Đồi Thông Hai Mộ - Chương 17: Hai Nấm Mồ Cạnh Nhau
Gió đông bắc tràn qua mặt hồ Than Thở, rít từng hồi ran rát qua thung lũng thông ba lá. Mặt đất đỏ bazan nhão ra dưới lớp sương muối đặc quánh bám chặt…
Nội dung chương
Gió đông bắc tràn qua mặt hồ Than Thở, rít từng hồi ran rát qua thung lũng thông ba lá. Mặt đất đỏ bazan nhão ra dưới lớp sương muối đặc quánh bám chặt lấy những đôi giày bốt-đơ-sô đen bóng của toán lính danh dự Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt.
Bốn chiếc xe Jeep nhà binh nổ máy xình xịch dưới chân dốc, rọi những luồng đèn pha màu vàng đục xuyên qua màn sương mù dày cộm. Trên đỉnh đồi, cạnh nấm mồ đất đỏ cắm cây thánh giá gỗ mun của cô giáo Lê Thị Thảo, một căn lều vải bạt dã chiến được dựng vội từ nửa đêm. Dưới mái bạt căng rạp bởi sức gió, thi thể Vũ Minh Tâm đã được khâm liệm chu tất trong bộ đại lễ phục sĩ quan màu lam sẫm, nút đồng cài thẳng tắp, hai tay đan chéo trước ngực. Chiếc áo dạ ấm áp che kín vết rách nơi cổ áo, giấu đi cả những vết thâm tím do chất kịch độc hành hạ trong những giây phút cuối đời.
Nằm trên chiếc bàn dã chiến kê sát đầu áo quan là lá thư tuyệt mệnh viết bằng nét mực tím học trò quen thuộc. Đại úy Phan Đình Trọng, chỉ huy đại đội khóa sinh, cầm tờ giấy pơ-luya mỏng manh đã ố vàng một góc vì sương đêm, bàn tay đeo găng len thô ráp khẽ siết lại.
Dưới chân đồi, tiếng động cơ êm ru của chiếc xe Citroën Traction Avant màu đen bóng lộn rẽ màn sương tiến vào. Cửa xe mở ra, một người đàn ông trung niên mặc âu phục dạ dày màu xám tro, cổ quàng khăn len đắt tiền, bước vội xuống nền đất lầy lội. Đó là Ba Đạt, viên quản gia thân tín nhất của ông đại điền chủ Vũ Đình Triệu, theo sau là hai tên gia nhân vạm vỡ mang nẹp da và tráp đồng.
Ba Đạt bước từng bước gấp gáp lên dốc, gấu quần tây bằng vải ngoại quốc đắt tiền quệt phải bụi gai dã quỳ ướt sũng. Gã đứng trước cửa lều bạt, đưa mắt nhìn cỗ áo quan bằng gỗ thông mộc vừa đóng vội trong đêm, rồi ngước nhìn Đại úy Trọng.
"Thưa Đại úy," giọng Ba Đạt run lên vì cái lạnh cắt da của xứ cao nguyên, nhưng âm sắc vẫn giữ nguyên vẻ hách dịch của kẻ đại diện cho một gia tộc nắm giữ nửa diện tích ruộng đồng Gò Công. "Ông bà đốc phủ sứ ở Tiền Giang đã nhận được điện báo hỏa tốc từ dinh Tỉnh trưởng Tuyên Đức. Ông lớn lệnh cho tôi phải lập tức phong kín thi hài cậu Tâm, đưa thẳng lên xe đòn để chuyển về Nam Kỳ an táng trong đất tổ họ Vũ. Gia phả trăm năm của dòng họ Minh Đức không thể chấp nhận một đứa con trai duy nhất nằm lại giữa rừng hoang lạnh lẽo này."
