Đồi Thông Hai Mộ - Chương 12: Đám Tang Đơn Sơ Dưới Đồi Thông
Cánh cửa gỗ thông của căn gác xép khép lại sau lưng Thảo bằng một tiếng cạch nhẹ tênh, hầu như tan biến vào sự tĩnh mịch của phố núi. Đà Lạt lúc bốn giờ…
Nội dung chương
Cánh cửa gỗ thông của căn gác xép khép lại sau lưng Thảo bằng một tiếng cạch nhẹ tênh, hầu như tan biến vào sự tĩnh mịch của phố núi.
Đà Lạt lúc bốn giờ sáng chìm trong một khối sương mù xám đục. Hơi nước buốt giá từ các hốc núi tràn qua thung lũng, trườn lên những mái nhà lợp tôn và vách ván, đọng thành từng giọt nước trĩu nặng trên mép hiên rồi rỏ xuống nền đất đỏ từng giọt rời rạc. Không gian chung quanh nặng trịch mùi nhựa thông ẩm ướt và hơi đất mục sau chuỗi ngày dài rả rích mưa phùn.
Thảo bước từng bước cẩn trọng xuống cầu thang gỗ. Đôi guốc mộc gõ vào bậc ván những tiếng khẽ khàng, đều đặn. Nàng mặc chiếc áo dài lụa trắng mềm rủ, tà áo mỏng manh khẽ bay theo làn gió bấc buốt nhọn rạch qua khoảng sân hoang vắng. Chiếc áo này là kỷ vật của những ngày tháng nàng đứng trên bục giảng trường Nữ trung học Bùi Thị Xuân, cũng là chiếc áo nàng mặc trong buổi chiều mùa thu năm trước, khi Tâm đứng đón nàng dưới rặng thông già, nụ cười hiền hậu làm bừng sáng cả một triền đồi hoang vu.
Bên trong túi áo ngực, sát nơi buồng tim đang đập từng nhịp yếu ớt, Thảo ép chặt phong thư di ngôn, chiếc thẻ căn cước cùng cành thông ba lá gãy đôi rỉ nhựa đỏ bọc trong mảnh vải dù hoen ố. Nàng không mang theo hành lý, không áo ấm che thân, cũng không có chiếc khăn len màu lam mà Tâm từng mua tặng ở chợ Hòa Bình. Nàng muốn đi về cõi vĩnh hằng với tấm thân thanh sạch nguyên vẹn, như ngày đầu tiên nàng mở lòng đón nhận tình yêu của chàng.
Con đường đất đỏ dẫn từ khu phố vắng ra phía hồ Than Thở vắng ngắt bóng người. Những ngọn đèn đường hiếm hoi của thị xã mờ mịt phía sau lưng nàng, nhạt nhòa tựa những đốm lửa ma trơi sắp tàn lụi giữa bãi tha ma. Màn sương đêm dày đặc bám chặt lấy mái tóc xõa dài của Thảo, kết thành muôn vàn hạt nước li ti lấp lánh dưới ánh sáng nhợt nhạt của buổi rạng ngày. Càng đi xa khỏi khu dân cư, tiếng thông reo càng lúc càng trỗi dậy rền rĩ, gió thốc từ triền thung lũng sâu cuốn theo ngàn tiếng rào rạt bi ai.
Cùng lúc đó, cách Đà Lạt hàng trăm cây số về phía Đông Nam, giữa khu rừng rậm Bình Tuy mù mịt khói súng, mặt đất rung chuyển bởi những đợt đại bác cầm canh rền rĩ từ bờ sông đổ về.
Trong căn hầm dã chiến khoét sâu vào sườn đồi đất sét đỏ quạch, Vũ Minh Tâm đang ngồi tựa lưng vào vách đất ẩm ướt. Chiếc nón sắt cáu bẩn bùn non rơi nghiêng bên cạnh gót giày saut. Khẩu súng carbine đặt ngang đùi, đầu ruồi thép bóng loáng ánh lên tia sáng mờ căm phát ra từ cây đèn bão vặn nhỏ tim. Đơn vị của Tâm vừa trải qua một trận càn ác liệt kéo dài ba ngày đêm, thương vong rải rác khắp các cánh rừng dầu, lệnh đình chiến tạm thời trong đêm giúp những người lính có được vài giờ chợp mắt hiếm hoi trước khi mặt trời ló rạng.
