Đồi Thông Hai Mộ - Chương 13: Tâm Trở Về Đà Lạt

Rạng sáng ngày 15 tháng Ba năm 1956, gió rừng miền Đông rít qua những khe vách nứa của căn lán tiền đồn dã chiến. Vũ Minh Tâm ngồi bật dậy trên chiếc…

Nội dung chương

Rạng sáng ngày 15 tháng Ba năm 1956, gió rừng miền Đông rít qua những khe vách nứa của căn lán tiền đồn dã chiến. Vũ Minh Tâm ngồi bật dậy trên chiếc giường xếp cá nhân, mồ hôi lạnh toát đầm đìa lưng áo lính. Trong lồng ngực chàng, trái tim đập từng nhịp thảng thốt, giục giã liên hồi mà không rõ căn cớ. Giấc ngủ chập chờn vừa bị xé toạc bởi một cơn ác mộng không đầu không cuối, trong đó chàng thấy mình chìm nghỉm giữa một vùng sương mù xám đục, hai tay vươn ra cố níu lấy một tà áo lụa trắng đang trôi tuột xuống đáy vực sâu.

Tâm với tay vặn to tim ngọn đèn bão đặt trên đầu hòm đạn. Ánh lửa vàng vọt hắt lên góc bàn dã chiến, nơi đặt chiếc lư hương làm bằng vỏ đạn pháo 105 ly cưa cụt, bên trong cắm ba nén nhang trầm chàng mang theo từ dạo rời trường Võ bị. Chàng vừa thắp nén nhang cầu an cho người yêu ở chốn cao nguyên lúc nửa đêm trước khi chợp mắt.

Chàng bước lại gần chiếc bàn, toan với tay rót chén nước lạnh để làm dịu cơn khô rát nơi cổ họng. Đột nhiên, ba nén nhang đang cháy âm ỉ bỗng rực sáng một cách bất thường. Những đốm than đỏ rực không cuộn lại thành vòng tàn trắng xốp thông thường, mà bỗng chốc gãy cụt sát chân nhang. Tàn nhang đỏ rực rơi xối xả xuống mặt bàn gỗ thông dã chiến. Một mẩu than nóng đỏ văng trúng mu bàn tay Tâm, đốt cháy một mảng da thịt nhỏ, bốc lên mùi khét lẹt. Cơn bỏng rát không nhức nhối bằng cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng, xộc thẳng vào tủy sống. Tâm sững sờ nhìn chân nhang cháy đen rụi lụi tàn trong chiếc vỏ đạn đồng. Chàng bặm môi, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm, linh cảm về một tai ương khủng khiếp đang ập xuống người con gái nơi xứ sương mù bóp nghẹt lấy cuống họng chàng.

Cùng lúc ấy, cách tiền đồn dã chiến hàng trăm cây số về hướng ngàn thông, mặt nước hồ Than Thở bắt đầu tan dần lớp sương đêm.

Mặt hồ buổi sớm mai lặng ngắt, mang một màu xám tro rờn rợn. Ông Hai Thưng, người xóm Trại Mát chèo chiếc thuyền tam bản nhỏ đi thả lưới sớm ngang qua chân đồi thông ven hồ. Mái chèo khua nước phát ra những âm thanh ràn rạt, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch của thung lũng hoang vu. Khi mũi thuyền lướt qua rặng lau sậy rậm rạp bên bờ dốc phía Đông, mắt ông Hai Thưng chợt va vào một điểm lạ lùng trên thảm cỏ đẫm sương.

Trên bờ cỏ dốc thoai thoải, đôi guốc mộc quai nhung đen nằm song song, mũi guốc quay thẳng về phía mặt nước phẳng lặng. Dưới đế một chiếc guốc, một mảnh giấy gấp tư bị gió sớm thổi lay nhẹ góc mép.

Ông lão buông dầm chèo, đưa tay chùi mắt, tim đập thình thịch. Bằng kinh nghiệm mấy mươi năm sống bên vùng nước sâu của xứ này, ông hiểu rõ dấu hiệu ấy báo trước điều kinh hoàng gì. Chiếc thuyền vội vã áp sát bờ đất đỏ. Ông Hai Thưng run rẩy nhặt bức thư lên, dòng chữ mực tím nắn nót của một cô giáo dạy Văn lập tức đập vào mắt ông, xen lẫn những vết ố do giọt nước mắt khô cứng lại từ đêm trước.

