Đồi Thông Hai Mộ - Chương 21: Hoa Thạch Thảo Tím Không Tàn
Mưa phùn giăng kín những triền đồi dốc thoai thoải dẫn từ trung tâm thị xã ra phía hồ Than Thở. Gió bấc thổi thốc từng cơn qua thung lũng, cuốn theo lớp…
Nội dung chương
Mưa phùn giăng kín những triền đồi dốc thoai thoải dẫn từ trung tâm thị xã ra phía hồ Than Thở. Gió bấc thổi thốc từng cơn qua thung lũng, cuốn theo lớp mù ẩm ướt lùa qua kẽ những cành thông ba lá nhọn hoắt. Không gian rũ rượi một sắc xám tro đặc quánh, lạnh đến tê buốt da thịt.
Tâm lặng lẽ đứng tựa lưng vào thân cây thông già sù sì mọc sát mép nấm mộ rỗng.
Thân ảnh chàng nhạt nhòa, nửa thực nửa hư, dường như chỉ là một mảng bóng tối cô đọng lại giữa làn khói sương mờ mịt. Bộ quân phục dạ màu xanh ô liu lấm lem bùn đất bazan, ống tay áo rách bươm để lộ cổ tay trắng bệch khô khốc. Từ ngực trái chàng, nơi từng chịu đựng ngụm độc dược quyên sinh ngày ấy, một vệt đen sẫm rỉ rả không ngừng, nhỏ từng giọt vô hình xuống lớp cỏ khô héo bên dưới.
Bên cạnh chàng, nấm mộ đắp đất của Thảo vẫn nằm lặng lẽ dưới chân cây thánh giá gỗ mun đã ngả màu rêu mốc. Đất trên mộ nàng ẩm ướt, phủ kín những cánh hoa sim dại tàn úa. Một nửa linh hồn chàng mắc kẹt tại nơi này, chịu đựng sự giằng xé tàn khốc giữa lời nguyền non hẹn biển và thực tại thi thể đã bị đào bới đưa về miền cát bỏng Gò Công. Nỗi oan khiên tích tụ suốt mấy mùa mưa nắng biến không khí quanh hai ngôi mộ thành một vùng lạnh lẽo, buốt giá đến tận cùng xương tủy.
Một tiếng gảy đàn ghita thùng vang lên khô khốc từ phía con đường mòn lầy lội dưới chân đồi.
Tiếng dây thép rung bần bật trong gió lạnh, vụng về va vào thùng gỗ cũ kỹ, tạo ra một hợp âm thứ trầm buồn xé toạc màn sương mù đặc quánh.
Tâm chầm chậm quay đầu nhìn xuống mép hồ. Giữa vũng nước mưa đục ngầu ven bờ Lac des Soupirs, một người đàn ông trạc ngoài ba mươi tuổi đang gục đầu bên cây đàn gỗ mun sờn rách mép. Người đó mặc chiếc măng tô dạ sẫm màu đã bạc thếch ở hai bên ve áo, cổ quấn chiếc khăn len màu huyết dụ ướt sũng nước mưa. Gương mặt người nhạc sĩ hốc hác, xương gò má nhô cao dưới làn da tái mét vì cái lạnh cắt da của mùa đông Đà Lạt, đôi môi nứt nẻ thâm sì vì khói thuốc.
Đó là nhạc sĩ Hồng Vân.
Người lữ khách phương xa mang theo một tâm hồn rách nát bởi những biến động của thời cuộc, phiêu bạt lên xứ cao nguyên mù sương để trốn chạy những đổ vỡ riêng tư. Mấy ngày nay, người ta thấy ông lầm lũi đi dạo quanh hồ Than Thở, uống từng ngụm rượu đế cay xè trong quán cóc xóm Chi Lăng, rồi ngồi lặng hàng giờ nghe người dân xóm thợ mộc kể về thiên tình sử đẫm máu lệ của chàng khóa sinh trường Võ bị và cô giáo trường Bùi Thị Xuân.