Huỳnh Văn Lộc, khóa sinh bạn thân cùng phòng với Tâm, bước vọt lên một bước, khẩu súng gác ngang ngực đập mạnh vào dây đai da phát ra tiếng cách khô khốc. Đôi mắt Lộc đỏ ngầu sau một đêm thức trắng canh xác bạn.
"Tâm là khóa sinh của quân trường, đã tuyên thệ bảo quốc an dân," Lộc gằn từng tiếng qua kẽ răng. "Chính gia đình các người ép cậu ấy vào bước đường cùng này. Lá thư này do chính tay Tâm viết, để lại trước giờ nhắm mắt. Cậu ấy muốn nằm lại đây, cạnh cô Thảo. Không ai có quyền kéo cậu ấy đi đâu hết."
Ba Đạt nhếch mép, rút từ trong túi áo ngực ra một phong bao giấy dó đóng dấu triện đỏ chót của tòa án tỉnh Gò Công và thị thực của Tòa Đô chính.
"Cậu Tâm chưa chính thức nhận lễ tốt nghiệp mãn khóa, về mặt pháp lý lẫn gia pháp, cậu ấy vẫn là con của ông lớn Vũ Đình Triệu. Chúng tôi có toàn quyền định đoạt phần xác của người nhà họ Vũ. Các anh giữ lại một cái xác chết bất đắc kỳ tử trên ngọn đồi ma ám này để làm ô danh cả một dòng tộc vọng tộc sao? Lại còn đòi chôn cạnh một đứa con gái mồ côi, không môn đăng hộ đối, theo đạo tà thừa sai? Ông lớn dặn rõ, dẫu có phải tốn vạn lượng bạc trắng đưa việc này lên tận Phủ Tổng thống, họ Vũ cũng tuyệt đối không để nấm mồ này tồn tại cạnh cái mồ đất kia!"
Không khí trong căn lều bạt căng thẳng tột độ. Tiếng gió rít qua rặng thông nghe như tiếng nghiến răng rền rĩ. Hai tên gia nhân họ Vũ toan tiến lại gần mép áo quan, nhưng Đại úy Trọng đã giơ bàn tay đeo găng lên.
Tiếng lên đạn lách cách vang lên đồng loạt từ hàng quân danh dự đứng bọc quanh căn lều. Mười hai khóa sinh Võ bị bồng súng đứng nghiêm thành một bức tường thép sống, nòng súng hướng chếch lên nền trời mù đặc sương xám.
Đại úy Trọng nhìn thẳng vào mặt Ba Đạt, giọng lạnh băng:
"Ông Ba Đạt, đây là khu vực quân sự do Trường Võ bị quản hạt theo lệnh tình trạng thiết quân luật cục bộ của Tỉnh đoàn Đà Lạt sáng nay. Chuẩn úy Vũ Minh Tâm đã hoàn tất toàn bộ kỳ sát hạch quân sự cuối cùng, quyết định phong cấp đã ký lưu tại văn phòng chỉ huy trưởng từ tuần trước. Chàng sĩ quan trẻ này đã chọn nơi an nghỉ bằng chính danh dự của một người lính. Di nguyện của một quân nhân chết trong quân phục có giá trị tối thượng trước quân đội chúng tôi."
Trọng giơ bức thư của Tâm lên trước ánh đèn bão leo lét:
"Tâm viết rất rõ: 'Xin các chiến hữu rủ lòng thương cho một kẻ thất tình bạc phận. Hãy chôn tôi cạnh nấm mồ nàng Thảo, đầu quay về hướng mặt hồ Than Thở, để ngàn năm sau linh hồn tôi được lắng nghe tiếng thông reo cùng người tôi yêu.' Chúng tôi là đồng đội của Tâm, chúng tôi nhận lệnh từ chính linh hồn của bạn mình, chứ không nhận lệnh từ tiền bạc hay gia pháp của điền chủ xứ Tiền Giang."
