xộn lắm. Nghe đâu tiểu đoàn xuất phát từ trường Võ bị đợt vừa rồi chạm súng dữ dội trong thung lũng lầy, thương vong không ít, xác còn chưa gom hết thì đào đâu ra điện tín riêng cho cô."

Từng lời của người nhân viên bưu điện giáng xuống đầu Thảo như những búa tạ. Nàng lùi lại hai bước, tựa lưng vào cột nhà bưu điện để khỏi quỵ ngã. Xung quanh nàng, tiếng người ta gửi tiền, tiếng nhân viên đóng dấu bưu phẩm cồm cộp vang lên khô khốc. Cả thế giới vẫn vận hành đều đặn, chỉ riêng thế giới của nàng đang nứt toác từng mảng lớn.

Cách thị xã Đà Lạt hàng trăm cây số về hướng đông nam, giữa vùng rừng già giáp ranh ngập ngụa bùn lầy, thực tế tàn khốc hơn nhiều so với những tin đồn bay về phố núi.

Vũ Minh Tâm đang ngồi co ro trong một căn hầm chữ A nửa chìm nửa nổi dưới lòng đất đỏ. Mùi thuốc súng khét lẹt quyện với mùi lá mục ẩm ướt và mùi máu tanh tao bốc lên nồng nặc từ những vũng nước đọng quanh mép hào. Bả vai trái của chàng quấn một lớp băng cá nhân dày cộm đã ngả màu vàng ố vì dịch mủ và thuốc sát trùng. Mảnh đạn cối văng trúng trong đợt tao ngộ chiến hai ngày trước khiến bả vai chàng tê dại, từng cơn sốt rét rừng ập đến khiến răng chàng va vào nhau cầm cập.

"Tâm, uống ngụm nước ấm đi mày. Cố gượng dậy mà ăn chút lương khô." Huân bò qua ngách hào sũng nước, chìa chiếc ca sắt móp méo về phía bạn. "Đại đội bị cắt đứt liên lạc với hậu cứ từ sáng qua rồi. Máy truyền tin PRC-10 bị trúng đạn hỏng mất bộ nguồn, lính thông tin đang ráng câu dây nhưng dây đồng bị pháo phạt đứt nát hết dọc triền dốc."

Tâm khó nhọc đưa bàn tay run rẩy đón lấy ca nước, nhưng chàng không uống nổi một ngụm. Ngực chàng thắt nghẽn lại, từng cơn nhói buốt lan tỏa khắp lồng ngực không phải do vết thương thịt da mà do một linh cảm hãi hùng bóp nghẹn cuống họng. Chàng thò bàn tay lành lặn vào túi áo ngực lính chiến lấm lem bùn đất, chạm vào chiếc khăn tay thêu hoa thạch thảo tím vương vãi bột gỗ từ những hạt chuỗi Mân Côi vỡ nát hôm nào.

Vật thiêng ấy lạnh buốt. Dù chàng ép chặt nó vào lồng ngực đang sốt hầm hập, chiếc khăn vẫn tỏa ra luồng hàn khí thấu xương.

"Thảo..." Tâm thì thào trong hơi thở đứt quãng, đôi mắt đỏ ngầu trừng trừng nhìn lên nóc hầm phủ bằng thân cây dầu rỉ nước. "Ở nhà có chuyện rồi... Thảo đang gặp nạn, tao biết chắc chắn như vậy..."

Phát từ cửa hầm bò giật lùi vào, gạt những cọng cỏ tranh dính bết trên trán, gắt khẽ:

"Mày mê sảng vì sốt rồi đấy Tâm! Bây giờ lo giữ cái mạng mình trước đã. Chung quanh đồi này hỏa lực đối phương vẫn đang chốt chặn các ngả rút lui. Không có máy bay tải thương nào hạ cánh xuống đây được đâu. Tin tức của mày không gửi ra ngoài được, mà tin tức từ Đà Lạt cũng đừng hòng lọt vào đây. Tỉnh táo lại đi, mày mà buông xuôi là bỏ xác lại cánh rừng này thật đấy!"

