Đồi Thông Hai Mộ - Chương 14: Quỳ Khóc Bên Mộ Người Yêu

Chiếc xe đòn chở khách cọc cạch nhả từng luồng khói đen kịt lại phía sau, ì ạch bò lên đỉnh đèo Ngoạn Mục rồi thả dốc vào cao nguyên Lang Biang trong một…

Nội dung chương

Chiếc xe đòn chở khách cọc cạch nhả từng luồng khói đen kịt lại phía sau, ì ạch bò lên đỉnh đèo Ngoạn Mục rồi thả dốc vào cao nguyên Lang Biang trong một buổi chiều muộn cuối năm. Không khí lạnh ngọt ngào đặc trưng của xứ sở sương mù lập tức ùa qua khung cửa kính hoen gỉ, táp thẳng vào gương mặt sạm đen vì gió cát thao trường của chàng sĩ quan trẻ tuổi.

Vũ Minh Tâm ngồi ở hàng ghế sát cửa sổ, hai bàn tay siết chặt lấy chiếc túi hành lý bằng vải bạt đặt ngay ngắn trên đùi. Dưới lớp vải bạt thô ráp ấy là bộ lễ phục tốt nghiệp sĩ quan của Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt vừa được chàng ủi thẳng tắp, cùng một chiếc hộp gỗ khảm xà cừ nhỏ bằng bàn tay. Bên trong hộp lót một lớp nhung đỏ thắm, nâng niu đôi nhẫn cưới bằng vàng ròng mười tuổi và số tiền lương dành dụm suốt những tháng ngày lăn lộn ngoài mặt trận miền Trung.

Tâm đã sống sót. Sau những trận càn khốc liệt ở vùng đầm lầy Quảng Trị, sau những lần đạn găm sát mép nón sắt và những đêm nằm hầm chịu pháo kích dập vùi, chàng đã vượt qua lằn ranh sinh tử để trở về. Bức thư từ hôn gia đình gửi xuống xứ Gò Công đã được chàng tự tay niêm phong gửi đi trước ngày rời đơn vị. Chàng chấp nhận từ bỏ quyền thừa kế những cánh đồng cò bay gãy cánh, khước từ gia sản khổng lồ của một dòng họ điền chủ danh giá bậc nhất miền Tây, chỉ để đổi lấy sự tự do trọn vẹn dành cho Thảo.

Khi chiếc xe đỗ xịch trước trạm đón khách trên đường Phan Đình Phùng, Tâm là người đầu tiên bước xuống thềm đất đỏ. Đôi giày bốt đờ-xô đen bóng nện những bước chân dồn dập, đanh gọn trên mặt đường rải đá dăm. Thị xã vào những tháng cuối năm chìm trong một biển hoa dã quỳ nở rộ. Từng vạt dã quỳ vàng rực như những đốm lửa ấm áp trải dài suốt triền dốc dẫn về phía ngôi trường Nữ trung học Bùi Thị Xuân, xua đi phần nào cái giá buốt tê tái đang kéo về theo từng đợt gió đông.

Tâm mỉm cười, lồng ngực căng tràn niềm hy vọng bấy lâu kìm nén. Chàng bước thật nhanh lên con dốc quen thuộc, nơi chàng và Thảo từng sánh bước bên nhau trong những buổi chiều chủ nhật được phép xuất trại. Ngày ấy, nàng e ấp nép sau bờ vai rộng của chàng, lắng nghe từng câu chuyện thao trường gian khổ bằng đôi mắt bồ câu đen lánh đong đầy tình cảm. Giờ đây, chàng đã đàng hoàng mang lon chuẩn úy trên vai, có đủ tư cách và khả năng để che chở cho người con gái mồ côi cả một đời bình yên. Chàng sẽ dắt tay nàng bước vào nhà thờ chánh tòa, trước mặt vị linh mục và Chúa ngự trên cao, cùng nhau đọc lời thề ước trăm năm mà không còn thế lực nào nơi trần thế có thể chia rẽ.

Con dốc dã quỳ uốn lượn đưa Tâm đến trước dãy nhà trọ nằm nép mình dưới bóng một rặng thông già, cách cổng trường Bùi Thị Xuân chừng vài trăm mét. Căn nhà gỗ ba gian lợp mái tôn màu xám tro hiện ra sau hàng rào dâm bụt khẳng khiu.

Nụ cười trên môi Tâm bỗng khựng lại.

