Đồi Thông Hai Mộ - Chương 9: Tin Thất Thiệt Từ Chiến Trường
Tiếng đại bác từ xa vọng lại từng chặp trầm đục, rung chuyển cả mặt đất đỏ quánh đặc bùn lầy của vùng rừng le giáp ranh miền duyên hải. Trong căn lán dã…
Nội dung chương
Tiếng đại bác từ xa vọng lại từng chặp trầm đục, rung chuyển cả mặt đất đỏ quánh đặc bùn lầy của vùng rừng le giáp ranh miền duyên hải.
Trong căn lán dã chiến lợp bằng lá trung quân ướt sũng nước mưa, Vũ Minh Tâm ngồi thụp trên chiếc hòm đạn gỗ mục. Chàng gập đôi đầu gối làm bàn kê, ngón tay run rẩy kẹp chặt mẩu bút chì cùn đã gãy ngọn. Ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn bão treo lủng lẳng trên cọc tre hắt bóng chàng đổ dài lên vách bạt xám xịt. Quanh chàng, mùi khói súng chưa tan quyện chặt lấy mùi ẩm mốc của bùn non, mùi mồ hôi chua nồng và mùi máu tanh rỉ ra từ vết rách trên bắp tay còn băng bó dở.
Sau chuyến xe GMC rời khỏi thị xã sương mù vào buổi sáng định mệnh ấy, đơn vị của chàng bị điều ngay vào vùng bình định hỗn loạn. Những đợt hành quân liên miên xé rách mọi liên lạc thường nhật. Nhưng vết thương trên da thịt chẳng thấm vào đâu so với vết rách toang hoác nơi lồng ngực chàng từ đêm rời bến nước hồ Than Thở.
Hình bóng Thảo đứng chơ vơ dưới mép nước đen ngòm, bàn tay vẫy gọi trong sương giá cùng vệt máu đỏ thẫm trên cổ tay cứ ám ảnh chàng qua từng giấc ngủ chập chờn. Mỗi lần nhắm mắt lại giữa rừng sâu, chàng đều nghe thấy tiếng thông reo rền rĩ hòa cùng tiếng khóc nghẹn ngào của người con gái chàng yêu.
Tâm cẩn thận mở chiếc bọc vải dù giấu sát bên ngực áo dã chiến. Bên trong bọc vải là chiếc khăn tay thêu nhành hoa thạch thảo tím đã nhuốm màu khói bụi, cùng những hạt gỗ mun vỡ nát của chuỗi Mân Côi mà chàng nhặt được trước hiên nhà nàng đêm ấy. Chàng áp mảnh gỗ nứt vào môi. Vị chát đắng của gỗ rừng và rêu ẩm xộc vào sống mũi, nhức buốt đến tận tim gan.
Chàng phải gửi được tin về. Bằng mọi giá, chàng phải cho nàng biết chàng vẫn sống, và lời thề hẹn trên đồi thông chưa một giây phút nào phai nhạt.
Bằng những nét chữ run rẩy, vội vã trên trang giấy kẻ ô đã quăn mép vì ngấm nước mưa, Tâm viết:
"Thảo của anh,
Khi bức thư này đến tay em, anh mong em vẫn bình yên nơi góc phố nhỏ. Đêm rời Đà Lạt, anh đã thấy em bên bờ hồ. Anh đã gào thét tên em đến rách toạc cổ họng nhưng quân lệnh sắt đá đã kéo anh đi.
Thảo ơi, dù cha mẹ anh có dùng ngàn vạn quyền uy ép buộc, dù dòng họ Vũ có chối bỏ, anh cũng trọn đời chỉ nhận một mình em làm vợ. Đừng nghe bất cứ lời ong tiếng ve nào từ phương Nam. Anh gom từng mảnh chuỗi hạt của em giữ bên ngực áo, mỗi nhịp đập của trái tim anh đều hướng về ngọn đồi thông hai ta từng ngồi bên nhau. Hết đợt hành quân này, anh sẽ xin nghỉ phép về đón em rời khỏi Đà Lạt, đi đến một nơi không ai biết chúng ta là ai..."
Vết mực nhòe đi vì một giọt mồ hôi rơi xuống từ trán chàng. Tâm cẩn thận gấp bức thư làm tư, cho vào chiếc phong bì quân bưu màu cỏ úa. Chàng rút thêm năm tờ bạc hai mươi đồng Đông Dương còn sót lại trong ví kẹp vào mép bì thư.
Bên ngoài lán, tiếng bước chân bì bõm lội bùn tiến lại gần. Trung sĩ Nghĩa, người phụ trách chuyến xe tiếp tế chuẩn bị quay về hậu cứ Phan Rang để chuyển thương binh, thò đầu vào qua tấm bạt ướt:
"Chuẩn úy Tâm, xe sắp chuyển bánh rồi. Đơn vị cấm chỉ ngặt nghèo việc chuyển thư từ cá nhân trong đợt tác chiến này, cấp trên biết được là tôi bị tống vào trại kỷ luật ngay."