"Có người trầm mình rồi! Mau lên bà con ơi!"

Tiếng kêu thất thanh của ông lão đánh cá xé toạc không gian quạnh quẽ của đồi thông, dội vào vách núi rồi vọng ngược lại lòng hồ sâu thẳm. Chỉ nửa giờ sau, tiếng kẻng báo động từ đồn cảnh sát khu vực và những bước chân dồn dập của dân phu, nông dân trồng rau quanh Phường 9 đã đổ dồn về mép nước.

Hai chiếc thuyền lớn được huyệt động cùng những chùm câu móc kim loại thả sâu xuống đáy hồ đen ngòm. Móc câu kéo lê trên nền bùn sệt, vướng vào những búi rễ cây mục rữa và rong rêu trôi dạt. Gió hồ thổi thốc lên từng cơn buốt giá, làm rung bần bật những vạt áo tơi của đám người đứng chen chúc trên bờ dốc. Không ai dám nói to, chỉ có tiếng thì thào sợ hãi và tiếng nước bì bõm dưới mái chèo.

Đến khi mặt trời nhô lên khỏi rặng thông phía đỉnh đồi, một người thợ lặn nhô đầu lên khỏi mặt nước, ngo ngoe ra hiệu:

"Thấy rồi! Kẹt dưới hốc rễ thông ngầm ở lòng hồ sâu!"

Sợi dây thừng to bản kéo căng hết cỡ, rít lên từng hồi ken két bên mạn thuyền. Thi hài người con gái dần lộ diện trên mặt nước xám ngắt.

Dân chúng đứng trên bờ dốc ồ lên một tiếng nén chặt nơi lồng ngực rồi chìm vào sự lặng câm tuyệt đối. Thi hài Lê Thị Thảo được nhẹ nhàng đưa lên chiếc chiếu cói trải sẵn trên bờ cỏ.

Làn nước buốt lạnh của lòng hồ dường như muốn ướp giữ vẹn nguyên vẻ đẹp thanh xuân của nàng cho cõi vĩnh hằng. Thân xác Thảo không hề sình trương hay biến dạng sau nhiều giờ chìm sâu dưới đáy nước. Làn da nàng trắng bệch nhưng mịn màng, mái tóc đen nhánh dài chấm lưng bết chặt vào vạt áo dài lụa trắng nữ sinh, uốn lượn mềm mại như những dải rong rêu. Đôi mắt nàng nhắm nghiền thanh thản, bờ môi khép hờ tĩnh lặng hệt như một thiếu nữ vừa thiếp đi trong một giấc ngủ sâu sau chuỗi ngày dài kiệt cùng sức lực.

Điều khiến đám đông rùng mình kinh sợ là hai bàn tay nàng. Mười ngón tay thon nhỏ đan chặt vào nhau, ép sát vào trước lồng ngực một nhánh thông ba lá bọc trong mảnh vải dù loang lổ. Các ngón tay đông cứng lại thành một khối vững chãi, các phu đồi khẽ chạm vào toan tách ra để làm thủ tục khâm liệm nhưng không thể nào lay chuyển được. Bàn tay người chết giữ chặt kỷ vật thiêng liêng ấy như giữ lấy linh hồn của kẻ nàng hằng trông đợi.

Từ con đường đất đỏ dẫn từ trung tâm thị xã vào bờ hồ, một đoàn người hớt hải chạy tới. Đó là các nữ đồng nghiệp và hàng chục nữ sinh của Trường Nữ trung học Bùi Thị Xuân. Những tà áo dài trắng nữ sinh cùng những chiếc áo len sẫm màu phủ kín triền đồi cỏ.