Ba Đạt tái mét mặt mày. Gã nhìn hàng lưỡi lê sáng loáng cắm trên đầu súng carbine của nhóm khóa sinh trẻ tuổi. Ánh mắt của họ bừng lên ngọn lửa căm phẫn và kiên quyết, một thứ ý chí sắt đá mà tiền bạc của nhà họ Vũ không thể mua chuộc hay bẻ gãy. Gã lùi lại hai bước, hàm răng va vào nhau lập cập.
"Được... Các người hãy nhớ lấy," Ba Đạt rít lên, ngón tay run rẩy chỉ vào cỗ quan tài gỗ thông. "Họ Vũ chúng tôi chưa bao giờ chịu khuất phục bất kỳ ai. Hôm nay các người cậy súng cậy quyền cản trở, nhưng rồi sẽ có ngày đất này phải trả lại người cho đất mẹ Gò Công."
Ba Đạt quay ngoắt gót, hậm hực bước nhanh xuống triền dốc, chui tọt vào trong chiếc Citroën đen. Chiếc xe lùi bánh rồi quay đầu, rú ga phóng vút đi trên con đường đất đỏ lầy lội, để lại một làn khói dầu khen khét hòa vào sương sớm.
Đại úy Trọng thở dài một hơi dài, luồng hơi trắng xóa phả vào không gian giá buốt. Anh quay sang Lộc và các khóa sinh:
"Chuẩn bị động thổ. Chúng ta phải hoàn tất việc hạ huyệt trước khi mặt trời qua đỉnh đầu."
Sáu người lính cởi bỏ áo dạ ngoài, xắn cao tay áo sơ mi kaki, cầm lấy những chiếc cuốc chim và xẻng sắt bước ra mé đồi.
Vị trí được chọn nằm cách nấm mồ đất của cô Thảo đúng nửa sải tay, song song hoàn hảo từ hướng chân đến hướng đầu. Từng nhát cuốc bổ mạnh xuống nền đất đỏ pha sỏi bazan ken dày rễ cây thông. Tiếng kim loại va vào đá cuội tóe ra những tia lửa ngắn ngủi giữa ban ngày. Đất đỏ cao nguyên ẩm ướt, dính chặt vào lưỡi xẻng như muốn níu giữ từng tấc thịt xương của kẻ vừa nằm xuống.
Lộc vung từng nhát cuốc dứt khoát, mồ hôi túa ra hòa lẫn với những giọt nước mắt mặn chát lăn dài trên má. Chàng nhớ lại những đêm hai đứa cùng thức ôn bài chiến thuật dưới ngọn đèn dầu hạt đỗ trong cư xá, nhớ nụ cười rạng rỡ của Tâm mỗi chiều thứ Bảy khi chàng vội vã ủi thẳng nếp áo để kịp chạy ra bến xe đón cô giáo Thảo. Tất cả những hoài bão, những lời thề non hẹn biển, giờ đây thu gọn lại trong một chiếc hố sâu hai thước, dài sáu thước khoét sâu vào lòng đất mẹ cằn cỗi.
Gần trưa, huyệt mộ đào xong. Lòng huyệt phẳng phiu, đỏ au màu đất mới, phảng phất mùi nhựa thông nồng nặc bốc lên từ những đoạn rễ cây bị chém đứt.
Đại úy Trọng đứng nghiêm ở đầu huyệt, cất giọng trầm buồn:
"Nghi thức hạ huyệt!"
Sáu khóa sinh bước vào lều bạt, cẩn trọng luồn những dải dây dù quân dụng bản lớn xuống dưới đáy cỗ áo quan bằng gỗ thông mộc. Nắp áo quan đã được đóng chặt bằng những chiếc đinh thép dài mười phân. Chiếc nón kết sĩ quan viền vàng và thanh kiếm danh dự của Tâm được đặt trang trọng trên mặt gỗ sần sùi.
"Nâng!" Lộc hô lớn, giọng khàn đặc.
