Đồi Thông Hai Mộ - Chương 20: Ngôi Thị Hiền Người Giữ Mộ

Màn sương tháng chạp trườn lên từ lòng hồ Than Thở, mang theo cái lạnh thấu xương của đáy nước sâu nuốt chửng ngọn đồi thông ba lá. Gió mùa đông bắc quất…

Nội dung chương

Màn sương tháng chạp trườn lên từ lòng hồ Than Thở, mang theo cái lạnh thấu xương của đáy nước sâu nuốt chửng ngọn đồi thông ba lá. Gió mùa đông bắc quất từng cơn liên hồi qua các nhánh cây khẳng khiu, tạo nên chuỗi âm thanh rít gào buốt nhọn. Trên đỉnh dốc trơ trọi, nấm mộ gió của Vũ Minh Tâm nằm sóng đôi bên nấm mồ phủ cỏ của Lê Thị Thảo. Đất bazan nơi nấm mộ rỗng nứt toác từng kẽ dài ngoằn ngoèo, miệng hố khô khốc không một ngọn cỏ nào bám rễ nổi, phả ra luồng hơi u uất nồng nặc mùi nhựa rỉ.

Khi chuông nhà thờ Bùi Thị Xuân điểm mười hai tiếng từ phía bên kia thung lũng, đáy huyệt rỗng khẽ cựa mình. Một dải khói xám tro từ kẽ nứt đùn lên, tụ lại thành hình bóng chàng sĩ quan trẻ tuổi. Tàn y Võ bị Đà Lạt khoác trên người chàng đã tả tơi từng mảnh, vạt áo dính đầy bùn đất nhão nhoẹt, ve áo đính phù hiệu kim loại hoen rỉ lem nhem vệt ố màu nâu sẫm.

Tâm đứng lặng giữa hai nấm đất. Thần thức chàng rách bươm, đau đớn như bị hàng vạn mũi dao cào xé. Một nửa thể xác chàng nằm yên dưới tầng đất thịt đen ngòm nơi quê nhà Gò Công, bị bùa chú của gã thầy cúng và xích sắt gia phong họ Vũ trói chặt trong cỗ quan tài gõ đỏ. Nửa linh hồn còn lại mắc cạn trên đỉnh đồi hoang này, bấu víu vào từng lời thề non hẹn biển chưa kịp trọn vẹn. Chàng cúi nhìn đôi bàn tay mình, những ngón tay hư ảo mờ đục run lẩy bẩy, không cách nào gom nhặt lại được hơi ấm của thịt da trần thế.

Ký ức trần gian đổ về chập chờn, vụn vỡ thành từng mảnh sắc lẹm. Tâm nhớ những buổi chiều chủ nhật được phép xuất trại, chàng mặc bộ lễ phục thẳng thớm, đạp xe từ trường Võ bị sang đón Thảo ở cổng trường Nữ trung học Bùi Thị Xuân. Chàng nhớ nụ cười dịu dàng e ấp sau vành nón lá, nhớ mùi hương hoa hoàng lan vương trên mái tóc dài buông xõa ngang lưng người yêu. Thế nhưng, khi chàng cố vươn tay níu giữ lấy nụ cười ấy, bóng hình Thảo lại tan biến thành những hạt bụi nước li ti bay dạt vào bóng tối.

"Thảo ơi..."

Tiếng gọi thì thầm thoát ra từ đôi môi khô khốc của vong hồn, khàn đặc, nghẹn ngào như vỡ vụn từ đáy vực thẳm. Âm thanh ấy hòa vào tiếng lá thông xào xạc, biến thành một chuỗi thở dài não nuột bay là là trên mặt cỏ úa.

Tâm lảo đảo bước từng bước vô định quanh sườn đồi. Bàn chân trần của bóng ma lướt đi êm ru trên lớp lá kim khô mục mà không làm gãy lấy một nhánh vụn. Chàng đi tìm Thảo. Chàng men theo bờ dốc thoai thoải chạy xuống mép hồ Sương Mai cũ, nơi mặt nước đang dềnh lên từng con sóng bạc đầu lạnh ngắt. Dưới ánh trăng khuyết mờ đục lẩn khuất sau tầng mây đen, bóng chàng đổ dài ngoằng ngoèo trên mặt đất đỏ.