Tiếng khóc vỡ òa ra giữa không gian hoang lạnh. Các cô học trò nhỏ quỳ sụp xuống quanh chiếc chiếu cói, nước mắt ràn rụa rơi trên vạt áo ướt sũng của cô giáo dạy Văn trẻ tuổi. Mới hôm qua, cô Thảo còn đứng trên bục giảng giảng về những khúc ngâm bi ai của tiền nhân, đôi mắt đượm buồn nhìn ra rặng thông ngoài cửa sổ lớp học. Giờ đây, thân xác cô nằm lạnh ngắt bên mép nước, chiếc áo lụa trắng mang theo hương vị bùn đất và sương mai cao nguyên.

Thầy hiệu trưởng run rẩy mở bức di thư của Thảo, giọng nghẹn lại khi đọc to từng dòng chữ cho mọi người cùng nghe:

"...Xin cho con được chôn cất trên sườn đồi cao nhìn xuống lòng hồ Than Thở, ngay dưới hai gốc thông ba lá nơi con và anh Tâm từng ngồi bên nhau chuyện trò mỗi buổi chiều tan trường. Hãy để con được nằm lại nơi ấy, để linh hồn con đời đời kiếp kiếp được lắng nghe tiếng thông reo và chờ đợi linh hồn anh Tâm tìm về..."

Những người chứng kiến không ai cầm được nước mắt. Một người mẹ già bán hàng rong gần ga xe lửa gạt nước mắt, lên tiếng:

"Con bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống đơn độc một mình giữa chốn thị xã này. Nay nó thác oan vì một chữ tình, lại có lời trăng trối rõ ràng như thế, dân làng ta cùng trường học phải chung tay làm trọn tâm nguyện cho nó, để linh hồn nó không phải hóa thành ma đói vất vưởng nơi đáy nước!"

Một cỗ áo quan bằng gỗ thông mộc mạc được dân địa phương và các thầy cô giáo quyên góp mua về ngay trong buổi trưa. Thi hài Thảo được khâm liệm cẩn thận trong bộ áo dài lụa trắng tinh khiết nhất mà các nữ sinh mang đến từ căn gác trọ của nàng. Cành thông bọc vải dù vẫn được giữ nguyên vị trí trước ngực, nằm im lìm trong lòng áo quan.

Buổi chiều muộn, lễ an táng diễn ra ngay trên triền dốc đất đỏ bazan nhìn thẳng xuống hồ Than Thở.

Trời Đà Lạt về chiều trở gió dữ dội. Mây xám sà xuống rất thấp, quét qua những ngọn cây như muốn nuốt chửng cả ngọn đồi. Đoàn người đưa tang gồm hàng trăm nữ sinh Bùi Thị Xuân và dân nghèo Phường 9 chầm chậm nhích từng bước lên triền dốc gồ ghề. Không có cờ dong trống mở, không có những bài kinh cầu siêu dài dặc của các bậc tăng lữ danh giá, chỉ có tiếng chuông nhà thờ từ xa vọng lại từng tiếng thảng thốt, cùng tiếng râm ran tụng niệm những câu kinh Kính Mừng đứt quãng của vài giáo dân nghèo theo đạo Công giáo đi sau quan tài.

Đoàn người dừng lại ở khoảng đất trống nằm chính giữa hai gốc thông ba lá cổ thụ. Đây chính là gốc thông hẹn ước, thân cây to hai người ôm không xuể, lớp vỏ nứt nẻ sần sùi mang màu nâu đen của năm tháng. Từ vị trí này phóng tầm mắt xuống, lòng hồ Than Thở thu trọn vào đáy mắt như một tấm gương bạc u ám nép mình dưới chân núi.

Bốn người phu đồi khỏe mạnh bắt đầu cắm xẻng xuống lòng đất bazan để đào huyệt.

Đất trên đồi thông đỏ au và xốp ẩm, quyện với từng lớp lá thông mục dày hàng tấc bốc lên mùi hăng hắc ngột ngạt. Lưỡi cuốc xẻng bập sâu vào lòng đất từng nhát nặng nề. Âm thanh đất đá va đập vang lên khô khốc giữa tiếng gió đồi gầm rú.

Khi huyệt mộ được đào sâu xuống chừng năm thước, lưỡi xẻng của một người phu bỗng va phải một vật cản cứng ngắc, phát ra tiếng "chát" chói tai.