Tâm nắm chặt chiếc khăn thêu đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Chàng muốn vùng dậy, muốn xé toạc màn mưa rừng ngút ngàn để chạy một mạch về hướng bắc, về lại con đường dốc đất đỏ dẫn xuống bờ hồ Than Thở. Nhưng đôi chân chàng nặng trĩu, toàn thân rã rời vì cơn sốt. Tiếng pháo kích xa xa dội lại từng hồi trầm đục nghe như tiếng đất đá đang lấp dần lên một huyệt mộ sâu thẳm, chôn vùi tất cả những lời hẹn thề chưa kịp thực hiện.

Ở Đà Lạt, chiều buông xuống nhanh chóng và thê lương.

Rời khỏi bưu điện, Thảo lững thững bước đi trong vô định. Bàn chân nàng tự dẫn lối đưa nàng ra khỏi trục đường chính, đi men theo con đường đất đỏ gồ ghề chạy về phía đông thị xã, nơi có hồ Than Thở ngút ngàn thông reo.

Gió từ mặt nước hồ bốc lên mang theo hơi lạnh thấu tủy. Mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương bằng chì xám xịt, không một gợn sóng, nuốt trọn bóng hình những ngọn thông gầy guộc đứng nghiêng ngả trên triền đốc. Bãi lau sậy ven bờ rạp mình xuống dưới sức nặng của sương chiều. Cảnh vật hoang vắng đến rợn người, chỉ có tiếng thông reo vi vu trầm bổng tựa như muôn ngàn tiếng than khóc nghẹn ngào của những linh hồn vất vưởng dưới đáy nước sâu.

Thảo dừng lại bên gốc thông già quen thuộc - nơi Tâm từng đứng đợi nàng mỗi buổi tan trường, nơi chàng từng lồng vào ngón tay nàng chiếc nhẫn bạc cỏn con và hứa sẽ dùng cả sinh mệnh để che chở cho nàng qua cơn giông bão của định kiến gia tộc.

Bây giờ, gốc thông ấy trơ trọi và ẩm ướt. Vết khắc chữ "T-T" mà hai người từng dùng dao bấm rạch nhẹ lên vỏ cây dạo nọ nay đã rỉ ra một vệt nhựa thông màu nâu sẫm, đông cứng lại như một vết sẹo lồi xấu xí.

Thảo quỳ sụp xuống lớp cỏ ướt đẫm sương đêm. Nàng áp trán vào lớp vỏ cây xù xì, buốt giá, hai vai run lên bần bật.

"Chúa lòng lành ơi... xin gìn giữ anh ấy..." Tiếng cầu nguyện của nàng chìm nghỉm vào tiếng gió hú qua các tán lá kim. "Nếu phải gánh chịu mọi sự trừng phạt của môn đăng hộ đối, của chia lìa cay đắng, xin người trút hết lên thân xác con, chỉ xin cho anh ấy được bình an trở về..."

Một cơn gió quẩn bất thần từ giữa lòng hồ thốc ngược lên triền dốc. Mặt nước hồ Than Thở bỗng rẽ ra một vệt dài mờ ảo, kéo theo mùi tanh tao nồng nặc của bùn đáy và rêu mục. Hơi lạnh táp thẳng vào mặt Thảo, buốt rát như hàng ngàn mũi kim châm. Trong tiếng gió rít qua cành lá, nàng nghe thấy những âm thanh rì rầm ma quái, văng vẳng như tiếng ai đó đang gọi tên mình từ khoảng không gian mịt mùng dưới mép nước: *Thảo... Thảo ơi...*

Nàng giật mình ngẩng đầu nhìn quanh. Bờ hồ vắng ngắt. Màn sương chiều đã biến thành một bức tường trắng đục dày đặc, che khuất hoàn toàn tầm nhìn. Sự cô độc tột cùng bóp nghẹt trái tim người con gái hai mươi tuổi. Không một ai bên cạnh nàng lúc này. Cha mẹ nàng đã nằm sâu dưới ba tấc đất từ thuở nàng còn tấm bé. Người đàn ông duy nhất nàng trao trọn niềm tin và sự trinh bạch của tâm hồn thì nay bặt vô âm tín, giữa hai ngả đường nghiệt ngã: hoặc đã phụ bạc nàng để làm lễ cưới với tiểu thư quyền quý ở Gò Công, hoặc đã vùi thây nơi chiến địa đẫm máu phương xa.

Thảo lảo đảo đứng dậy, lê từng bước nặng nề quay trở về căn gác trọ khi trời đã tối mịt.