Ven bờ nước, rễ thông già trồi lên uốn lượn như những con trăn khổng lồ. Tâm thấy bóng một thiếu nữ mặc áo dài trắng đứng quay lưng lại phía chàng, tà áo bay phần phật trong gió buốt. Tóc nàng ướt đẫm nước hồ, từng giọt nhỏ tong tỏng xuống rêu phong bên bờ đá.

"Thảo! Anh về rồi đây!"

Tâm lao tới, hai cánh tay giang rộng muốn ôm chầm lấy bóng hình thân thương ấy. Chàng lao thẳng vào làn sương xám xịt bên mép nước. Vòng tay chàng chỉ khép lại trong hư vô buốt giá. Mặt hồ phẳng lặng xao động dữ dội, dội ngược lên bờ luồng khí tanh nồng của bùn lầy và rong rêu chết rục rã. Không có Thảo ở đó. Nơi mặt nước vừa gợn sóng chỉ có khuôn mặt chàng phản chiếu méo mó, hai hốc mắt đen ngòm trút ra những dòng lệ vô hình.

Nỗi tuyệt vọng bóp nghẹt tàn thức chàng trai trẻ. Chàng quay cuồng giữa những gốc thông ba lá, vừa đi vừa cào cấu vào khoảng không vô định. Gió trên ngọn đồi càng lúc càng gầm rú dữ dội. Tiếng chàng gọi tên Thảo rền rĩ, luồn lách qua từng khe thông, đập vào vách núi rồi dội ngược về mặt hồ u tối:

"Thảo ơi... Em ở đâu giữa chốn này? Sao em nỡ bỏ anh lại một mình..."

Lúc bấy giờ, trên con đường mòn gập ghềnh nối từ Trại Mát vòng qua bờ hồ Than Thở về trung tâm thị xã, một vài người đi chợ muộn hoặc phu kéo xe lôi đang hối hả rảo bước tránh rét. Đèn bão cầm tay của họ chao đảo trong màn sương đặc quánh. Khi đi ngang qua chân ngọn đồi có hai ngôi mộ, luồng gió lạnh từ trên đỉnh dốc bất thần thổi thốc xuống, mang theo âm thanh rền rĩ như tiếng người nấc nghẹn giữa đêm trừ tịch.

Ngựa kéo xe của một bác xà ích bỗng chồm hai vó trước lên trời, hí vang một tiếng man dại rồi đứng khựng lại, toàn thân run bần bật không chịu bước tiếp dù roi da quất vun vút vào hông. Bác xà ích nghiêng tai lắng nghe, sống lưng lạnh toát khi nhận ra giữa tiếng thông reo ào ào có tiếng nỉ non gọi tên một người con gái. Bác hốt hoảng bịt chặt tai lại, chắp tay lạy vái bốn phương rồi vội vã giật dây cương, thúc ngựa tháo chạy thục mạng về phía Chi Lăng trong nỗi kinh hoàng tột độ.

Trên đỉnh đồi, bóng ma của Tâm vẫn tiếp tục cuộc tìm kiếm trong vô vọng.

Chàng quay trở lại bên nấm mộ của Thảo. Cây thánh giá gỗ mun cắm nơi đầu mộ vẫn sừng sững đứng đó, phủ một lớp rêu phong ẩm ướt. Lớp đất trên mộ nàng cỏ xanh mọc đều tăm tắp, phẳng lặng và thanh thản, đối lập hoàn toàn với nấm mộ gió nham nhở khô cằn bên cạnh. Tâm quỳ sụp xuống bên cạnh tấm bia gỗ mục nát. Chàng gục đầu vào lớp cỏ lạnh buốt, áp đôi má không còn huyết sắc lên nền đất thịt nơi Thảo đang yên nghỉ ngàn thu.

"Họ cướp anh đi rồi, Thảo ơi. Họ mang xương cốt anh về chôn nơi đồng bằng xa lạ, nhưng tim anh bỏ lại ở chốn này cùng em..."

Chàng đưa những ngón tay mờ ảo vuốt ve từng ngọn cỏ xanh non. Những chiếc lá kim thông khô từ trên cành cao rụng xuống lả tả, vương đầy trên mặt mộ nàng. Tâm cẩn trọng, tỉ mẩn đưa tay nhặt từng chiếc lá kim khô ấy lên, nhẹ nhàng gom lại thành từng cụm nhỏ rồi xếp ngay ngắn quanh chân cây thánh giá gỗ, như cách chàng từng ân cần gỡ những cánh thông vướng trên mái tóc nàng trong những buổi chiều hẹn hò thuở trước.