Căn gác trọ nhỏ nằm ở chái hiên phía đông - nơi cửa sổ từng buông rèm hoa nhí màu tím nhạt - nay chìm trong vẻ hoang tàn rợn ngợp. Khung cửa sổ khép hờ, một bên cánh xệ xuống chực rơi, mạng nhện giăng mắc chằng chịt qua những thanh song gỗ mục. Bậc thềm đất trước cửa mọc đầy cỏ dại xanh rờn, xen lẫn những đám rêu trơn tuột vì hứng chịu nhiều tháng ngày mưa dầm không có bóng người qua lại. Không có tiếng gõ thước đều đặn, không có giọng đọc thơ trầm ấm quen thuộc, cũng không có mùi hương bồ kết phảng phất bay ra từ mái tóc dài hong ngoài hiên vắng.

Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng Tâm. Chàng vội vã sải bước qua khoảng sân hoang phế, đưa tay gõ dồn dập lên cánh cửa gỗ chính của căn nhà:

"Bác Hai! Bác Hai ơi!"

Tiếng gõ cửa vang lên khô khốc, làm bầy chim sẻ đang nấp dưới mái tôn giật mình đập cánh bay tán loạn vào rặng thông. Mãi một lúc sau, tiếng then cài rỉ sét bên trong mới lạch cạch chuyển động. Cánh cửa gỗ hé mở một khe hẹp, để lộ khuôn mặt nhăn nheo, hốc hác của bà chủ nhà trọ ngoài sáu mươi tuổi. Đôi mắt kèm nhem của bà nheo lại, ngước nhìn người thanh niên cao lớn trong bộ quân phục chỉnh tề đang đứng chắn trước thềm nhà.

Bà lão sững sờ. Đôi môi móm mém run rẩy kịch liệt, bàn tay gầy guộc bám chặt vào then cửa như sợ ngã quỵ:

"Cậu... Cậu Tâm? Cậu là... ma hay người?"

Tâm gượng cười, bước tới một bước định đỡ lấy cánh tay run rẩy của bà cụ:

"Con đây mà bác Hai! Vũ Minh Tâm đây. Con vừa mãn hạn quân dịch, hoàn thành đợt tác chiến ở miền Trung trở về. Con về đón cô Thảo đây bác. Cô Thảo đâu rồi hả bác? Có phải giờ này cô ấy còn bận dạy thêm trên lớp không?"

Nghe xong những lời ấy, bà chủ nhà trọ không hề mừng rỡ. Gương mặt già nua của bà thoắt cái trở nên trắng bệch, đôi mắt đục ngầu trừng lớn đầy kinh hãi và chua xót. Bà giơ bàn tay khẳng khiu lên bịt chặt lấy miệng, bật ra một tiếng nấc nghẹn ngào từ sâu trong cuống họng.

"Trời cao đất dày ơi... Oan khiên quá trời đất ơi..." Bà lão run rẩy lùi lại phía sau, hai đầu gối khuỵu xuống bên bậu cửa. "Cậu còn sống... Cậu bằng xương bằng thịt trở về đây... Thế mà người ta đồn cậu chết trận... Người ta mang cả giấy báo tử giả lẫn tin cậu cưới vợ giàu ở miền Tây lên xé nát ruột gan con nhỏ..."

Máu trong huyết quản Tâm đông cứng lại ngay tại chỗ. Nụ cười trên môi chàng tắt ngấm hoàn toàn, thay vào đó là một vẻ ngơ ngác tột cùng. Chàng lao tới, nắm chặt lấy hai vai bà lão, giọng nói lạc hẳn đi:

"Bác nói gì cơ? Giấy báo tử nào? Tin cưới vợ nào? Thảo đâu rồi bác Hai? Bác nói cho con biết Thảo đang ở đâu!"

Bà lão ngước nhìn Tâm, những giọt nước mắt đùng đục lăn dài trên gò má nhăn nheo như vỏ thông khô:

"Cô Thảo... cô Thảo đi rồi cậu ơi! Con nhỏ chết thảm lắm... Nó trầm mình xuống hồ Than Thở từ giữa tháng Ba rồi!"

Một tiếng nổ kinh thiên động địa vang lên bên tai chàng sĩ quan trẻ. Đất trời chung quanh Tâm đảo lộn nghiêng ngả. Mọi thanh âm của phố núi, tiếng gió rít qua rặng thông, tiếng lá khô xào xạc đều biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho một khoảng không trống rỗng, lạnh ngắt và đen tối.

