Đồi Thông Hai Mộ - Chương 19: Mộ Gió / Mộ Rỗng Giữ Lại
Sương muối tháng chạp phủ một lớp màng trắng đục lên những tán thông ba lá quanh bờ hồ Than Thở. Trời vừa rạng sáng, mặt nước hồ hãy còn đặc quánh hơi…
Nội dung chương
Sương muối tháng chạp phủ một lớp màng trắng đục lên những tán thông ba lá quanh bờ hồ Than Thở. Trời vừa rạng sáng, mặt nước hồ hãy còn đặc quánh hơi lạnh từ lòng thung lũng dâng lên, nuốt chửng cả triền đồi dã quỳ xơ xác.
Tiếng bước chân gấp gáp của ông Bảy thợ mộc giẫm trên thảm lá thông khô vỡ vụn giòn tan. Đi sau ông là hai người phụ nữ lam lũ của xóm Trại Mát, tay xách giỏ tre đựng hoa cúc vàng và thẻ hương trầm định bụng viếng mộ đôi trẻ ngày đầu năm mới. Nhưng khi vừa trèo lên đến gờ đất cao, rổ hoa trên tay người phụ nữ đi đầu rơi tuột xuống đất, những cánh hoa cúc vàng tươi văng tung tóe trên sỏi đá.
Miệng hố huyệt của Vũ Minh Tâm toang hoác giữa trời đông, sâu hoắm và đen ngòm như một vết thương hoại tử bị rạch toạc trên da thịt sườn đồi. Đất đỏ bazan bị xới tung vung vãi khắp mặt cỏ, lẫn trong đó là những đoạn rễ thông tươi bị rìu băm nát ứa ra từng vệt nhựa đặc quánh tanh nồng. Chiếc áo quan bằng gỗ thông mộc mà đám lính trường Võ bị chôn cất bạn mình cách đây ít lâu đã biến mất, dưới đáy hố trơ lại bốn khúc đòn tay mục gãy và một mớ vải liệm ẩm mốc vấy bùn đất.
"Quân bay táng tận lương tâm!" Ông Bảy run rẩy buông rơi chiếc cuốc con mang theo để dọn cỏ, hai mắt đỏ hoe vì uất ức. "Người ta đã nằm xuống yên phận dưới ba tấc đất rồi mà chúng nó cũng nỡ lòng nào đào xới, cướp xác đem đi!"
Tiếng kêu xót xa của ông thợ mộc kéo theo cả chục người dân nghèo từ bến nước hồ Than Thở và xóm Chi Lăng hớt hải chạy lên. Họ xúm quanh bờ hố, nhìn cảnh tượng tàn bạo mà nghẹn ngào rơi nước mắt. Cây thánh giá gỗ mun trên nấm mộ của cô giáo Thảo đứng sừng sững bên cạnh, thân gỗ đóng một lớp băng mỏng lấp lánh dưới ánh rạng đông nhợt nhạt, trơ trọi hứng từng cơn gió buốt gầm gào từ lòng hồ thốc lên.
Tin tức về chuyến xe tang trong đêm đen của lão điền chủ họ Vũ lập tức truyền khắp vùng đồi hoang. Ai nấy đều hiểu rõ bàn tay tàn nhẫn của ai đã gây ra thảm cảnh này. Kẻ giàu xứ Gò Công thà mang bộ xương khô của con trai về giam hãm nơi miệt vườn xa tít tắp, chứ nhất quyết không chịu để chàng nằm cạnh người con gái mồ côi nghèo hèn nơi đất lạnh.
"Khổ thân cậu Tâm, chết rồi mà thịt xương vẫn không được nằm yên kề cận người mình yêu," bà thím bán chè dưới chân đồi gạt nước mắt, chắp hai bàn tay sần sùi trước ngực khấn vái. "Cái hố trơ trọi thế này, gió lùa buốt giá, hồn phách biết nương tựa vào đâu?"
Ông Bảy quệt ngang dòng nước mắt già nua, nhặt chiếc cuốc lên, giọng khàn đặc nhưng đanh thép:
"Bà con ơi! Người sống chia rẽ được xác phàm, nhưng không ai bẻ gãy được nghĩa tình son sắt. Xác cậu Tâm bị mang đi mất, nhưng cái tình của cậu ấy đã gửi trọn lại đất này rồi. Chúng ta không thể để cái hố huyệt trơ xương phơi sương phơi gió làm tủi linh hồn cô Thảo. Đắp lại mộ cho cậu ấy đi bà con!"