Đêm ngày 13 tháng Ba năm 1956 buông xuống căn gác xép với sự tĩnh mịch đáng sợ. Ngọn đèn dầu hỏa leo lét đặt trên chiếc bàn gỗ nhỏ tỏa ra quầng sáng vàng vọt, chập chờn theo từng cơn gió lùa qua khe liếp. Trên bàn, bức thiệp cưới đỏ thẫm của phủ điền chủ họ Vũ vẫn nằm trơ trọi cạnh bức thư chì rách nát của Tâm. Hai thứ ấy đặt cạnh nhau tạo nên một sự tương phản tàn nhẫn, bóp nghẹt mọi hơi thở còn sót lại trong gian phòng.

Thảo ngồi bất động trên chiếc giường gỗ ọp ẹp, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối. Nàng không bật đèn néon, không nhóm bếp sưởi. Căn phòng lạnh như một hầm mộ mới đào. Tiếng mọt nghiến gỗ trong vách liếp kêu kin kít từng hồi đều đặn, hòa cùng tiếng mưa phùn gõ lộp độp lên mái tôn.

Chuông đồng hồ nhà thờ Chánh tòa từ xa vọng lại mười hai tiếng trầm đục. Nửa đêm.

Đúng lúc thanh âm của tiếng chuông cuối cùng vừa tan biến vào màn đêm sương giá, dưới tầng trệt căn nhà trọ bỗng vang lên tiếng đập cửa dồn dập.

"Cốc! Cốc! Cốc!"

Tiếng gõ mạnh bạo và gấp gáp xé toạc không gian tĩnh mịch. Tiếng bước chân nặng nề mang giày bốt da nhà binh nện trên nền xi măng ẩm ướt ở hành lang bên dưới.

Thảo giật thót người, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Nàng vùng dậy, vội vã chạy xuống cầu thang gỗ hẹp và dốc. Người chủ nhà trọ trùm chiếc chăn dạ cũ kỹ đang lóng ngóng hé mở cánh cửa gỗ kẽo kẹt.

Bên ngoài thềm cửa, một người lính mặc áo mưa cánh dơi quân đội ướt sũng, bùn đất đỏ bám đầy từ ống quần lên tới tận thắt lưng. Chiếc nón sắt của anh ta sũng nước, che khuất nửa khuôn mặt hốc hác vì dầm mưa gió đường trường. Người lính thở hổn hển, phả ra từng luồng hơi trắng xóa vào không khí buốt giá.

"Ai là Lê Thị Thảo? Có phải cô giáo Thảo ngụ tại đây không?" Người lính cất giọng khàn đặc, gấp gáp.

"Tôi... tôi là Lê Thị Thảo đây!" Thảo lao tới bậu cửa, giọng nàng run rẩy tột độ. "Có chuyện gì vậy anh? Có tin tức gì của anh Tâm sao?"

Người lính không trả lời ngay. Anh ta nhìn trân trân vào khuôn mặt tái ngắt của Thảo, trong mắt lộ rõ vẻ bối rối và xót xa. Người lính từ từ thò tay vào trong lớp áo mưa ướt nhẹp, lôi ra một chiếc phong bì công văn màu vàng thô ráp, bên ngoài có đóng dấu hỏa tốc màu đỏ tươi nhưng đã bị nước mưa và bùn đất làm nhòe nhoẹt.

"Điện tín khẩn từ Bộ chỉ huy Tiền phương Quân đoàn III chuyển tiếp qua Quân bưu Đà Lạt lúc nửa đêm." Người lính nói bằng thanh âm trầm đục như tiếng kim loại gỉ sét cọ vào nhau. "Lệnh trên yêu cầu giao tận tay người nhận có tên trong giấy tờ tùy thân của chuẩn úy Tâm."

Thảo đưa hai bàn tay run rẩy đón lấy chiếc phong bì. Mặt giấy ráp ẩm ướt dính nhớp nháp những vệt bùn đất đỏ quạch - thứ đất đỏ đặc trưng của những cánh rừng chiến địa xa xôi. Bì thư không dán kín, bên trong kẹp một mảnh giấy in theo mẫu điện văn quân sự ngắn gọn.