Hồng Vân so lại dây đàn. Đôi bàn tay gầy guộc run rẩy lướt trên những phím đồng gỉ sét. Mười ngón tay ông tím tái vì giá rét, nhưng từng động tác đặt ngón vẫn chuẩn xác đến đau lòng.
Từng nốt nhạc cất lên chầm chậm, rền rĩ, buông từng tiếng nghẹn ngào vào không gian u uất. Đó là một giai điệu lạ lùng, nửa như tiếng kinh cầu hồn trong nhà thờ đá, nửa như tiếng mõ tụng niệm nơi thảo am hoang vắng, lại xen lẫn tiếng rít gào buốt nhói của ngàn thông reo trước cơn bão tuyết. Giai điệu ấy không lả lướt ngọt ngào như những bản tình ca tài tử thường thấy chốn đô thành, mà nó mang hơi thở ẩm mốc của lòng đất sâu, vị mặn chát của nước mắt và mùi tử khí ngột ngạt của sự chia lìa.
Tâm đứng yên trên đỉnh đồi, hai hốc mắt sâu hoắm dõi thẳng xuống người nghệ sĩ lang thang.
Khi ngón tay Hồng Vân miết mạnh vào phím La thứ, kéo theo một chuỗi âm thanh thổn thức như tiếng ai oán rên xiết, ngực trái của chàng đột ngột co thắt dữ dội. Vết thương vô hình nơi trái tim rách toạc ra từng thớ thịt. Một luồng luân lưu lạnh buốt chạy dọc theo các thớ gân vô hình của tàn thức, rung lên bần bật theo từng nhịp phách của người nhạc sĩ dưới chân đồi.
Tiếng đàn ấy chạm thẳng vào nỗi thống khổ mà chàng đã câm nín chịu đựng từ ngày nhát cuốc xẻ đôi nấm mồ uyên ương.
Bấy lâu nay, chàng chỉ biết rên rỉ theo tiếng gió rít qua kẽ thông, chỉ biết cào cấu mặt đất khô nẻ bằng đôi tay máu thịt đã biến thành tro bụi, gieo rắc sự sợ hãi kinh hoàng cho những kẻ bộ hành lỡ bước. Oán khí của chàng nặng nề, u tối, quẩn quanh trong đáy mồ rỗng như một bầy đỉa đói khát máu. Nhưng lúc này đây, từng nốt nhạc của Hồng Vân đang chầm chậm gột rửa lớp bùn đen tanh tưởi ấy, kéo nỗi đau đớn từ đáy sâu tăm tối bước ra ánh sáng của nhân gian.
Hồng Vân ngửa mặt lên trời, đôi mắt trũng sâu ầng ậng nước mắt hòa cùng nước mưa phùn buốt giá. Ông không nhìn thấy bóng chàng sĩ quan đứng tựa gốc thông trên đỉnh đồi, nhưng giác quan nhạy cảm của người nghệ sĩ khiến sống lưng ông lạnh toát. Ông cảm nhận rõ mồn một có một ánh mắt u uất khôn cùng đang chăm chú dõi theo từng cử động của bàn tay mình.
"Đồi thông ơi, sao ngàn năm vẫn khóc..." Hồng Vân mấp máy môi, giọng hát khàn đục bật ra khỏi lồng ngực gầy guộc.
Tiếng hát nương theo làn gió lạnh bay ngược lên dốc đồi, tràn qua hai nấm mộ, xoáy tròn quanh gốc thông ba lá.
Tâm bước xuống một bước. Bàn chân vô hình giẫm lên lớp thảm lá thông khô mục nát, không hề phát ra một tiếng động nhỏ nào nhưng lại làm bầy quạ đen đang đậu trên cành cây giật mình đập cánh bay vút lên bầu trời xám xịt. Chàng tiến lại gần hơn bờ dốc, nhìn thẳng vào trang giấy kẻ khuông nhạc màu vàng ố đang được người nhạc sĩ đặt trên một phiến đá phẳng ven mép nước.