Cỗ quan tài từ từ được nhấc bổng lên khỏi hai thanh xà gồ. Sáu chàng trai trẻ gồng mình ghì chặt dây dù, từng bước nhịp nhàng khiêng người bạn đồng khóa bước ra khỏi lều, tiến về phía mép huyệt.
Gió từ lòng hồ bỗng thốc mạnh lên sườn dốc, làm tà bạt lều phần phật bay. Từng nhánh thông cổ thụ rền rĩ quăng quật vào nhau tạo nên một chuỗi âm thanh u uất kéo dài. Cỗ áo quan chầm chậm hạ xuống lòng đất buốt giá, từng tấc, từng tấc một, cho đến khi chạm vào đáy huyệt với một tiếng "bịch" nặng nề.
Tiếng kèn đồng Trompette bỗng nhiên cất lên xé toạc không gian quạnh quẽ của rừng thông.
Người lính thổi kèn đứng lẻ loi trên một mỏm đá nhô ra mé hồ, mặt hướng về phía rặng Lang Biang mù mịt. Giai điệu bi ai, trầm hùng của bài Hồn Tử Sĩ vang vọng khắp thung lũng, trườn qua mặt nước hồ Sương Mai phẳng lặng như tờ, dội ngược vào vách thông rồi tan biến trong làn sương mù mịt. Từng nốt kèn ngân dài ai oán, não nuột như lời tiễn biệt sau cùng của những người lính trẻ gửi đến một linh hồn vừa gục ngã không phải vì súng đạn chiến trường, mà vì nỗi đau tình phụ và sự tàn nhẫn của lề thói trần gian.
Mười hai người lính đứng nghiêm, đồng loạt đưa tay chào danh dự theo nghi thức quân đội. Hai hàng nước mắt chảy ròng ròng trên những khuôn mặt sạm nắng phong sương.
Đại úy Trọng bước tới mép huyệt, bốc một nắm đất đỏ đầu tiên thả xuống nắp quan tài.
Tiếng đất rơi rào rào trên mặt gỗ mộc khô khốc vang lên rợn người. Tiếp theo đó, Lộc và các khóa sinh lần lượt bốc từng nắm đất thả xuống tiễn bạn. Những chiếc xẻng sắt bắt đầu hối hả vung lên. Đất đỏ ụp xuống, lấp dần cỗ áo quan, vùi lấp bộ quân phục danh dự, vùi lấp cả chén thuốc độc đắng cay và mối tình tuyệt vọng của chàng chuẩn úy trẻ xứ Tiền Giang.
Hai tiếng đồng hồ sau, việc đắp mộ hoàn tất.
Mặt đất bằng phẳng giờ đây đã nhô lên hai nấm mồ đất đỏ hình mai rùa nằm sát cạnh nhau, ngay ngắn và song song như hình bóng đôi lứa song hành. Nấm mồ của cô Thảo bên trái mang cây thánh giá gỗ mun đã sẫm màu mưa nắng suốt chín tháng qua. Nấm mồ của chàng Tâm bên phải được cắm một tấm bia gỗ thông vạt phẳng, khắc sâu dòng chữ sơn đen: "Chuẩn úy Vũ Minh Tâm - Sinh năm 1936 tại Gò Công - Vị quốc vong thân - Yên nghỉ ngày cuối năm 1956".
Chỉ còn tiếng gió xào xạc quét qua những thảm lá kim khô rải đầy quanh hai nấm đất mới.
Lộc cẩn thận lấy một bó hoa thạch thảo tím ngát mà anh đã nhờ người mua từ chợ Đà Lạt sáng sớm, chia làm đôi, đặt một nửa lên mộ Thảo và một nửa lên mộ Tâm. Hai sắc hoa tím biếc rực rỡ nổi bật trên nền đất đỏ tươi, nối liền khoảng cách gang tấc giữa hai nấm mồ.