Tâm đứng bật dậy, chộp lấy bọc thư và nắm chặt lấy cổ tay người lính tiếp tế. Ánh mắt chàng đỏ ngầu, tha thiết đến van lơn:
"Anh Nghĩa, tôi xin anh. Đây là mạng sống của tôi. Về tới bưu cục Phan Rang, anh bỏ giúp tôi vào thùng thư bảo đảm gửi lên Đà Lạt. Chỗ tiền này anh giữ lấy uống cà phê, coi như cứu vớt một kiếp người."
Nhìn vẻ mặt hốc hác, đôi môi khô nứt nẻ và ánh mắt như muốn quỳ lạy của viên sĩ quan trẻ xuất thân từ gia đình quyền quý, người lính tiếp tế khẽ thở dài. Anh ta đón lấy phong thư nhét sâu vào túi áo mưa nylon:
"Được rồi, tôi liều với ông một phen. Nhưng đến bưu cục dân sự thì nhanh hay chậm còn tùy trời đất, dạo này đường đèo hay bị sạt lở lắm."
Tâm gật đầu lia lịa, hai bàn tay run rẩy siết chặt lấy vai người đồng đội. Chàng đứng trân trân nhìn chiếc xe tải chở thương binh gầm rú bò qua vũng lầy lội, bóng đèn pha màu vàng đục chìm dần vào bóng đêm dày đặc của rừng già. Tâm ngửa mặt nhìn lên vòm lá ướt sũng, thầm khấn nguyện Đức Mẹ Maria của nàng và chư Phật từ bi nơi quê nhà hãy che chở cho phong thư ấy đến được tận tay Thảo.
Nhưng chàng không thể ngờ rằng, những sợi dây oan nghiệt của số phận đã giăng sẵn mạng nhện từ trước khi phong thư rời khỏi chiến hào.
***
Đà Lạt những ngày cuối tháng Hai năm 1956 chìm trong những đợt rét nàng Bân muộn màng. Gió từ đỉnh Langbiang tràn xuống thung lũng, mang theo cái lạnh thấu xương cào xé những thân thông già rên xiết từng đêm.
Trong căn gác trọ chật hẹp gần trường Bùi Thị Xuân, Thảo ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát cửa sổ. Ánh sáng xám xịt của buổi chiều tà rọi lên gương mặt nàng, để lộ đôi gò má nhô cao và làn da xanh xao xao xác như cánh hoa úa tàn. Chiếc áo len màu xám tro khoác trên đôi vai gầy guộc dường như quá rộng so với thân hình đang ngày một teo tóp vì những đêm dài mất ngủ.
Đã hơn một tháng kể từ ngày Tâm biệt tích.
Suốt khoảng thời gian ấy, ngôi trường nữ trung học nơi nàng dạy học không còn là chốn bình yên. Những lời xì xầm, to nhỏ bắt đầu xuất hiện từ phòng giáo viên rồi lan ra tận các dãy hành lang lớp học. Người ta chỉ trỏ sau lưng nàng, thương hại có, mỉa mai có, nhưng độc địa hơn cả là những câu chuyện thêu dệt được truyền tai nhau từ các bà mối xứ Nam Kỳ lên phố núi buôn bán.
"Tội nghiệp cô giáo Thảo, tưởng vớ được công tử môn đăng hộ đối, ai ngờ người ta chỉ coi là trò vui chơi qua đường."
"Nghe đâu ông bà Phủ dưới Gò Công cho gia nhân lên tận nơi lôi cổ con trai về rồi. Dưới đó đã làm lễ dạm ngõ cho một tiểu thư con nhà đại điền chủ giàu có bậc nhất xứ Cai Lậy, ruộng đất cò bay thẳng cánh, của hồi môn cả rương vàng."
"Người ta danh gia vọng tộc theo đạo thờ ông bà tổ tiên, đời nào chịu rước một đứa con gái mồ côi theo đạo Chúa về làm dâu trưởng. Khéo mà bị đuổi khéo rồi cũng nên!"
Mỗi lời nói như một mũi kim tẩm độc đâm thẳng vào tim Thảo. Nàng cắn chặt môi, cúi đầu bước nhanh qua những ánh nhìn soi mói. Nhưng nỗi đau đớn thể xác không đáng sợ bằng sự câm lặng đáng sợ của Tâm. Đêm nào nàng cũng ra ngóng đầu con dốc dẫn vào xóm trọ, chờ đợi bóng dáng quen thuộc trong bộ quân phục dã chiến, nhưng đáp lại nàng chỉ là tiếng gió hú qua kẽ lá thông và tiếng chuông nhà thờ chánh tòa điểm từng hồi thê thiết.