Lời nói của ông thợ mộc đánh thức lòng thương cảm của những người dân nghèo xứ lạnh. Chẳng ai bảo ai, đàn ông cầm cuốc, phụ nữ dùng tay không bới từng nắm đất đỏ vương vãi gom lại. Người ta chặt những nhánh thông non rải đều xuống đáy huyệt sâu, rồi kính cẩn đặt vào giữa hố một chiếc áo len xanh đã sờn rách cùng một đôi găng tay len trắng - những kỷ vật mà một đồng đội cũ của Tâm từng gửi lại cho người coi sóc đồi trước khi đơn vị chuyển quân ra vùng giới tuyến.
Họ gạt từng lớp đất đỏ bazan lấp đầy miệng hố, đắp cao dần lên thành một gò đất nhô cao tròn trịa, nằm song song khít khao bên nấm mộ của Thảo. Ông Bảy lấy mấy thanh gỗ thông già còn sót lại, cẩn thận đóng thành một tấm bia mộc cắm ngay đầu nấm đất, khắc lên đó bốn chữ: "Vũ Minh Tâm chi mộ".
Đó là một nấm mồ gió. Một ngôi mộ rỗng không da, không thịt, không có lấy một mẩu xương tàn của người đã khuất, được đắp nên hoàn toàn bằng lòng trắc ẩn của những người dưng nước lã và sự kiên trù của cõi trần dành cho một lời thề nguyền dang dở.
Mọi người đốt lên những nén hương trầm thơm ngát, cắm kín xung quanh hai nấm đất. Khói hương màu lam quyện vào sương mù sớm mai, tạo nên một tấm rèm hư ảo mịt mùng trên đỉnh đồi hoang vắng.
Khi đám đông lục tục lau nước mắt bước xuống dốc đồi trở về với cuộc mưu sinh thường nhật, trên nấm đất đỏ mới đắp ấy, một sự dịch chuyển vô hình của cõi âm bắt đầu trỗi dậy dữ dội.
Từ trong cõi mịt mù hỗn độn, mảnh tàn hồn của Vũ Minh Tâm ngơ ngác trôi dạt trở về. Chàng rơi vào cơn thống khổ tột cùng của sự phân rã thần thức.
Một nửa linh hồn chàng, phần gắn chặt với huyết tủy thể xác và dòng máu tổ tiên họ Vũ, lúc này đang bị nhốt kín trong cỗ quan tài gõ đỏ sặc mùi sơn ta, bị những dải bùa chú đỏ rực trấn yểm trên đường xuôi ngược về phương Nam xa lắc. Ở nơi mồ mả Gò Công xa lạ kia, gió biển mặn chát và hơi nóng đồng bằng chực chờ vây hãm khúc xương tàn của chàng trong khuôn viên xi măng cốt thép nghiêm ngặt của một gia tộc phong kiến lạnh lùng. Thân xác chàng bị chôn vùi trong sự cô lập tuyệt đối, bị đè nặng bởi những lời răn đe gia quy và sự thống trị gia trưởng tàn nhẫn.
Nhưng nửa phần thức còn lại, phần mang theo trọn vẹn ký ức, lời đoan thệ sắt son và tình yêu cháy bỏng dành cho người con gái Bùi Thị Xuân, lại không thể nào rời khỏi ngọn đồi thông này. Nó như một sợi tơ mỏng manh bị kéo căng hết mức, đau đớn oằn mình giữa hai miền đất cách nhau hàng trăm dặm.
Mảnh vong linh Tâm cúi xuống nhìn nấm mồ mới đắp. Chàng chìa hai bàn tay hư vô của mình ra, cố gắng bám víu vào từng thớ đất đỏ bazan ẩm ướt để tìm lại nhân dạng trần gian. Chàng thèm khát cảm giác được ôm lấy thân xác mình, thèm được nghe nhịp thở của đất mẹ che chở cho nắm xương tàn. Nhưng những ngón tay mờ ảo của chàng chỉ xuyên qua lớp đất xốp, chạm vào khoảng không gian trống rỗng hun hút bên dưới.
Dưới đáy huyệt ấy không có hài cốt của chàng. Không còn manh áo sĩ quan màu lam sẫm vấy máu độc, không còn lồng ngực vỡ nát từng chất chứa nỗi tuyệt vọng khôn cùng trong chiều đông năm trước. Chỉ có bóng tối rỗng tuếch lạnh buốt của lớp mùn thông mục nát nuốt trọn lấy hư ảnh chàng trai trẻ.
"Thảo ơi..."