Người lính thở dài một tiếng thật sâu, rồi lùi lại một bước vào màn mưa đêm:

"Tôi chỉ là người làm tròn phận sự chuyển phát văn thư đặc biệt. Xin chia buồn cùng cô giáo..."

Nói xong, người lính quay lưng rảo bước thật nhanh ra ngõ tối, bóng anh ta chìm nghỉm vào màn sương mù mịt như một bóng ma vừa hoàn thành sứ mệnh đưa tin dữ từ cõi chết trở về.

Thảo không kịp nhìn theo người lính. Nàng loạng choạng quay trở lên căn gác xép, hai đầu gối run rẩy va vào nhau khiến nàng suýt ngã sấp trên những bậc thang gỗ trơn trượt. Vừa vào đến phòng, nàng sập cửa lại, tựa hẳn lưng vào cánh ván, run rẩy rút tờ giấy điện văn ra trước ngọn đèn dầu hỏa.

Dòng chữ in hoa bằng máy chữ cũ kỹ hiện ra rõ mồn một dưới ánh sáng vàng vọt:

*"BỘ TỔNG THAM MƯU - PHÂN KHU TIỀN PHƯƠNG KHẨN CẤP BÁO TỬ: CHUẨN ÚY VŨ MINH TÂM - SỐ QUÂN: 56/... - KHÓA SINH SĨ QUAN TRƯỜNG VÕ BỊ ĐÀ LẠT ĐÃ HY SINH TRONG KHI THI HÀNH NHIỆM VỤ TẠI VÙNG CHIẾN SỰ MẶT TRẬN TÁNH LINH - RỪNG LÁ GAI VÀO NGÀY 10 THÁNG 3 NĂM 1956. THI THỂ TẠM THỜI CHƯA THỂ THU HỒI DO ĐỊA HÌNH BỊ ĐỐI PHƯƠNG BAO VÂY VÀ HỎA LỰC PHÁO KÍCH DỮ DỘI. ĐIỆN BÁO ĐỂ THÂN NHÂN VÀ THÊ NHI ĐƯỢC RÕ."*

Dưới chân bức điện là con dấu mộc tròn đỏ thẫm của ban chỉ huy mặt trận, kèm theo chữ ký vội vã của viên sĩ quan trợ lý quân lực. Nét mực đỏ của con dấu bị nước mưa làm nhòe ra chung quanh thành một vệt tròn lòng đào, đỏ lòm tựa như một vũng máu tươi vừa rỉ ra từ thân xác người chết.

Mắt Thảo mờ đi. Hai tai nàng lùng bùng những tiếng nổ chát chúa. Từng con chữ "HY SINH", "VŨ MINH TÂM", "CHƯA THỂ THU HỒI THI THỂ" như những nhát búa nện thẳng vào đại não nàng, đập nát vụn chút hy vọng cuối cùng mà nàng cố bấu víu suốt những ngày qua.

Tâm chết rồi sao?

Chàng sĩ quan trẻ tuổi với nụ cười hiền hậu, người từng ôm nàng vào lòng giữa rừng thông lộng gió, người thề non hẹn biển sẽ cùng nàng đi trọn kiếp người... nay đã nằm lại trơ trọi giữa cánh rừng già hoang vu, thân xác tan nát dưới bom đạn mà không có lấy một mảnh chiếu manh che đậy?

Khi chiếc phong bì công văn rơi tuột khỏi tay Thảo rơi xuống sàn ván, một vật nhỏ rơi ra theo, lăn lóc trên nền gỗ ẩm.

Đó là một cành thông ba lá non, dài chừng một gang tay, đã bị bẻ gãy gập làm đôi. Cành thông ấy được bọc lỏng lẻo trong một mảnh vải dù hoa ngụy trang dính đầy bùn đất khô khốc.

Thảo quỳ sụp xuống, run rẩy nhặt cành thông lên.

Nơi vết gãy của cành cây, một chất dịch quánh đặc màu đỏ thẫm đang rỉ ra, nhỏ từng giọt đặc sệt xuống lòng bàn tay trắng bệch của nàng. Nhựa thông bình thường có màu trắng đục hoặc vàng nhạt như hổ phách, nhưng cành thông này lại ứa ra thứ nhựa đỏ tươi như máu sống. Chất lỏng ấy bốc lên một mùi tanh nồng nặc đến lợm giọng, quyện lẫn với mùi đất mục đào huyệt và mùi rễ cây ngâm nước lâu ngày.