Thế nhưng Tâm không tài nào nhắm mắt nổi.
Một luồng khí lạnh buốt bất thường từ lòng đất bốc thốc lên, xuyên qua lớp áo trận dính đầy bùn đất, xộc thẳng vào tủy sống chàng. Đôi bàn tay chai sạn của Tâm bỗng nhiên run rẩy không kiểm soát. Chàng đưa bàn tay lên, nhìn những ngón tay gầy guộc của mình giật liên hồi giữa ánh đèn leo lét.
Đúng bốn giờ mười lăm phút sáng ngày 15 tháng Ba.
Một cơn đau nhói dữ dội bỗng chốc giáng thẳng vào lồng ngực trái của Tâm. Cơn đau bén ngọt và tàn khốc, tựa hồ có hàng ngàn mũi kim thép nung đỏ cùng lúc đâm xuyên qua màng tim, xé toạc từng thớ cơ thịt. Tâm gập người lại, hai tay bấu chặt lấy ngực áo dã chiến, móng tay bấm sâu qua lớp vải kaki dày cộp đến mức bật máu.
Chàng há hốc miệng để thở, cuống họng nghẹn ứ, không thể phát ra bất kỳ một âm thanh trọn vẹn nào. Không khí trong hầm bỗng chốc trở nên loãng toẹt và đặc quánh mùi tanh tao của bùn nước thối rữa, xộc thẳng vào đại não chàng một cảm giác ngột ngạt đến tuyệt vọng.
"Tâm! Cậu làm sao thế?"
Tiếng người đồng đội nằm kế bên hoảng hốt vang lên. Người lính trẻ chồm dậy, vội vã nắm lấy bả vai Tâm giật mạnh.
Tâm không thể cất lời. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán, chảy ròng ròng xuống hai hốc mắt cay xè. Trước mắt chàng, bóng tối của căn hầm dã chiến bỗng nhòe đi, nhường chỗ cho một ảo ảnh xám ngắt trập trùng sương trắng. Chàng ngửi thấy mùi nhựa thông ba lá nồng nặc, mùi rêu mục của một mặt hồ phẳng lặng, và văng vẳng bên tai là tiếng gọi run rẩy, xót xa, đứt quãng của một người con gái:
*Anh Tâm... Em đi tìm anh...*
"Thảo..."
Tâm thốt lên một tiếng rên rỉ nghẹn ngào từ đáy cuống họng khô khốc. Chàng giãy giụa toan đứng bật dậy, nhưng đôi chân hoàn toàn tê dại, lồng ngực chàng co thắt từng cơn đau đớn đến nghẹt thở. Bản năng của một kẻ mang nặng ân tình gào thét báo cho chàng biết rằng, ở một nơi xa xôi trên cao nguyên lạnh giá, một phần máu thịt của chàng đang bị bứt lìa khỏi cõi sống.
Trở lại bờ hồ Than Thở, bóng dáng Thảo đã đứng lẻ loi bên triền dốc thoải.
Trước mặt nàng, mặt nước hồ phẳng lặng như một tấm gương đồng khổng lồ, đen sẫm và thâm u, ẩn hiện dưới những làn sương khói mịt mù trôi là đà. Hồ nước này từng mang tên Sương Mai, thuở người Pháp còn cai trị thì gọi là Lac des Soupirs - Hồ của những tiếng thở dài. Nơi đây từng chứng kiến bao nhiêu bước chân của đôi lứa hẹn thề, từng nghe tiếng cười giòn tan của Thảo xen lẫn tiếng thì thầm trầm ấm của Tâm vào những buổi chiều hoàng hôn tà tà buông trên ngọn thông.