Cổ tay phải của Thảo vẫn còn quấn băng trắng. Vết cào rách thịt trên bậu cửa gỗ đêm hôm ấy vẫn chưa lành miệng, mỗi khi trời trở lạnh lại nhức nhối buốt tận tủy xương. Chuỗi hạt Mân Côi - điểm tựa tâm linh duy nhất mà người mẹ quá cố để lại - đã không còn trên cổ tay. Nàng cảm thấy mình như một con thuyền rách nát bị tước mất chiếc mỏ neo giữa giông bão ngút ngàn.
Bỗng có tiếng gõ cửa cộc cộc vang lên từ cầu thang gỗ ọp ẹp.
Bà chủ nhà trọ, một phụ nữ phố núi trạc ngũ tuần với khuôn mặt khắc khổ, thò đầu vào liếc nhìn Thảo ái ngại:
"Cô Thảo ơi, có người dưới bưu điện mang thư tới cho cô này. Nghe nói là thư hỏa tốc gửi từ miền dưới lên."
Thảo giật bắn mình. Trái tim nàng đập thình thịch liên hồi như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Bức tranh u ám bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho một tia hy vọng bùng cháy mãnh liệt. Tâm! Nhất định là Tâm! Chàng đã không quên nàng, chàng đã gửi thư về cho nàng!
Nàng vội vã đứng bật dậy, chiếc ghế gỗ ngã nhào ra sau sàn nhà mà nàng cũng không buồn nhặt. Đôi chân trần lạnh ngắt chạy ào xuống cầu thang, tà áo dài lụa trắng phấp phới trong gió lùa.
Đứng dưới chân cầu thang là người phát thư mặc áo khoác kaki sờn vai, bên cạnh gã là một người đàn ông lạ mặt mặc âu phục dạ xám, đầu đội mũ phớt dạ đen kéo sụp xuống tận trán. Người đàn ông này đứng im như một pho tượng đá trong góc tối, hai bàn tay đeo găng da đen chắp sau lưng, ánh mắt sắc lạnh như mắt cú vọ quan sát từng cử chỉ của Thảo.
"Cô Lê Thị Thảo, giáo viên trường Bùi Thị Xuân phải không?" Người phát thư cất giọng khàn khàn, đưa ra một chiếc phong bì dày cộp bằng giấy điều đỏ thắm.
Thảo khựng lại. Ánh mắt nàng rơi vào phong bì trên tay người đưa thư.
Đó không phải là chiếc phong bì quân bưu màu cỏ úa mà lính trường Võ bị vẫn thường dùng. Đó là một chiếc phong bì cưới sang trọng làm bằng giấy hoa tiên đỏ thẫm, viền kim nhũ lấp lánh, bên ngoài phong kín bằng sáp đỏ có đóng dấu triện nổi của một dòng họ lớn. Nét chữ đề tên nàng bên ngoài nắn nót, cứng cỏi bằng mực tàu đen nhánh, nhưng hoàn toàn xa lạ, toát lên vẻ quyền uy lạnh lùng và tàn nhẫn.
Thảo run rẩy đưa hai tay đón lấy phong thư. Đầu ngón tay nàng chạm vào lớp giấy lụa dày cộp, một cảm giác lạnh buốt chạy dọc từ sống lưng lên đến đỉnh đầu.
Người đàn ông lạ mặt đứng trong góc tối khẽ nhếch mép, cất giọng Nam bộ ráo hoảnh, khô khốc:
"Thưa cô, chúng tôi là người của Phủ điền chủ Vũ Minh xứ Gò Công. Lệnh bà sai chúng tôi mang lễ báo hỷ lên tận tay cô giáo, để cô giáo khỏi mất công trông đợi người không thuộc về mình nữa."
Thảo chết trân tại chỗ. Bàn chân nàng như bị đóng đinh xuống sàn gỗ ẩm mục.
"Anh... anh nói gì? Anh Tâm đâu? Đây không phải chữ của anh Tâm!" Tiếng thét của Thảo nghẹn lại trong cổ họng, vỡ vụn thành những hơi thở dồn dập.
Người đàn ông không trả lời. Hắn chỉ nghiêng đầu chào một cách máy móc, rồi quay lưng bước thẳng ra màn sương chiều đang buông xuống mặt đường nhựa. Người phát thư cũng vội vã thu túi thư, lấm lét nhìn Thảo rồi nhanh chóng dắt xe đạp đi mất, để lại nàng trơ trọi giữa khoảng sân ẩm ướt gió lùa.
