Đồi Thông Hai Mộ - Chương 11: Bức Thư Cuối Cùng Của Thảo

Ở vùng rừng thưa miền Đông Nam Bộ, tiếng súng cầm canh vọng lại từng chặp đục ngầu giữa màn mưa rừng tầm tã. Trong căn hầm dã chiến khoét sâu vào lòng…

Nội dung chương

Ở vùng rừng thưa miền Đông Nam Bộ, tiếng súng cầm canh vọng lại từng chặp đục ngầu giữa màn mưa rừng tầm tã.

Trong căn hầm dã chiến khoét sâu vào lòng đất đỏ ba-zan, Vũ Minh Tâm nằm co quắp trên tấm sạp nứa ẩm ướt. Cơn sốt rét rừng vừa tạm lui, để lại những cơn co giật từng chặp dưới lớp chăn trấn thủ rách mép. Tâm nhắm nghiền hai mắt, hơi thở phả ra nóng rực giữa không khí nồng nặc mùi bùn ải và thuốc súng.

Cơn mê man ập đến kéo chàng trôi tuột về một miền sương tuyết xa xôi.

Trong giấc mộng kỳ quái, chiến trường sặc mùi khói đạn bỗng biến mất, nhường chỗ cho bờ dốc quen thuộc của đồi thông bên hồ Than Thở. Sương mù đặc quánh phủ kín lối mòn, lạnh buốt thấu tận xương tủy. Mặt hồ phẳng lặng mang màu chì xám xịt, không một gợn sóng, phẳng lì giống như một tấm gương soi dưới cõi âm.

Giữa đám sương dày đặc ấy, bóng dáng một người con gái hiện ra. Nàng mặc chiếc áo dài lụa trắng nữ sinh Bùi Thị Xuân, mái tóc buông xõa bay lòa xòa trước ngực. Nàng đứng lẻ loi trên triền dốc thoai thoải sát mép nước, hai bàn chân trần ngập trong thảm cỏ mục.

Tâm muốn thét to gọi tên Thảo, nhưng cuống họng chàng nghẹn đắng, không phát ra nổi nửa âm thanh. Chàng cố guồng chân chạy về phía nàng, song hai chân nặng trĩu tựa như bị bùn lầy ghì chặt.

Thảo chầm chậm quay đầu lại. Khuôn mặt nàng trắng bệch, không còn một giọt máu, đôi mắt trũng sâu thăm thẳm chứa chan nỗi oán hờn tột cùng. Nàng không nói gì với chàng. Nàng chỉ nâng cánh tay gầy guộc lên, vẫy nhẹ bàn tay về phía chàng qua màn sương mù mịt mùng. Tà áo dài trắng của nàng bay phần phật trong gió bấc, tơi tả và mỏng manh như cánh bướm đêm.

Khi chàng rướn người tới gần, bóng dáng Thảo bỗng chốc tan biến vào thinh không. Dưới chân chàng bỗng sụt xuống một hố sâu thăm thẳm. Chỗ nàng vừa đứng biến thành một khoảng đất trống lạnh ngắt mùi đất mới đào, bên trên cắm một cành thông ba lá gãy đôi rỉ ra từng giọt nhựa đỏ thẫm hệt như máu tươi.

Tâm bừng tỉnh. Chàng bật dậy giữa căn hầm tối om, mồ hôi ướt đẫm trán, tim đập thình thình vào lồng ngực với những nhát búa dữ dội. Ngoài cửa hầm, mưa rừng vẫn rả rích trút nước lên những tán cây ẩm mục. Một linh cảm kinh hoàng bóp nghẹt lồng ngực chàng, buốt giá và chết chóc hơn cả ngàn mũi lê nơi trận mạc.

* * *

Cùng lúc ấy, tại căn gác xép ván ép ọp ẹp nằm khuất sâu trong con dốc dẫn ra hồ Than Thở, ngọn đèn dầu hỏa đã tắt lịm từ lâu.