Đó chính là cành thông mà Tâm luôn cài trên nắp túi áo trận mỗi khi xuất quân - thói quen của những chàng khóa sinh Võ bị Đà Lạt mang theo chút hương vị của phố núi đi vào chốn sa trường. Nay cành thông đã gãy lìa. Máu từ vết gãy dính bết vào những ngón tay run rẩy của Thảo, lạnh buốt như băng tuyết.

"Tâm ơi..."

Một tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ đáy họng Thảo, khô khốc và rách toạc.

Nàng không khóc gào lên được. Nỗi đau đớn tột cùng ập đến bất ngờ đã làm tê liệt toàn bộ dây thần kinh của nàng. Trái tim nàng như vừa bị bàn tay vô hình nào đó bóp nát thành trăm mảnh vụn. Nàng ôm chặt cành thông rỉ máu và tờ giấy báo tử vào lòng, ép chặt vào lồng ngực đang co thắt dữ dội. Máu từ cành thông thấm qua lớp áo len, in một vệt đỏ thẫm ngay trước ngực nàng, đúng ngay vị trí của trái tim.

Thế là hết.

Mọi lối thoát trên trần gian này đều đã bị bịt kín lại bằng bức tường tang tóc dày đặc.

Ở quê nhà Gò Công, gia tộc chàng đã tổ chức hôn lễ với người đàn bà khác, xua đuổi nàng như một bóng ma làm nhơ nhuốc cơ nghiệp. Còn nơi chiến địa xa xôi, thân xác chàng đã vùi sâu dưới đất lạnh, linh hồn chàng trôi dạt giữa rừng thiêng nước độc, không người hương khói, không có lấy một nấm mồ để nàng đến quỳ lạy khóc than.

Chàng đã chết trong sự ruồng bỏ của gia đình và sự cô độc của chiến tranh. Còn nàng bị bỏ lại nơi phố núi lạnh lẽo này, trơ trọi giữa những lời nguyền rủa và sỉ nhục của người đời.

Gió bên ngoài đồi thông bỗng chốc gầm thét dữ dội. Cánh cửa sổ gác xép bị một luồng gió mạnh thổi tung chốt gài, đập mạnh vào vách ván "rầm" một tiếng chát chúa. Ngọn đèn dầu hỏa chao đảo kịch liệt rồi phụt tắt, dìm toàn bộ căn phòng vào bóng tối đặc quánh như mực tàu.

Từ phía hồ Than Thở cách đó không xa, tiếng nước vỗ bì bõm vào bờ đá dội lại qua màn mưa gió, hòa cùng tiếng thông reo rền rĩ như muôn vạn tiếng khóc than ai oán từ dưới đáy vực sâu. Hơi nước buốt giá mang theo mùi tanh tao nồng nặc từ mặt hồ tràn qua khung cửa sổ mở toang, ùa vào bao trùm lấy thân hình còm cõi của người con gái đang quỳ bất động giữa bóng đêm.

Thảo từ từ ngẩng đầu lên. Trong bóng tối mịt mùng, đôi mắt nàng ráo hoảnh không còn một giọt nước mắt, nhưng sâu trong con ngươi đen lánh ấy bùng lên một tia sáng lạnh lẽo, ma dại và dứt khoát.

Bàn tay nàng buông lỏng cành thông gãy, lướt nhẹ trên mặt sàn gỗ ẩm ướt, chạm vào bức di ảnh nhỏ của hai người chụp chung trên đồi thông ngày nào. Nàng biết mình phải làm gì. Chàng nằm lại nơi rừng sâu lạnh lẽo, thì nàng cũng không thể tiếp tục sống trơ trọi trên cõi đời giả dối và tàn độc này thêm một ngày nào nữa. Lời thề dưới gốc thông ba lá năm xưa vẫn còn nguyên vẹn: sống cùng nhau, chết cùng nhau.

Màn đêm buốt giá của rạng sáng ngày 14 tháng Ba năm 1956 đã bắt đầu phủ xuống căn phòng nhỏ, mở ra cánh cửa dẫn nàng bước vào đêm trắng định mệnh của cuộc đời mình.

Chương khác

Xem thêm