Mặt nước hồ Than Thở bỗng xao động dữ dội dù gió trên mặt hồ không hề mạnh. Từng gợn sóng đen ngòm dập dềnh vỗ vào bờ đất đỏ, sủi lên lớp bọt trắng xóa nhờn nhợt. Từ đáy nước sâu thẳm, nơi thi thể cô giáo Thảo từng chìm ngập trong làn nước giá buốt ngày mười lăm tháng ba năm ấy, một luồng khí lạnh ngắt đùn lên cuồn cuộn, hòa nhập vào màn sương mù bao quanh ngón tay của người nhạc sĩ.
Hồng Vân run bắn người. Cơn ớn lạnh ập đến bất ngờ làm hàm răng ông va vào nhau lập cập. Nhưng thay vì hoảng sợ bỏ chạy như gã thợ mộc hay bác phu củi dạo trước, ông lại gục đầu sát hơn vào thùng đàn. Cây bút chì mềm trong tay phải của ông bắt đầu chuyển động thoăn thoắt trên trang giấy ướt, viết ra những nốt móc đơn, móc kép đen kịt như những giọt máu khô.
Tâm quỳ một gối xuống lớp cỏ úa bên trên bờ dốc. Chàng đưa bàn tay trong suốt ra, lướt nhẹ qua vai người nghệ sĩ.
Hồng Vân rùng mình thấu tận xương tủy, một cảm giác tê dại lan khắp bả vai nhưng ngón tay ông không hề dừng lại. Người nhạc sĩ vừa gảy đàn vừa viết nhạc trong trạng thái mê man, như thể có một bàn tay vô hình đang cầm lấy tay ông, ép ông phải nắn nót từng khuông nhạc, phải ghi lại trọn vẹn từng tiếng nấc nghẹn ngào của một linh hồn bị xé rách giữa hai miền nam bắc.
Giai điệu càng lúc càng dồn dập, rồi bỗng chốc chùng xuống thê lương tột bực. Đó là đoạn nhạc miêu tả buổi chiều cuối năm một chín năm sáu, khi chàng sĩ quan trở về thấy nấm mồ người yêu đã xanh cỏ, chiếc chén ngọc vỡ tan tành và chén độc dược đắng chát chảy qua cuống họng. Tiếng dây đàn ngân lên một nốt Mi trầm bi thiết, kéo dài tựa hồ không bao giờ dứt, rung chuyển cả mặt hồ Sương Mai phẳng lặng.
Đêm dần buông xuống bờ hồ Than Thở.
Màn đêm ở xứ này không đen kịt đặc quánh mà mang một màu lam thẫm ma quái, kết tụ bởi sương mù và hơi nước từ đáy thung lũng dốc đứng. Gió bấc gầm rít dữ dội qua những rặng thông già, quất từng đợt lá kim khô rào rào xuống mái đầu người nghệ sĩ. Hồng Vân vẫn ngồi bất động bên bờ nước, tấm măng tô đã ướt đẫm nước mưa dính chặt vào da thịt, chiếc đèn bão nhỏ đặt cạnh phiến đá tỏa ra ánh lửa vàng vọt leo lét, chực tắt trước những cơn gió lốc thốc ngược từ lòng hồ.
Tâm vẫn đứng đó, lặng lẽ canh giữ bên cạnh người nhạc sĩ suốt đêm dài lạnh giá.
Chàng nhìn những dòng chữ nguệch ngoạc được viết vội dưới chân các nốt nhạc: lời hẹn thề dưới rặng thông già, nấm mồ rỗng hoang tàn trơ trọi, và mối tình son sắt không thể chia lìa dẫu thịt nát xương tan. Oán khí nghìn cân từng đè nặng lên nấm mồ gió của chàng dường như đang theo từng nét mực tan biến vào không trung, chuyển hóa thành một thứ năng lượng bất diệt. Chàng hiểu rằng, từ nay về sau, tấn bi kịch của chàng và Thảo sẽ không còn bị vùi dập trong câm lặng dưới lớp đất đỏ bazan hoang lạnh, không còn chỉ là câu chuyện đồn thổi đầy kinh hãi của những người phu rừng xóm nghèo.