Thảo loạng choạng bước từng bước nặng nề lên lại căn gác xép. Nàng đóng sập cửa phòng, dựa lưng vào cánh gỗ thở dốc từng cơn. Căn phòng tối dần, chỉ còn lại vệt sáng nhờ nhạt từ khung cửa sổ chiếu thẳng vào bức phong bì đỏ rực đang nằm trên tay nàng, chói chang và gai mắt tựa như một vũng máu tươi vừa chảy ra từ vết thương chí mạng.
Nàng run rẩy xé lớp sáp niêm phong.
Mùi trầm hương xứ Gò Công nồng nặc, ngột ngạt xộc thẳng vào mũi Thảo - đúng thứ mùi khét lẹt đã từng ám vào bậu cửa nhà nàng trong đêm giông bão. Từ bên trong chiếc phong bì, một tờ thiệp hoa tiên gấp ba rơi ra bàn.
Kèm theo đó là một mảnh giấy học trò xé dở, nhàu nát và cháy sém một góc.
Thảo vồ lấy mảnh giấy cháy sém ấy trước tiên. Tim nàng như ngừng đập khi nhận ra nét chữ thân quen của Tâm - những con chữ viết vội bằng bút chì, run rẩy và đầy đau đớn: *"...Thảo của anh... anh trọn đời chỉ nhận một mình em làm vợ... đừng nghe bất cứ lời ong tiếng ve nào..."*
Bức thư của chàng! Tâm quả thực đã viết thư cho nàng! Nhưng tại sao nó lại nằm trong tay những kẻ lạ mặt kia? Tại sao nó lại bị xé toạc và đốt dở dang thế này?
Bàn tay Thảo run bắn lên khi nàng lật mở tờ thiệp hoa tiên màu đỏ thẫm còn lại.
Bên trong tờ thiệp báo hôn sự được in chữ thếp vàng rực rỡ, trang trọng ghi rõ:
*"Phủ Điền chủ họ Vũ xứ Gò Công trân trọng kính báo: Lễ Thành Hôn và Nghinh Hôn của Thứ nam: VŨ MINH TÂM Sánh duyên cùng Trưởng nữ: ĐỖ THỊ NGỌC MAI (Ái nữ của Điền chủ Đỗ gia xứ Cai Lậy, Tiền Giang) Hôn lễ được cử hành trọng thể tại bản từ đường họ Vũ vào ngày Rằm tháng Ba năm Bính Thân..."*
Dưới chân tờ thiệp là dòng chữ viết tay bằng mực tím của chính mẹ Tâm - nét chữ sắc nhọn, gãy gọn từng xuất hiện trên bức thư xua đuổi dạo trước:
*"Lá thư rách nát kia là thứ con trai ta viết trong cơn mê muội trước khi bị giải về quê. Nay nó đã quỳ trước bàn thờ tổ tiên xin tạ tội, cam tâm tình nguyện vâng lời cha mẹ chấp thuận mối lương duyên môn đăng hộ đối này để cứu lấy cơ nghiệp dòng họ. Chiếc thiệp này gửi cho cô, mong cô biết thân biết phận mà tự giải thoát cho mình, đừng để hồn ma bóng quế bám víu làm nhơ nhuốc ngày vui của con ta."*
Từng con chữ như những lưỡi dao găm sắc nhọn cứa nát từng thớ thịt trong lồng ngực Thảo.
Nàng gục xuống bàn, hai tay ôm chặt lấy đầu. Đôi mắt nàng mở trừng trừng nhìn vào tờ thiệp đỏ, nước mắt không trào ra được nữa mà nghẹn đắng nơi cuống họng. Tâm đã về Gò Công? Chàng đã quỳ lạy trước bàn thờ tổ tiên để nhận người đàn bà khác làm vợ? Bức thư tay chàng viết trong chiến hào rốt cuộc là lời từ biệt cuối cùng hay chỉ là sự giằng xé vô vọng trước khi chàng buông tay quy hàng gia tộc?
Những lời đồn đại độc địa ngoài kia bỗng chốc ùa về, dội vang trong tâm trí nàng như những tiếng chuông tang chát chúa. Người ta không lừa nàng. Cả thị xã này đều biết, chỉ có mình nàng là kẻ mù quáng bấu víu vào một ảo ảnh hão huyền bên bờ hồ vắng.
Bên ngoài cửa sổ, màn đêm đã nuốt trọn những đồi thông trập trùng. Gió hú từng cơn dữ dội qua khe liếp, mang theo hơi lạnh buốt giá từ mặt hồ Than Thở bốc lên, bao trùm lấy căn gác xép u tối.
Thảo run rẩy vươn tay gom lấy bức thư cháy dở của Tâm và tờ thiệp cưới màu máu ép chặt vào ngực mình. Nàng không khóc, nhưng hàm răng nàng nghiến chặt vào nhau đến mức bật máu tươi nơi khóe môi, đỏ thẫm và lạnh ngắt giữa bóng tối mịt mùng của đêm dài Đà Lạt.