Tiếng gọi vô thanh của Tâm nghẹn ứ trong thinh không, tan loãng vào tiếng rít chói gắt của ngọn gió đồi. Sự phân mảnh tàn bạo khiến linh hồn chàng đau đớn như bị hàng ngàn lưỡi dao cùn băm vằm từng mảnh thức. Chàng không thể siêu thoát theo cõi Phật mà dòng họ chàng tôn sùng, cũng không thể nhập vào cõi bình yên của Chúa trời nơi Thảo đang gối đầu an nghỉ. Chàng biến thành một tàn thức bơ vơ, một bóng hình rách rưới nương náu bên nấm mộ rỗng tro tàn.
Từ phía cây thánh giá gỗ mun bên cạnh, một làn sương mỏng từ từ ngưng tụ lại thành hình bóng người thiếu nữ mặc áo dài trắng. Thảo tiến lại gần, vươn đôi bàn tay nhẹ bẫng áp lên gò má tái nhợt rỉ máu của chàng. Đôi mắt nàng trong veo nhưng đong đầy nỗi xót xa vô hạn của cõi âm. Nàng muốn kéo chàng vào vòng tay che chở, muốn dùng sự thanh thản của cõi vĩnh hằng để xoa dịu vết thương phân mảnh đang rỉ máu trong linh hồn người yêu.
Thế nhưng, mỗi khi bàn tay Thảo vừa chạm vào tàn ảnh của Tâm, một luồng điện lạnh thấu xương từ phương Nam xa xôi lại giật mạnh, giằng xé tàn hồn chàng giật lùi về phía sau. Dưới Gò Công, những nhát búa đóng đinh nắp áo quan và những tiếng tụng kinh trấn yểm của gã thầy cúng như những sợi xích vô hình xiết chặt lấy phần phách của chàng, giam lỏng chàng trong bóng tối ngột ngạt. Còn tại đây, mảnh hồn si dại bám chặt lấy nấm mộ gió, quằn quại chống cự lại lực hút tàn nhẫn ấy để được ở lại bên người yêu.
Mùa xuân năm ấy trôi qua trong lặng lẽ trên cao nguyên.
Người dân quanh vùng hồ Than Thở thương xót đôi uyên ương bạc mệnh nên thường xuyên lui tới chăm sóc hai nấm mồ. Họ mang những bầu cỏ chỉ, cỏ may xanh mướt từ triền đồi về cấy phủ lên mặt đất đỏ của cả hai ngôi mộ, mong màu xanh của cỏ cây sẽ làm dịu bớt vẻ tang thương lạnh lẽo.
Thế nhưng, một hiện tượng kỳ quái bắt đầu diễn ra khiến người dân trong vùng không khỏi rùng mình kinh hãi.
Bên nấm mộ có cây thánh giá của Thảo, lớp cỏ non bén rễ rất nhanh. Chỉ sau vài tuần mưa bụi mùa xuân, cỏ chỉ đã phủ kín một màu xanh mướt mịn màng, những đóa hoa dại li ti màu tím nhạt thi nhau trổ bông rung rinh trong nắng sớm, tỏa ra mùi thơm dìu dịu của đất lành chở che cho một linh hồn trinh bạch.
Ngược lại, trên nấm mộ gió của Tâm nằm sát cạnh, sự sống dường như bị một lời nguyền vô hình chối bỏ hoàn toàn. Bất kể người ta có cấy bao nhiêu lượt cỏ xanh, tưới bao nhiêu thùng nước mát từ lòng hồ Than Thở xách lên, thì chỉ sau một đêm, từng nhánh cỏ non vừa cắm xuống đều lập tức ngả sang màu vàng vọt ảm đạm. Rễ cỏ thối rữa, thân cỏ khô quắt lại như bị một ngọn lửa ngầm thiêu đốt từ bên trong lòng đất, rồi lụi tàn thành một lớp bụi xám xịt trơ trụi.
Đất trên nấm mộ rỗng ấy khô nẻ chằng chịt, nứt toác ra thành những đường rãnh ngoằn ngoèo tựa như những mạch máu khô cạn trên một thây ma. Dù không có một mẩu da thịt nào nằm bên dưới, nhưng lớp đất bazan ấy luôn tỏa ra một thứ tử khí ngột ngạt lạ lùng.
Và điều kinh hoàng nhất chỉ thực sự bắt đầu khi bóng chiều tà đổ sụp xuống mặt hồ Than Thở.
Mỗi khi mặt trời đỏ ối như một giọt máu đông chìm khuất sau những rặng thông già phía đèo Prenn, không gian trên đồi Than Thở lập tức chuyển sang màu lam thẫm lạnh lẽo. Khi những tia nắng cuối cùng vừa tắt ngấm, từ các khe nứt trên nấm mộ gió của chàng trai trẻ, một làn sương mù màu trắng đục bắt đầu đùn lên cuồn cuộn.