Tiếng đàn của người lữ khách phương xa đã trao cho mối oan tình này một giọng nói, một hình hài vĩnh cửu giữa cõi hồng trần ngắn ngủi.
Khoảng bốn giờ sáng, tiếng chuông đồng từ một ngôi chùa nhỏ phía bên kia bờ hồ bắt đầu ngân nga từng hồi trầm ấm, xua tan lớp chướng khí mờ mịt của cõi âm. Cùng lúc đó, tiếng chuông nhà thờ Bùi Thị Xuân cũng từ xa vọng lại, thanh thản và trong trẻo lướt qua những tầng thông biếc. Hai thứ âm thanh của hai tôn giáo từng ngăn cấm tình yêu của họ nay lại cùng hòa quyện vào làn sương sớm, phủ lên ngọn đồi một vẻ tịch mịch lạ lùng.
Hồng Vân gục hẳn đầu xuống mặt gỗ của cây đàn ghita, kiệt sức sau một đêm dài vắt kiệt từng giọt tâm can. Hơi thở ông phả ra thành từng luồng khói trắng xóa trong không khí buốt giá. Chiếc bút chì rơi khỏi những ngón tay đã co quắp vì lạnh, lăn tròn trên phiến đá rêu phong.
Tâm đứng nhìn người nhạc sĩ một lúc lâu. Bóng dáng chàng bắt đầu nhạt dần khi vầng rạng đông phía đèo Prenn le lói những tia sáng đầu tiên xuyên qua kẽ lá. Trước khi tan biến hoàn toàn vào lòng đất lạnh của nấm mộ rỗng, chàng cúi xuống, chạm nhẹ đầu ngón tay sáp nến vào góc bản nhạc viết dở.
Một làn gió nhẹ bất thần thổi ngược từ nấm mộ của Thảo bay qua phiến đá, mang theo một mùi hương thanh khiết, ngai ngái của đất đồi và cỏ mật.
Khi ánh mặt trời đỏ ối như lòng đỏ trứng gà nhô lên khỏi rặng núi xa xa, xua tan lớp sương mù dày đặc trên mặt hồ Than Thở, Hồng Vân mới giật mình tỉnh giấc. Toàn thân ông cứng đờ, đau nhức như vừa trải qua một trận ốm thập tử nhất sinh. Khớp ngón tay co cứng khiến ông phải mất một hồi lâu mới cử động lại được.
Người nhạc sĩ đưa tay xoa nhẹ thái dương đang giật lên từng cơn đau buốt, rồi vội vàng nhìn xuống phiến đá phẳng trước mặt.
Bản ký âm viết bằng bút chì mềm đã khô ráo một cách kỳ lạ, từng nốt nhạc hiện rõ mồn một trên nền giấy ố vàng. Nhưng điều khiến đồng tử của Hồng Vân co rút dữ dội, tim đập thình thịch trong lồng ngực gầy guộc, là những thứ đang nằm rải rác trên bề mặt trang giấy.
Trên bản ký âm vừa hoàn thành trong đêm, vương vãi năm sáu cánh hoa thạch thảo màu tím ngắt.
Những cánh hoa còn tươi rói, mọng nước, lấp lánh những giọt sương mai trong vắt như những hạt ngọc trời. Sắc tím biếc của chúng rực rỡ và sống động đến gai người, nổi bật trên nền giấy trắng ngả vàng ẩm ướt.
Hồng Vân run rẩy ngẩng đầu nhìn quanh.
Ngọn đồi thông Than Thở lúc này đang bước vào giữa mùa khô cằn của cao nguyên. Cỏ đuôi chồn cháy sém một màu vàng vọt ảm đạm, những bụi tầm xuân xơ xác chỉ trơ lại gai nhọn hoắt, sỏi đá khô khốc trơ trọi dưới ánh nắng hanh hao. Cả vùng đồi xung quanh hồ Than Thở tuyệt nhiên không hề có lấy một khóm thạch thảo nào đang nở rộ. Mùa hoa tím ấy vốn đã qua từ nhiều tháng trước, hoặc chỉ nở rải rác trong những khu vườn ươm có rào chắn cẩn thận tận trung tâm thị xã.