Đúng lúc ấy, từ phía rặng thông già cách đó chừng hai trăm thước, nơi con đường mòn dẫn ra đường Quang Trung khuất sau những gốc cây sừng sững, chiếc Citroën màu đen vẫn chưa hề rời đi.
Bên trong xe, Ba Đạt ngồi ở ghế sau, mắt dán chặt vào hai nấm mồ đất đỏ qua tấm kính xe đóng kín. Ngồi cạnh gã là một người đàn ông già nua gầy guộc, mặc áo dài the đen, tay chống chiếc gậy trúc bịt bạc. Đó chính là ông Vũ Đình Triệu, người cha quyền uy vừa bí mật đáp chuyến bay khẩn cấp từ Tân Sơn Nhất lên Liên Khương rồi đi thẳng đến đồi thông bằng xe riêng.
Ông Triệu không bước xuống xe, không thèm nhìn mặt đứa con trai đã chết bằng ánh mắt của một người cha ruột thịt. Khuôn mặt già nua với những nếp nhăn hằn sâu như rãnh cày co giật liên hồi, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra những âm thanh ken két căm hờn. Bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh của ông bóp nát chiếc khăn tay lụa trắng đang cầm trên đùi.
"Quân bay nhìn cho kỹ vị trí nấm mồ đó," ông Triệu cất giọng khàn đặc, đầy nọc độc và hận thù, từng lời nói ra lạnh lẽo hơn cả sương giá mùa đông Đà Lạt. "Đứa con nghịch tử dám bôi tro trát trấu vào gia môn họ Vũ. Nó chết đi rồi mà vẫn muốn gắn chặt cái tên dòng dõi đại điền chủ với một đứa con gái hạ tiện không cha không mẹ, lại còn theo tà đạo ngoại lai."
Ba Đạt khẽ cúi đầu, giọng rụt rè:
"Thưa ông lớn, đám lính Võ bị bảo vệ nó gắt gao quá. Thằng chỉ huy viện cớ luật quân sự, chúng nó súng ống đầy mình nên con không thể cưỡng ép mang thi hài cậu về ngay được."
Ông Triệu nhổ một bãi nước trầu đỏ lòm qua khe cửa kính hé mở, ánh mắt độc địa quắc lên:
"Cứ để cho đám lính trẻ trâu đó làm trò hề nghĩa hiệp. Chúng nó sắp mãn khóa, sắp bị điều động đi khắp bốn vùng chiến thuật rồi. Cứ để cái xác thằng Tâm nằm đó chịu mưa chịu rét vài tháng. Chờ cho dư luận quanh hồ Than Thở lắng xuống, chờ cho đám quân cảnh rút hết, tao sẽ bỏ tiền mua trọn cái khoảnh đồi này từ Tòa Hành chính tỉnh."
Lão già điền chủ nghiêng đầu, nhìn chằm chằm vào cây thánh giá gỗ mun cắm trên mộ cô Thảo:
"Đến lúc đó, tao sẽ cho người đào sâu ba thước đất, bốc từng mẩu xương tàn của thằng Tâm lên xe đòn đưa về chôn biệt tích trong góc vườn hoang ở Gò Công, vĩnh viễn không cho hương khói tổ tiên. Còn nấm mồ của con ranh kia, tao sẽ cho san bằng thành bình địa, ném cây thánh giá kia xuống đáy hồ Than Thở cho rữa nát cùng bùn tanh. Đừng hòng có chuyện hai nấm mồ song song đời đời kiếp kiếp. Họ Vũ này quyết không để một tấc xương của con cháu mình dính dáng đến giống nòi nghèo hèn!"
Chiếc Citroën đen từ từ chuyển bánh, trườn êm ru trong sương mù rồi mất hút sau những khúc quanh đèo dốc, để lại một lời nguyền độc địa treo lơ lửng trên ngọn đồi thông giá buốt.
Trên đỉnh đồi, tiếng kèn đồng đã dứt hẳn. Đoàn quân danh dự bồng súng quay gót bước đều xuống dốc, để lại hai nấm mồ nằm trơ trọi giữa trời đông lạnh giá.