Làn sương ấy không giống sương mù tự nhiên của xứ sở ngàn hoa. Nó đặc quánh, nặng trĩu, bò là là trên mặt đất và tỏa ra một luồng khí lạnh buốt đến thấu xương thấu tủy, khiến bất cứ ai vô tình bước ngang qua cũng phải rợn tóc gáy, hàm răng va vào nhau lập cập. Hơi lạnh ấy không phải cái lạnh của sương gió cao nguyên, mà là cái lạnh buốt giá của nỗi oan khuất không đáy, cái lạnh của một linh hồn bị xé toạc làm đôi đang rền rĩ trong cơn co giật vĩnh hằng.
Một buổi chiều muộn tháng ba năm 1957, tròn một năm sau ngày Thảo trầm mình, ông Bảy thợ mộc mang nén nhang lên đồi thắp muộn. Khi vừa bước chân lên đến ranh giới giữa hai gốc thông già, ông bỗng sững sờ dừng bước.
Làn sương lạnh từ nấm mộ gió của Tâm đang bốc lên nghi ngút, bao trùm lấy cả nấm mồ xanh cỏ của cô Thảo. Trong màn sương mờ ảo chập chờn dưới ánh hoàng hôn tím ngắt, ông Bảy trông thấy rõ ràng mặt đất trên nấm mộ rỗng đang phập phồng run rẩy.
Từng đợt đất đỏ cựa quậy như thể bên dưới lớp đất sâu ba thước ấy có một bàn tay vô hình đang cào cấu điên cuồng, cố gắng xé toạc lớp đất khô cằn để trồi lên mặt đất. Kèm theo sự lay động ma quái đó là một chuỗi thanh âm rền rĩ nghẹn ngào, nghe như tiếng nấc cụt của một người đàn ông trẻ tuổi đang bị bóp nghẹt cổ họng dưới đáy mồ sâu.
"Tâm... Cậu Tâm phải không?" Ông Bảy run rẩy cất tiếng gọi, hai tay run bắn khiến bó nhang trên tay suýt rơi xuống đất.
Đáp lại lời ông lão thợ mộc chỉ có tiếng thông reo rít qua kẽ lá như muôn ngàn tiếng khóc than ai oán. Đất trên nấm mộ ngừng lay động, nhưng làn sương buốt giá lại bốc lên ngùn ngụt dữ dội hơn, tràn qua bàn chân ông Bảy buốt nhói như có hàng ngàn mũi kim băng châm chích vào da thịt.
Ông Bảy hốt hoảng cắm vội nắm nhang xuống nấm mộ gió rồi cắm đầu chạy thục mạng xuống dốc đồi, không dám một lần ngoái đầu nhìn lại.
Từ dạo ấy, ngọn đồi thông bên bờ hồ Than Thở càng trở nên vắng vẻ đến rợn người. Người dân xóm Chi Lăng truyền tai nhau rằng nấm mộ của chàng lính Võ bị tuy là mộ rỗng nhưng lại chứa chấp một oán niệm sâu nặng bậc nhất chốn cao nguyên. Sự chia lìa man rợ mà người sống áp đặt lên người chết đã biến nấm đất tro tàn này thành một cánh cổng nối thẳng xuống cõi u minh trắc trở.
Linh hồn Vũ Minh Tâm không thể siêu thoát. Bị xé đôi giữa Gò Công đầy nắng gió và Đà Lạt ngập tràn sương lạnh, mảnh tàn thức của chàng bắt đầu vùng vẫy trong cơn cuồng nộ bi thương. Đêm đêm, khi tiếng chuông nhà thờ Bùi Thị Xuân ngân nga từ xa vọng lại hòa cùng tiếng mõ tụng kinh của ngôi chùa nhỏ bên hồ, người ta lại thấy bóng hình một chàng sĩ quan trong bộ quân phục rách tả tơi hiện ra, lảo đảo bước đi giữa những gốc thông ba lá, cất tiếng nỉ non gọi tên người yêu giữa ngàn mây trắng lạnh lùng.
Đêm đen lại buông xuống đồi Than Thở. Mặt nước hồ phẳng lặng như gương phản chiếu vầng trăng khuyết méo mó, lạnh tanh. Trên đỉnh đồi trơ trọi, nấm mộ gió của chàng trai trẻ vẫn nằm im lìm bên nấm mộ cỏ xanh của người thiếu nữ, nhưng bên dưới sự tĩnh lặng chết chóc ấy, những đợt sóng ngầm của cõi âm đã bắt đầu rục rịch chuyển mình, báo hiệu những đêm dài kinh hoàng sắp sửa giáng xuống nơi chốn tình trường oan nghiệt.