Nàng dừng lại dưới hai gốc thông ba lá mọc sát cạnh nhau. Thân cây xù xì, rêu phong phủ kín một bên vỏ mục. Đây chính là gốc cây hai người từng khắc dấu ước hẹn, nơi Tâm từng vòng tay ôm lấy nàng, hứa sẽ vượt qua muôn trùng sóng gió gia phong ở miền Gò Công xa xôi để rước nàng về làm dâu hiền, vợ thảo.
Thảo vươn tay vuốt ve thớ vỏ thông sần sùi. Nhựa thông dính vào lòng bàn tay nàng, dẻo quánh và lạnh ngắt. Nàng cúi đầu, nhìn xuống mặt cỏ đẫm sương mai dưới chân.
Nàng từ từ tháo đôi guốc mộc quai nhung đen ra khỏi bàn chân trắng bệch.
Thảo đặt đôi guốc ngay ngắn trên bờ cỏ, mũi guốc hướng thẳng về phía rừng thông trên đồi cao, quay lưng lại với lòng hồ sâu thẳm. Cử chỉ của nàng chậm rãi, cẩn trọng, như thể đây là việc hệ trọng nhất của một đời người. Nàng rút bức thư tuyệt mệnh và tấm thẻ căn cước từ trong ngực áo ra, cẩn thận luồn xuống dưới đế guốc, rồi nhặt một hòn đá cuội phẳng chèn lên trên để gió đồi không thể thổi bay những lời trăn trối cuối cùng của nàng gửi lại cho đời.
Chỉ còn cành thông ba lá non rỉ nhựa máu khô là nàng vẫn giữ chặt trong tay. Nàng áp cành cây vào má, khẽ khàng nhắm mắt lại.
Gió từ mặt hồ thổi hắt lên mặt nàng từng luồng buốt giá, mang theo mùi tanh nồng của bùn lầy ngâm đáy nước lâu năm. Dưới lòng sâu kia là sự tăm tối vĩnh hằng, là nơi không còn sự kỳ thị tôn giáo, không còn định kiến môn đăng hộ đối, không còn những bức thư nguyền rủa cay độc của dòng họ điền chủ phương Nam, và cũng không còn nỗi đau đớn tột cùng khi nghe tin người mình yêu đã tan xác nơi chiến địa.
Nếu trần gian này không có chỗ cho tình yêu của hai kẻ bần hàn và lỡ dở, thì đáy nước sâu thẳm sẽ là chiếc giường cưới vĩnh cửu đón nhận nàng.
Thảo bước chân trần đầu tiên xuống mép nước.
Bùn đất ẩm ướt trồi lên giữa các kẽ ngón chân, lạnh thấu xương tủy. Cơn buốt giá đột ngột truyền thẳng từ bàn chân lên sống lưng khiến thân hình mảnh mai của nàng khẽ run rẩy. Nhưng ánh mắt Thảo không hề có lấy một tia do dự hay sợ hãi. Đôi mắt nàng ráo hoảnh, phẳng lặng và sâu thẳm hệt như lòng hồ trước mắt.
Nàng bước bước thứ hai, rồi bước thứ ba.
Nước hồ Than Thở ngập qua mắt cá chân, dâng lên bắp chuối, rồi trùm qua đầu gối. Tà áo dài lụa trắng mềm mại nổi lềnh bềnh trên mặt nước đen ngòm, xòe rộng ra như đôi cánh của loài thiên nga trắng đang từ từ khép lại trước giờ lâm chung. Hơi lạnh của làn nước buốt giá ngấm dần qua từng lớp vải, ép chặt vào da thịt nàng, hút cạn từng chút hơi ấm sinh linh còn sót lại.
Nàng bước sâu hơn nữa vào lòng hồ. Đáy nước nơi đây dốc thoai thoải, đầy những rễ thông ngầm chằng chịt và lớp bùn sệt lún sâu. Mỗi bước chân của nàng khuấy động lớp bùn đen bên dưới, làm bốc lên từng cụm bọt khí lủi thủi vỡ tan trên mặt nước.