"Bác... bác nói dối..." Giọng Tâm run lẩy bẩy, các ngón tay bấu chặt vào thớ gỗ cánh cửa đến mức bật máu tươi. "Mới tháng Ba thôi mà... Con vẫn viết thư gửi về đều đặn... Con còn hẹn cuối năm nay sẽ mang trầu cau đến đón nàng... Thảo yêu đời như thế, thương học trò như thế, làm sao nàng bỏ con mà đi được?"

"Tôi già ngần này tuổi đầu, lừa gạt cậu làm gì để mang tội với trời đất!" Bà cụ đấm ngực thùm thụp, vừa khóc vừa kể lại thảm cảnh của ngày định mệnh. "Sau cái ngày có hai người lạ mặt từ Gò Công tìm đến trao cho cô ấy bức điện tín báo tin cậu tử trận ở miền Trung, cô Thảo như kẻ mất hồn. Con nhỏ giam mình trong phòng khóc suốt ba ngày ba đêm, không ăn không uống. Đến rạng sáng ngày mười lăm tháng Ba, nó mặc bộ áo dài lụa trắng, trốn ra bờ hồ Than Thở rồi gieo mình xuống đáy nước buốt giá..."

Từng lời nói của bà lão như những mũi dao nung đỏ cắm phập vào lồng ngực Tâm, xoay ngoắt từng khúc ruột.

Chàng buông thõng hai tay. Chiếc túi hành lý rơi phịch xuống nền đất đỏ ẩm ướt, chiếc hộp xà cừ văng ra, nắp hộp bật mở để lộ đôi nhẫn vàng lấp lánh lăn lông lốc trên nền rêu xanh.

Không chờ bà cụ nói hết câu, Tâm quay ngoắt người, lao thẳng lên cầu thang gỗ ọp ẹp dẫn lên căn gác xép. Tiếng giày đinh dẫm nát những bậc thang mục nát vang lên dồn dập, điên loạn. Chàng xô mạnh cánh cửa phòng trọ của Thảo.

Cánh cửa không khóa bung ra, để lại một lớp bụi xám bay mù mịt trong không gian u tối.

Căn phòng trống rỗng và lạnh lẽo tựa như một nấm mồ hoang. Đồ đạc của Thảo gần như vẫn còn nguyên vẹn, nhưng tất cả đều bị bao phủ bởi một lớp bụi thời gian dày đặc suốt tám tháng ròng. Chiếc bàn gỗ nhỏ đặt cạnh cửa sổ - nơi nàng từng ngồi chấm bài thi cho các nữ sinh dưới ánh đèn dầu leo lét - nay trơ trọi vài cuốn sách giáo khoa đã bị mối mọt gặm nham nhở nơi góc bìa. Trên tường, chiếc thánh giá bằng đồng hun treo lẻ loi, phản chiếu ánh hoàng hôn le lói hắt qua khe cửa sổ vỡ.

Tâm bước từng bước loạng choạng vào giữa phòng. Hơi lạnh ẩm mốc xộc thẳng vào mũi chàng, tanh tao và buốt giá. Chàng quỳ sụp xuống bên chiếc bàn học, hai tay ôm lấy đầu, lồng ngực co thắt dữ dội đến mức không thở nổi.

"Thảo ơi... Tại sao lại như vậy... Tại sao em không đợi anh..."

Tiếng gầm gào đau đớn bị nghẹn ứ nơi cổ họng phát ra thành những chuỗi âm thanh khàn đặc, thảm thiết. Ánh mắt Tâm vô tình quét qua mặt bàn gỗ. Nằm kẹp dưới cuốn sách giảng văn Bùi Thị Xuân đã ngả màu ố vàng là một mảnh giấy học trò xé dở.

Tâm run rẩy vươn bàn tay thô ráp kéo mảnh giấy ra ngoài.

Đó là một tờ giấy kẻ ngang đã cũ kỹ, mép giấy quăn queo vì ngấm hơi sương ẩm ướt của vùng đồi núi. Trên mặt giấy không hề có lấy một chữ oán hận, không một lời trách móc sự trớ trêu của số phận hay sự tàn nhẫn của những kẻ đã dựng nên màn kịch sinh ly tử biệt.