Đúng lúc đó, từ dưới chân đốc dốc có tiếng bước chân giẫm lên cành củi khô răng rắc.

Bác Ba Chắt, một người phu rừng luống tuổi ở xóm Lò Than chuyên nghề đốn củi thông khô, đang gánh đôi bó củi nặng trĩu trên vai leo dốc để đi tắt về nhà. Chiều nay bác mải mê lần theo một thân thông sét đánh tận sâu trong thung lũng, trời tối sụp lúc nào không hay, sương mù lại kéo đến nhanh đến mức bác lạc đường mất hơn một giờ đồng hồ. Cơn rét buốt thấu qua lớp áo vải thô rách vá khiến hai hàm răng bác va vào nhau lập cập.

Để xua tan nỗi sợ hãi chốn rừng thiêng nước độc lúc nửa đêm, bác Ba Chắt vừa đi vừa lẩm bẩm mấy câu niệm Phật. Thế nhưng, khi vừa leo lên đến trảng đất bằng phẳng trên sườn đồi Than Thở, bác bỗng khựng lại, đôi quang gánh trĩu nặng trên vai rung lên bần bật.

Cách chỗ bác đứng chừng mươi thước, dưới bóng hai gốc thông ba lá sừng sững, có một bóng người đang quỳ bất động bên cạnh ngôi mộ có cây thánh giá.

Mặt trăng lúc này vừa lách ra khỏi một đám mây đen xám xịt, rọi ánh sáng bàng bạc mờ ảo xuống ngọn đồi. Bác Ba Chắt trố mắt nhìn. Rõ ràng đó là một người đàn ông mặc quân phục sĩ quan Võ bị màu xám tro, thắt lưng da to bản, vai áo có cầu vai nhưng đã rách bươm từng mảng. Người ấy quỳ gối rất ngay ngắn, tấm lưng thẳng tắp nhưng toàn thân toát ra một luồng khói lạnh trắng đục cuồn cuộn bò lan ra mặt đất xung quanh.

Bác Ba Chắt nín thở, hai chân như chôn chặt xuống nền đất đỏ bazan nhão nhoẹt, không thể nhấc nổi một bước. Cảnh tượng trước mắt quái dị đến mức khiến tóc gáy bác dựng đứng ngược lên.

Bóng chàng sĩ quan ấy đang đưa đôi bàn tay dài ngoằng, nhợt nhạt nhặt từng chiếc lá thông khô rơi trên mặt cỏ úa. Động tác của bóng người chậm rãi, cẩn trọng, nâng niu từng chiếc lá mục nát như đang cầm nắm những báu vật vô giá trên cõi đời. Vừa nhặt, miệng bóng người vừa mấp máy thì thầm những lời lẽ nghẹn ngào, ai oán:

"Đừng sợ lạnh, Thảo ơi... Anh che gió cho em đây... Chờ anh, anh không đi đâu hết..."

Giọng nói ấy không phát ra thành tiếng vang trong không gian, mà đập thẳng vào màng nhĩ bác Ba Chắt như luồng gió độc thấu tận tủy sống. Hơi lạnh từ phía hai ngôi mộ tỏa ra râm ran, khiến ngọn lửa nhỏ trong chiếc đèn bão treo bên đòn gánh của bác chập chờn rồi phụt tắt ngấm. Mùi khét lẹt của dầu hỏa hòa lẫn với mùi tử khí ngai ngái làm bác nghẹt thở, lồng ngực như bị một tảng đá ngàn cân đè nặng.

"Ai... Ai đó?" Bác Ba Chắt run rẩy cất tiếng hỏi, giọng lạc đi giữa tiếng gió rít gào.

Bóng chàng sĩ quan đột ngột dừng lại. Đôi bàn tay đang nhặt lá thông khựng giữa không trung. Chậm rãi, vô cùng chậm rãi, cái bóng ấy xoay nửa khuôn mặt về phía người phu rừng già.

Ánh trăng lạnh lẽo rọi thẳng vào gương mặt người chết. Bác Ba Chắt ngã ngồi bệt xuống đất, đôi gánh củi đổ kềnh sang một bên, củi khô văng tung tóe trên sỏi đá. Gương mặt chàng trai trẻ trắng bệch như sáp nến ngâm nước lâu ngày, làn da trong suốt nhìn rõ cả những đường gân xanh xao chằng chịt. Đôi mắt chàng sâu hoắm, đen ngòm như hai cái giếng cạn không đáy, từ khóe mắt rỉ ra hai vệt nước sẫm màu rỉ xuống tận cằm. Chàng nhìn bác phu rừng bằng ánh mắt vô hồn, tuyệt vọng cùng cực, chứa chấp nỗi hờn oán và bi thương ngút ngàn của một kẻ bị tước đoạt sự sống lẫn tình yêu.