Vậy mà, ngay trên bản nhạc viết về cái chết của đôi tình nhân bạc mệnh, những cánh hoa thạch thảo tím ngắt ấy lại hiện diện rõ ràng, tươi mới như thể vừa được một bàn tay thon thả hái xuống từ cõi vĩnh hằng.
Hồng Vân cẩn thận nhặt một cánh hoa tím đặt vào lòng bàn tay. Một luồng hơi lạnh buốt truyền thẳng từ cánh hoa mỏng manh vào da thịt ông, làm sống lưng ông một lần nữa râm ran ớn lạnh. Nhưng trong cái lạnh ấy lại thoang thoảng mùi hương trầm quen thuộc của những nén nhang mà người đời vẫn thường cắm bên bia mộ.
Ông ngước mắt nhìn lên đỉnh đồi.
Dưới ánh nắng ban mai rực rỡ, hai ngôi mộ nằm song song bên nhau dưới bóng mát của rặng thông già. Cây thánh giá gỗ mun trên mộ người thiếu nữ như đang phát ra một thứ ánh sáng dịu nhẹ, trong khi nấm đất rỗng tuếch bên cạnh chàng trai trẻ dường như bớt đi vẻ hoang tàn, rùng rợn của những đêm trước.
Người nhạc sĩ ôm chặt cây đàn vào lòng, tay kia cẩn thận gấp bản ký âm có kẹp những cánh hoa thạch thảo tím lại, nhét sâu vào túi áo ngực măng tô, nơi gần trái tim mình nhất. Ông đứng lặng trước hai ngôi mộ một hồi lâu, cúi đầu thật sâu vái lạy ba vái rồi lầm lũi cất bước đi về phía con đường lớn.
Những ngày sau đó, từ các phòng trà ca nhạc sang trọng ở trung tâm Đà Lạt đến những quán rượu bình dân chốn Sài thành hoa lệ, giai điệu ai oán của bản trường ca về đồi thông hai mộ bắt đầu vang lên qua tiếng hát của những danh ca hàng đầu thời bấy giờ.
Từng nốt nhạc trầm buồn, từng lời ca thống thiết như có ma lực cuốn hút lấy trái tim của hàng triệu con người:
*"...Người ta thường nói, tình đầu là tình dang dở...* *Nhưng tình em trao anh, mãi mãi là tình bất diệt..."*
Khúc ca ấy vượt qua biên giới của một vùng đồi heo hút, bay qua những cánh rừng thông ngút ngàn, xuôi theo những chuyến xe đò ngược xuôi khắp nẻo đường đất nước. Người ta nghe nó trong những đêm mưa lạnh giá, người ta hát nó bên những quán cóc ven đường, và người ta rơi nước mắt xót thương cho một chàng sĩ quan chung tình cùng cô giáo trẻ đoan trang nằm lại bên bờ hồ Than Thở.
Tiếng tơ đồng của nhân gian đã thực sự neo giữ linh hồn Vũ Minh Tâm lại với cõi đời. Oán niệm của chàng không còn là thứ tà khí hủy diệt, mà hóa thành một biểu tượng bất tử của sự thủy chung son sắt.
Nhưng ngọn đồi thông bên bờ hồ vẫn hoang vắng, lạnh lẽo suốt những năm tháng chiến tranh và tao loạn sau đó. Nấm mộ của Thảo dần mòn theo năm tháng, nấm mộ rỗng của Tâm bị cỏ dại bao phủ gai góc, dãi dầu mưa nắng hơn bốn mươi năm ròng rã trong nỗi cô đơn quạnh quẽ.
Giai điệu bi tráng ấy vẫn âm thầm bay xa, vượt qua dặm dài năm tháng, nương theo những làn sóng phát thanh và những cuốn băng cassette rè rè, để rồi một ngày kia, nó đánh động vào sâu thẳm cõi lòng của một người đàn bà lam lũ tận miền quê xa xôi ngoài đất Bắc, gieo vào tâm can bà một mối duyên nợ kỳ lạ chưa từng có tiền lệ ở chốn dương gian.