Ở chính giữa trang giấy, Thảo dùng một dải lụa trắng nhỏ cẩn thận đính chặt một nhành hoa thạch thảo màu tím biếc đã được ép khô kiệt. Nhành hoa khô xác xơ, cánh hoa mỏng manh teo tóp lại theo thời gian nhưng vẫn giữ nguyên sắc tím u buồn chung thủy. Ngay bên dưới cành hoa ép khô là những vết ố tròn loang lổ, làm mặt giấy co rúm, biến dạng và mòn vẹt đi từng mảng. Đó là dấu vết của những giọt nước mắt tuyệt vọng đã tuôn rơi ròng rã suốt đêm trắng cuối cùng của cuộc đời nàng, ăn sâu vào từng thớ giấy như một vết sẹo không bao giờ lành.

Bên cạnh cành hoa khô là hai dòng chữ nắn nót, quen thuộc đến xé lòng mà Thảo để lại trước giờ bước ra mép nước:

*Gửi trọn cho anh cả một đời trong sạch.* *Hẹn gặp lại nơi bóng thông reo vĩnh hằng.*

Tâm áp chặt mảnh giấy vào ngực áo, nơi trái tim đang bị bóp nghẹt đến vỡ tung. Mùi hương thạch thảo khô ngai ngái xen lẫn mùi giấy mục xộc vào khứu giác chàng, gợi lại hình ảnh người con gái nhỏ nhắn từng nép vào lòng chàng khóc nức nở trong buổi chiều chia ly trên sân ga xe lửa. Nàng đã tin rằng chàng đã chết. Nàng đã mang theo toàn bộ tình yêu son sắt và nỗi tuyệt vọng cùng cực xuống đáy hồ sâu thẳm. Chàng còn sống trở về để làm gì, khi người chàng muốn dâng hiến cả sinh mạng này đã hóa thành một nắm xương tàn dưới lòng đất lạnh?

Cơn cuồng nộ và nỗi thống khổ tột cùng bùng nổ trong huyết quản Tâm. Chàng ngửa mặt lên trần nhà gác trọ, thét lên một tiếng xé toạc màn sương chiều tím thẫm của xứ ngàn thông. Tiếng thét mang theo sự phẫn uất của một kẻ bị tước đoạt đi lẽ sống duy nhất trên đời, rền rĩ dội vào vách gỗ rồi tan biến giữa không gian quạnh quẽ.

Bà chủ nhà trọ lập cập bước lên cầu thang, đứng nép ngoài cửa phòng nhìn người lính trẻ đang quằn quại trên sàn gỗ, cất giọng run run:

"Cậu Tâm... Nén đau thương mà lo liệu... Chiều ngày hôm ấy, người ta vớt được xác cô Thảo lên... Các thầy cô và học trò trường Bùi Thị Xuân đã làm theo di nguyện trong bức thư tuyệt mệnh của nó, đưa linh cữu nó lên chôn cất trên đồi thông bên bờ hồ Than Thở rồi..."

Tâm bật dậy như một chiếc lò xo bị nén chặt. Đôi mắt chàng đỏ ngầu những tia máu, gương mặt xám ngoét biến dạng vì đau đớn tột cùng.

"Hồ Than Thở... Đồi thông..." Tâm lẩm bẩm, giọng nói run rẩy ma quái.

Chàng nhét vội mảnh giấy ép nhành hoa khô vào túi áo ngực, ngay sát vị trí trái tim đang rỉ máu. Chàng không màng đến chiếc túi hành lý bỏ lại dưới chân cầu thang, cũng không đoái hoài gì đến đôi nhẫn cưới lăn lóc dưới thềm đất. Chàng lao vụt qua mặt bà cụ, lao xuống cầu thang gỗ, phóng thẳng ra con dốc dã quỳ bên ngoài.

Bóng hoàng hôn cuối đông sụp xuống thị xã Đà Lạt nhanh như một cái chớp mắt. Màn sương chiều tím xám dày đặc từ các thung lũng sâu bắt đầu cuồn cuộn dâng lên, nuốt chửng những rặng thông già, phủ trùm lên con đường đất đỏ gập ghềnh sỏi đá.

Gió bấc từ đỉnh núi Lang Biang thốc từng cơn buốt nhọn như kim châm vào da thịt, nhưng Tâm không hề cảm thấy cái lạnh. Chàng chạy như điên dại giữa màn sương mù mịt, hướng thẳng về phía bờ đông thị xã, nơi ngọn đồi thông bên hồ Than Thở đang cất giấu nấm mồ đất đỏ của người chàng yêu thương nhất trần gian.

Chương khác

Xem thêm