Đêm ngày 14 tháng Ba năm 1956, cái rét buốt của cao nguyên Đà Lạt trườn qua từng kẽ liếp, bám chặt vào da thịt người như lớp băng giá. Căn phòng im phăng phắc, chỉ có tiếng gió thông bên ngoài đồi rít qua từng khe hở tạo thành những thanh âm rền rĩ, ai oán kéo dài không dứt.

Lê Thị Thảo ngồi yên trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông.

Nàng đã ngồi như vậy suốt từ chập tối, bất động tựa một bức tượng đá tạc giữa gian phòng lạnh lẽo. Trên chiếc bàn con bằng gỗ mộc trước mặt nàng, một cây nến sáp ong nhỏ được thắp lên, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, lập lòe soi rõ từng góc cạnh của sự đổ vỡ.

Bên cạnh chân nến là chiếc phong bì công văn màu nâu đất ghi chữ báo tử đã rách nát, cùng tờ thiệp hoa tiên đỏ thẫm phủ bụi tang tóc. Cành thông ba lá non dính mảnh vải dù hoa ngụy trang vẫn nằm đó, vệt nhựa đỏ đặc quánh nơi vết gãy đã khô lại thành một cục máu bầm sẫm màu.

Mắt Thảo ráo hoảnh. Nước mắt của nàng đã cạn kiệt sau những cơn co thắt dữ dội của ngày hôm qua. Lúc này, trên gương mặt thanh tú chỉ còn đọng lại vẻ tĩnh lặng kỳ quái - sự bình thản rợn ngườicủa một linh hồn đã bước một chân qua ngưỡng cửa cõi chết.

Nàng chậm rãi đứng dậy, bắt đầu gom góp những di vật cuối cùng của đời mình trên cõi trần gian.

Thảo đến bên chiếc rương gỗ nhỏ đặt ở góc phòng. Từng cử chỉ của nàng cẩn trọng, tỉ mỉ và trang nghiêm. Nàng xếp lại những tập giáo án Văn học của Trường Nữ trung học Bùi Thị Xuân, vuốt phẳng từng góc trang giấy học trò mà nàng từng chấm điểm dưới ánh đèn dầu. Nàng đặt lên trên tập giáo án một chiếc hộp sắt con, bên trong đựng mấy mẩu phấn trắng chưa dùng hết, một chiếc thước kẻ bằng gỗ thị và chiếc thẻ căn cước công dân mang tên Lê Thị Thảo.

Tất cả những thứ thuộc về bổn phận một cô giáo trần thế, nàng trả lại nguyên vẹn cho nhà trường và các nữ sinh thân yêu của mình. Nàng không nợ ai bất cứ thứ gì ngoài trần gian kia, ngoại trừ món nợ ân tình đã vắt kiệt sinh mệnh của nàng.

Dưới đáy rương, chiếc áo dài lụa trắng - kỷ vật tinh khôi nhất của thời con gái, bộ áo nàng mặc trong lần đầu tiên gặp Tâm trên đồi thông lộng gió - được nàng cẩn thận mang ra ngoài. Thảo trải chiếc áo dài lên mặt giường nệm cỏ gianh, dùng bàn tay gầy guộc vuốt phẳng từng nếp nhăn trên nền lụa mát rượi. Đêm nay, nàng sẽ mặc lại chiếc áo này để đi tìm chàng.

Quay lại bàn con, Thảo mở nắp lọ mực tím Parker, rút ra một tờ giấy pelure trắng muốt.