Một cơn gió xoáy mạnh thốc lên từ phía hồ Than Thở, cuốn theo cát bụi và lá thông khô bay mù mịt quanh hai ngôi mộ. Bóng chàng sĩ quan mờ dần, rách tơi tả thành từng dải khói tro tàn rồi tan biến hoàn toàn vào màn sương đêm dày đặc.

Không gian bỗng chìm vào sự tĩnh lặng chết chóc. Chỉ còn tiếng thông reo rền rĩ như muôn ngàn tiếng than khóc ai oán không dứt.

Bác Ba Chắt ôm chặt lấy lồng ngực đang đập liên hồi như muốn vỡ tung, miệng lầm rầm cầu khấn van vái liên tục. Mất một lúc lâu sau, khi cảm thấy luồng tử khí buốt giá vơi bớt đôi phần, bác mới dám lồm cồm bò dậy, hai đầu gối run rẩy va vào nhau côm cốp. Bác gom vội mấy khúc củi vương vãi, nhưng tò mò và sợ hãi thôi thúc bác đánh bạo bước lại gần nấm mộ cô Thảo để nhìn cho rõ.

Đến bên nấm mồ phủ cỏ, người phu rừng già chết sững khi nhìn xuống mặt đất.

Chiếc bóng ma quái đã biến mất không còn tăm hơi, nhưng trên bãi cỏ úa trước cây thánh giá gỗ mun, nơi chàng sĩ quan vừa quỳ gối, hiện rõ mồn một hai vệt lõm sâu hoắm in hình hai đầu gối người. Cỏ non xung quanh hai vệt lõm ấy cháy sém, đen quắt lại như bị lửa âm thiêu đốt rụi. Đáng sợ hơn cả, từ đáy của hai vệt lún sâu ba tấc đất ấy, một thứ nước đen ngòm, nhờn nhợt và lạnh ngắt đang từ từ rỉ ra, sủi bọt lăn tăn rồi bốc lên mùi hôi tanh nồng nặc của tử khí từ đáy mộ sâu.

Bên cạnh hai vệt lún rỉ nước đen, những chiếc lá kim thông khô được xếp ngay ngắn thành hình một nửa trái tim dang dở, hướng thẳng về phía miệng nấm mộ gió rỗng tuếch đang há hoác chờ người.

Bác Ba Chắt rụng rời tay chân, vứt luôn cả gánh củi quý giá vừa đốn được suốt buổi chiều, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng xuống dốc đồi. Bác chạy như bị ma đuổi, tiếng thở dốc nghẹn ngào hòa cùng tiếng chân đạp vỡ cành khô vang dội cả một góc rừng hoang vắng.

Câu chuyện về bóng ma chàng sĩ quan Võ bị trở về quỳ nhặt lá thông trên mộ người yêu nhanh chóng lan truyền khắp các xóm lao động nghèo từ Trại Mát đến Chi Lăng. Người ta đồn rằng oán khí của Vũ Minh Tâm quá nặng, thân xác bị đày đọa nơi quê nhà xa xôi ngàn dặm không thể ngăn cản lời thề nguyền son sắt kéo chàng trở lại ngọn đồi lạnh lẽo này. Nấm mộ gió rỗng tuếch bên bờ hồ Than Thở không chôn cất xương cốt, nhưng lại là nơi giam giữ một nửa linh hồn cuồng si và đớn đau tột cùng của chàng trai trẻ.

Đêm về sáng, sương mù trên đồi càng lúc càng đặc quánh. Tiếng khóc than ai oán của vong hồn chàng lính trẻ vẫn văng vẳng theo từng cơn gió buốt, nương theo tiếng chuông chùa từ xa vọng lại, rền rĩ khắp bờ hồ Than Thở, rồi trôi dạt ra tận trục đường lớn dẫn vào thị xã mù sương.

Lời than khóc bi thương khôn nguôi ấy như một sợi dây oan nghiệt vô hình giăng mắc giữa trần gian và cõi âm, chực chờ đánh động bước chân một người nghệ sĩ lữ thứ sắp ghé qua ngọn đồi hoang tàn này trong những ngày mưa phùn gió bấc sắp tới.

Chương khác

Xem thêm