"Rễ cây! Rễ thông ăn luồn dưới đáy đất!"

Người thợ đào huyệt lau mồ hôi trán, cúi xuống gạt lớp đất đỏ sang hai bên. Hiện ra dưới đáy huyệt là những chùm rễ cây khổng lồ to bằng bắp đùi người lớn, đâm ngang dọc chằng chịt từ hai gốc thông cổ thụ hai bên ăn sâu vào lòng huyệt mộ. Những thớ rễ màu nâu xám cuộn xoắn vào nhau như những con rắn khổng lồ đang nằm phục dưới lòng đất lạnh.

Một người phu lớn tuổi cầm chiếc rìu sắc bén bước xuống lòng huyệt:

"Phải chặt đứt đám rễ này mới hạ quan tài bằng phẳng được. Mau lên, trời sắp sập tối rồi!"

Lưỡi rìu bổ mạnh xuống thớ rễ thông to nhất.

"Phập!"

Một âm thanh trầm đục vang lên, tựa như nhát chém phập vào một thớ thịt sống. Ngay khoảnh khắc thớ gỗ bên trong đứt lìa, một sự việc dị thường khiến tất cả những người đang đứng chung quanh miệng huyệt phải giật lùi lại, miệng há hốc vì kinh hãi.

Từ vết chém sâu hoắm trên thân rễ cây, không phải là lớp nhựa thông trắng đục thơm nồng mùi dầu nhựa quen thuộc ứa ra. Một dòng chất lỏng màu đỏ quánh thẫm, đặc sệt và nhớp nháp như máu tươi từ trong ruột rễ bắt đầu trào ra xối xả. Dòng nhựa đỏ ấy chảy ròng ròng xuống lớp đất đỏ đáy huyệt, loang lổ thành từng vũng sền sệt, bốc lên một mùi tanh nồng ngai ngái, vừa có mùi vị của nhựa thông mục rữa, vừa có mùi của huyết nhục lạnh ngắt nơi đáy mồ.

Những người phu đào huyệt đứng sững sờ, hai bàn tay cầm cán cuốc run lên lẩy bẩy. Một người đàn ông luống tuổi thất thần lẩm bẩm:

"Trời đất quỷ thần ơi... Cây thông đổ máu... Mảnh đất này đã nhận máu của người chết rồi!"

Gió từ phía mặt hồ dưới chân đồi thình lình thốc ngược lên miệng huyệt mộ. Cơn gió mang theo hơi lạnh buốt giá và mùi bùn nước tanh tao, xoáy tung lớp đất cát đỏ vừa đào lên, quăng quật vào mặt đoàn người đưa tang. Hai cây thông cổ thụ bên miệng huyệt bắt đầu rung lắc dữ dội. Hàng vạn nhánh lá nhọn hoắt cọ xát vào nhau chan chát, phát ra những chuỗi âm thanh rền rĩ, ai oán đến rợn người, tựa hồ tiếng gào thét của một linh hồn đang bị giam cầm dưới chín tầng địa ngục.

Thầy hiệu trưởng nén nỗi sợ hãi đang dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng, bước lên phía trước miệng huyệt, giục giã bằng giọng run rẩy:

"Đừng chậm trễ nữa! Giờ lành sắp qua rồi, mau hạ huyệt để linh hồn cô Thảo được yên nghỉ!"

Bốn dải dây thừng thô ráp được luồn qua đáy cỗ áo quan gỗ thông. Tám thanh niên lực lưỡng ghì chặt đầu dây, từ từ đưa cỗ quan tài chứa thân xác người con gái bạc mệnh xuống lòng đất đỏ.

Khi đáy quan tài chạm vào lớp đất nhớp nháp nhựa đỏ ở đáy huyệt, một cảnh tượng rùng rợn lại tiếp tục diễn ra ngay trước mắt những người chứng kiến. Những đoạn rễ cây vừa bị chặt đứt nham nhở dường như không hề chết đi. Dưới sức ép của cỗ ván nặng nề, những đầu rễ nhỏ li ti như những sợi tua tủa bắt đầu co giật nhẹ. Từng nhánh rễ uốn éo bò trườn trên lớp ván thông xù xì, bám chặt lấy bốn góc mép của cỗ áo quan.