Ngón tay nàng kẹp chặt cán bút máy. Ngòi sắt chạm vào mặt giấy, run rẩy vẽ nên những dòng chữ đầu tiên trong bức di thư để lại cho cõi đời:

*"Kính gửi người thân yêu và trần thế,*

*Khi mọi người đọc được những dòng chữ này, thì thể xác con đã hòa cùng đáy nước lạnh buốt của hồ Than Thở. Xin đừng trách cứ con dại dột, cũng đừng than khóc cho một số kiếp bèo bọt không nơi nương tựa.*

*Con sinh ra vốn là đứa trẻ mồ côi cha mẹ, được nuôi nấng trong tình thương và đức tin của Thiên Chúa. Cuộc đời con tưởng chừng đã tìm thấy bến đỗ bình an khi gặp anh Tâm. Nhưng duyên trời trớ trêu, gia phong cách trở, rào cản tôn giáo và sang hèn đã bóp nghẹt tình yêu của chúng con. Nay nghe tin anh đã bỏ mình nơi chiến trận xa xôi, linh hồn anh trôi dạt giữa rừng thiêng nước độc mà không có lấy một nấm mồ hương khói, lòng con đau đớn như bị xé rách từng mảnh thịt.*

*Anh Tâm đã đi rồi, trần gian này không còn chốn nào cho con dung thân nữa. Con không thể tiếp tục sống trong cảnh danh tiết bị vùi dập, tình yêu bị xua đuổi, trơ trọi giữa muôn ngàn lời sỉ vả của người đời. Con đi theo anh để giữ trọn lời thề nguyền dưới bóng thông ba lá năm xưa: sống cùng nhau, chết cùng nhau.*

*Con chỉ có một di nguyện tha thiết cuối cùng xin gửi lại trần thế: Khi vớt được xác con lên từ lòng hồ, xin những tấm lòng nhân từ đừng đưa con về nghĩa trang thị xã đông đúc lạnh lẽo. Xin hãy chôn cất con ngay trên triền đồi thông bên bờ hồ Than Thở, dưới bóng cây thông già nơi chúng con từng ngồi bên nhau chuyện trò mỗi buổi chiều tan trường. Hãy để con được nằm lại nơi ấy, để linh hồn con đời đời kiếp kiếp được lắng nghe tiếng thông reo và chờ đợi linh hồn anh Tâm tìm về..."*

Những giọt nước mắt muộn màng khẽ rơi xuống, làm nhòe đi vài nét mực tím cuối cùng. Dưới chân lá thư, nàng nắn nót ký tên: *Lê Thị Thảo*.

Nàng gấp bức di thư lại làm đôi, đặt ngay ngắn trên mặt bàn bên cạnh chiếc thẻ căn cước và cành thông rỉ máu của chàng.

Đồng hồ trên vách buồng điểm mười hai tiếng khô khốc. Âm thanh kim loại gõ vào đêm khuya vang lên rời rạc, báo hiệu khoảnh khắc ngày 14 tháng Ba chính thức khép lại, nhường chỗ cho ngày 15 định mệnh.

Thảo quỳ sụp xuống sàn gỗ trước chiếc bàn thờ nhỏ treo trên tường ván.

Trên bàn thờ, bức tượng Chúa Chịu Nạn bằng gỗ pơ mu cũ kỹ rọi bóng xuống nền vách qua ánh sáng leo lét của ngọn nến sáp. Thảo chắp hai bàn tay trước ngực, giữa các kẽ ngón tay đan chặt chuỗi tràng hạt Mân Côi làm bằng gỗ mun đen nhánh - vật gia bảo duy nhất cha mẹ để lại cho nàng trước khi qua đời.

Là một người Kitô hữu ngoan đạo, Thảo biết rõ quyến sinh là một trọng tội không thể tha thứ trước mặt Thiên Chúa. Tội tự tước đoạt sinh mạng của chính mình sẽ khiến linh hồn bị đày đọa xuống nơi luyện ngục đời đời, không được đón nhận sự cứu rỗi.

Nàng dập đầu sát ván sàn lạnh ngắt, trán chạm vào thớ gỗ gồ ghề:

"Lạy Chúa... con là kẻ có tội... Xin Người thương xót linh hồn yếu đuối này... Con không thể sống thiếu anh ấy..."