Chỉ còn Lộc nán lại sau cùng. Chàng đứng trước hai nấm đất đỏ, cúi đầu mặc niệm hồi lâu. Trước khi quay lưng bước đi, Lộc cúi xuống nhặt một cành thông khô gãy gục, cắm cẩn thận vào ranh giới giữa hai nấm mộ như một cột mốc đánh dấu lời thề che chở của tình bằng hữu.
"Tâm à, an nghỉ nhé bạn tôi," Lộc thì thào, giọng nghẹn ngào trong gió. "Cô Thảo đã đợi cậu chín tháng ròng. Giờ thì hai người đã được ở cạnh nhau rồi, không ai có thể chia rẽ được nữa đâu."
Lộc quay bước, tiếng giày bốt-đơ-sô gõ đều trên nền sỏi xa dần rồi chìm hẳn vào hư không.
Bóng hoàng hôn buông xuống nhanh chóng trên cao nguyên Lâm Viên. Mặt trời màu đỏ ối như một giọt máu khô khổng lồ chìm dần sau đỉnh núi Lang Biang mù sương. Không gian trên đồi Than Thở rơi vào một sự tịch mịch rợn người, cái tĩnh lặng chết chóc chỉ có ở những bãi tha ma hoang phế.
Dưới lòng hồ Than Thở, nước bắt đầu đổi sang màu tím thẫm của mực tàu. Những dải sương mù chiều từ đáy nước sâu thẳm lại từ từ dâng lên, kết thành những dải lụa trắng xóa uốn lượn bò qua bờ cỏ rậm rạp, trườn thẳng lên triền dốc dã quỳ.
Làn hơi ẩm buốt giá bao phủ trọn vẹn lấy hai gò đất đỏ au. Hai nấm mồ nằm song song, sát sạt bên nhau, như hai thân xác đang kề vai áp má trong một giấc ngủ nghìn thu. Một cây thánh giá gỗ mun đen nhánh đứng trầm mặc bên một tấm bia gỗ mộc ghi danh người lính trẻ. Hai nấm đất cùng hướng nhìn ra mặt hồ biếc xanh phẳng lặng, nơi bắt đầu và cũng là nơi kết thúc của một thiên tình sử oan nghiệt nhất xứ sở sương mù.
Thình lình, một ngọn gió xoáy buốt lạnh từ lòng hồ thổi bốc lên đỉnh đồi. Hai cây thông cổ thụ đứng gác bên mộ rung lên bần bật, cành lá kim cọ xát vào nhau ken két rợn gáy. Giữa tiếng thông reo u uất ngút ngàn, dường như có hai tiếng thở dài rất khẽ quyện chặt vào nhau, một thanh âm trong trẻo nỉ non của người con gái hòa cùng giọng trầm ấm xót xa của chàng trai trẻ, chìm nổi bập bùng giữa hai bờ cõi âm dương.
Một mối liên kết siêu nhiên vô hình đã được hàn gắn bằng cái chết dưới lòng đất đỏ bazan. Thân xác của chàng và nàng đã tìm về bên nhau trọn vẹn dưới bóng ngàn thông năm 1956. Nhưng bên dưới sự bình yên ngắn ngủi ấy, một bóng đen tàn nhẫn khác đã bắt đầu thành hình từ lòng thù hận khôn nguôi của dòng họ điền chủ phương Nam.
Hai nấm đất đỏ vẫn nằm đó ngóng nhìn mặt nước hồ Than Thở. Không hề hay biết rằng một ngày kia, sự chia lìa man rợ nơi trần thế sẽ lại giáng xuống. Biến nấm mồ của người ở lại thành một ngôi mộ rỗng hoang tàn. Và xé toạc linh hồn người ra đi thành hai mảnh vất vưởng giữa hai phương trời biền biệt.