Chất nhựa đỏ quánh tiếp tục ứa ra từ các đầu rễ, bết chặt những thớ gỗ thông của cỗ áo quan vào lòng đất mẹ bazan. Dường như hai gốc thông cổ thụ nơi đây không chịu buông tha cho người nằm xuống, hoặc chính linh hồn u uất của Thảo đã hòa quyện vào rễ cây, biến rừng thông này thành một phần da thịt của nàng để vĩnh viễn níu giữ lời thề hẹn trăm năm.

Các nữ sinh Bùi Thị Xuân sợ hãi nắm chặt lấy tay nhau, tiếng khóc nấc nghẹn ngào vang lên giữa bóng hoàng hôn đang dần tắt ngấm. Mấy người phụ nữ lớn tuổi vội vã chắp tay lạy bốn phương tám hướng, miệng lẩm nhẩm cầu xin thần rừng, thổ địa tha thứ cho những kẻ trần trần mắt thịt dám quấy rầy chốn linh thiêng.

Từng xẻng đất đỏ đầu tiên bắt đầu trút xuống nắp áo quan.

"Bồm bộp... bồm bộp..."

Âm thanh đất nện trên ván gỗ vang lên nặng nề và u ám, chôn vùi dần cỗ quan tài, chôn vùi tà áo dài lụa trắng cùng cành thông bọc vải dù đẫm máu oan khiên. Mỗi nhát xẻng hất xuống như một nhát dao cắt đứt hoàn toàn mối dây liên hệ giữa người con gái đoản mệnh với trần gian đầy rẫy bất công và định kiến.

Chẳng mấy chốc, một nấm mồ đất đỏ tươi hình mai rùa đã mọc lên sừng sững giữa triền dốc, nằm lọt thỏm giữa bóng râm của hai gốc thông cổ thụ. Đất đắp mộ cao chừng ba gang tay, hãy còn đỏ au và xốp ẩm.

Một người thợ mộc trong làng mang đến một cây thánh giá đơn sơ đóng bằng hai thanh gỗ mun đen nhánh, cắm ngập sâu vào đầu phần mộ. Trên thanh gỗ ngang, ai đó đã dùng sơn trắng nắn nót viết lên những dòng chữ vắn tắt:

*Nơi an nghỉ của Maria Lê Thị Thảo* *Sinh năm 1937 - Mất ngày 15 tháng 3 năm 1956*

Những nữ sinh Bùi Thị Xuân tiến lại gần nấm mồ mới đắp. Các cô bé cẩn thận đặt lên nấm đất đỏ những nhành hoa thạch thảo màu tím biếc và những chùm dã quỳ vàng rực vừa hái vội ven sườn đồi. Màu tím của hoa thạch thảo phủ trùm lên nền đất đỏ tươi, tạo nên một sắc thái tang tóc, thê lương đến nao lòng.

Đám tang thưa thớt người dần dần tản mác khi bóng tối đen đặc bắt đầu phủ kín triền thông. Những bước chân nặng nề của đoàn người đưa tiễn xa dần về phía con dốc dẫn vào thị xã, để lại một khoảng không gian vắng lặng đến rợn gáy.

Chỉ còn lại một nấm mồ đất đỏ đơn độc nằm trơ trọi trên sườn đồi hoang vu.

Gió đêm cao nguyên bắt đầu nổi lên dữ dội. Gió thổi qua nấm mồ mới đắp, quấn theo những cánh hoa thạch thảo tím bay là đà rồi cuốn phăng xuống lòng hồ Than Thở đang chìm trong màn sương đen kịt. Dưới đáy nấm mồ sâu, nhựa từ hai gốc thông cổ thụ vẫn không ngừng ứa ra, quấn chặt lấy cỗ áo quan như chiếc lồng giam vĩnh cửu.

Nấm mồ cô quạnh trên triền dốc nằm lặng câm giữa ngàn thông reo u uất, như một đài tưởng niệm cho một mối tình oan trái, trơ trọi đợi chờ những bước chân muộn màng của kẻ sống sót từ phương xa trở về.

Chương khác

Xem thêm