Nước dâng lên đến thắt lưng, rồi ngập tràn lồng ngực. Áp lực của nước sâu bắt đầu đè nặng lên hơi thở, lồng ngực Thảo nghẹn thắt lại, buốt nhói từng hồi. Bàn tay nàng vẫn nắm chặt cành thông gãy bọc trong mảnh vải dù, ép chặt vào tim.
"Lạy Chúa... xin Người tha thứ cho kẻ hèn mọn này..." Môi Thảo mấp máy những lời cuối cùng, giọng thì thào tan loãng vào làn sương xám. "Tâm ơi... em đến với anh đây..."
Nàng bước hụt chân vào một hố trũng sâu hoắm dưới đáy hồ.
Khối nước đen đặc lập tức tràn qua cằm, qua môi, rồi nuốt trọn lấy sống mũi và đôi mắt mở trừng trừng của người con gái.
Nước xộc thẳng vào khí quản, buốt nhọn như thủy tinh vỡ cào xé buồng phổi. Thảo chìm sâu xuống đáy nước, mái tóc dài đen nhánh xõa tung ra trong dòng nước lạnh ngắt, quấn quýt lấy những cành cây mục và rêu rác dưới đáy hồ. Tà áo lụa trắng dập dềnh uốn lượn theo từng đợt sóng ngầm, trước khi bị bóng tối đặc quánh của lòng hồ vùi lấp hoàn toàn.
Ngay vào giây phút mặt nước hồ Than Thở khép lại, nuốt chửng thân xác Thảo, một sự biến dị kinh hoàng bỗng chốc giáng xuống vùng đồi hoang vu.
Mặt hồ vốn phẳng lặng như tờ bỗng nhiên nổi sóng dữ dội. Những vòng tròn đồng tâm cuộn trào từ vị trí Thảo vừa chìm xuống, lan rộng ra khắp bốn phía, đập vào bờ đá tạo nên những tiếng bì bõm đục ngầu, dồn dập và hoảng loạn.
Từ bốn phía đồi cao, rừng thông ba lá bỗng trỗi dậy một trận gió xoáy cuồng loạn. Gió không thổi theo chiều ngang thông thường, mà xoay tròn từ ngọn các cây thông cổ thụ, rít rền rĩ qua từng kẽ lá nhọn hoắt. Hàng ngàn ngọn thông oằn mình, cọ xát vào nhau chan chát, phát ra những âm thanh rền rĩ, ai oán đến rợn gáy.
Tiếng gió rít qua rừng cây nghe không khác gì tiếng gào khóc thảm thiết của một người phụ nữ bị xé nát tâm can. Tiếng khóc ấy khi thì trầm đục như tiếng nấc nghẹn dưới mồ sâu, khi thì vút cao xé toạc màn sương mù dày đặc, lượn lờ chung quanh bờ nước, dội vào vách núi rồi dội ngược lại lòng hồ, vang vọng khắp một góc trời hoang lạnh của thị xã Đà Lạt.
Trận gió xoáy cuốn tung những lớp lá thông khô mục trên sườn đồi, quăng quật mù mịt giữa không trung rồi thả rơi lả tả xuống mặt nước đen sẫm. Từng chiếc lá thông nhọn như những mũi gai găm thẳng vào làn nước lạnh ngắt, bao phủ lấy vùng nước nơi Thảo vừa yên nghỉ vĩnh hằng.
Trên bờ cỏ đẫm sương, đôi guốc mộc quai nhung đen vẫn đứng lặng lẽ hướng về phía đồi cao. Bên dưới đế guốc, mép bức thư tuyệt mệnh khẽ lay động trong luồng gió buốt, dòng chữ mực tím nhòe nhoẹt ép sát vào lòng đất mẹ trần gian.
Sương mù rạng sáng ngày 15 tháng Ba năm 1956 bắt đầu ngả sang màu tím xám thê lương, báo hiệu một ngày tang tóc phủ trùm lên con dốc quạnh hiu của xứ ngàn thông.