Môi nàng lẩm nhẩm những câu kinh Kính Mừng bằng giọng thì thào đứt quãng. Từng ngón tay run rẩy lần qua từng hạt gỗ mun trơn nhẵn. Hơi lạnh từ sàn nhà ngấm qua đầu gối, buốt nhói lên tận tủy sống.

Bất thình lình, một ngọn gió độc từ phía bờ hồ Than Thở thốc mạnh vào căn gác. Cửa sổ bị giật bung chốt, đập chan chát vào vách gỗ.

Luồng khí lạnh tanh tao mùi nước tù và rêu mục ùa vào phòng.

Ngọn nến sáp ong trên bàn thờ chao đảo dữ dội rồi phụt tắt ngấm. Toàn bộ căn phòng lập tức bị dìm vào một bóng tối đen đặc như mực tàu, chỉ có tiếng gió rít qua khe liếp rền rĩ như tiếng than khóc ai oán của muôn vạn bóng ma dưới lòng hồ.

Ngay trong bóng tối đen đặc ấy, sợi dây cước xâu chuỗi tràng hạt Mân Côi trên tay Thảo bỗng "phựt" một tiếng khô khốc.

Sợi dây đứt lìa.

Chuỗi hạt vỡ tung tóe. Hàng chục hạt gỗ mun tròn trịa bung ra khỏi sợi dây, rơi rụng lả tả xuống sàn nhà.

"Lách cách... cồm cộp..."

Những hạt gỗ va đập vào nền ván gỗ thông mục nát, nảy tưng tưng rồi lăn lóc khắp các ngóc ngách của căn phòng. Âm thanh va chạm ấy khô khốc, đục ngầu và rợn gáy, không giống tiếng hạt gỗ rơi trên sàn, mà vang lên y hệt như tiếng những hòn đất sỏi đầu tiên ném xuống nắp áo quan trong lễ bốc mộ giữa bãi tha ma hoang vắng lúc nửa đêm.

Từng hạt rơi xuống, dội vào tai Thảo như những tiếng gọi giục giã từ dưới đáy sâu lạnh buốt.

Bàn tay Thảo lơ lửng giữa không trung, trống rỗng. Mảnh dây đứt trơ trọi cọ vào lòng bàn tay tê dại. Nàng hiểu rằng sợi dây liên kết cuối cùng giữ nàng lại với đức tin trần thế đã hoàn toàn đứt đoạn. Đến cả chuỗi hạt chở che linh hồn nàng từ thuở ấu thơ cũng đã rời bỏ nàng trong đêm đen này.

Không còn gì níu kéo được nữa.

Thảo từ từ đứng dậy trong bóng tối mịt mùng. Nàng không mò mẫm nhặt lại những hạt gỗ mun đang vương vãi khắp sàn nhà. Nàng cởi bỏ chiếc áo len cũ kỹ đã sờn vai, nhẹ nhàng tròng vào người chiếc áo dài lụa trắng nữ sinh Bùi Thị Xuân - chiếc áo của lời hẹn ước thuở ban đầu.

Chiếc áo lụa mỏng manh áp vào da thịt, lạnh ngắt nhưng mang lại cho nàng một cảm giác thanh thản đến rợn người.

Gió bên ngoài đồi thông bỗng chốc hạ bớt tiếng rít gào, chỉ còn tiếng reo rì rào trầm buồn như một bản tụng ca vĩnh biệt. Từ phía hồ Than Thở, hơi nước buốt giá dâng lên, nhuộm trắng xóa cả một khoảng trời đêm qua khung cửa sổ mở toang.

Rạng sáng ngày 15 tháng Ba đã bắt đầu gõ cửa trần gian bằng những vệt sương mù xám đục. Thảo đứng lặng bên bàn, với tay lấy bức di thư nhét vào túi áo, rồi cất bước đi về phía cánh cửa gác xép, chuẩn bị dấn thân vào chuyến đi không bao giờ trở lại bên bờ nước sâu.

Chương khác

Xem thêm