Đồi Thông Hai Mộ - Chương 22: Tiếng Thông Reo Như Tiếng Khóc

Bốn mươi mốt năm trôi qua trên đồi thông hồ Than Thở bằng những chuỗi ngày dài dằng dặc của sương muối và gió lạnh. Chiến tranh đi qua mảnh đất cao…

Nội dung chương

Bốn mươi mốt năm trôi qua trên đồi thông hồ Than Thở bằng những chuỗi ngày dài dằng dặc của sương muối và gió lạnh.

Chiến tranh đi qua mảnh đất cao nguyên, cuốn theo bao phận người chìm nổi, để lại trên mặt đất những vết thương sâu hoắm của thời cuộc. Phố núi Đà Lạt từng bước thay da đổi thịt, những con đường đất đỏ gập ghềnh năm xưa dần được trải đá, khách thập phương bắt đầu tìm về ngọn đồi ven hồ nhiều hơn theo những lời truyền tụng từ bản tình ca nức tiếng. Nhưng đối với hai nấm mồ nằm cô quạnh dưới bóng thông già, thời gian chỉ đem lại sự hoang phế và lạnh lẽo.

Mộ cô giáo Lê Thị Thảo sau hơn bốn thập kỷ dầm mưa dãi nắng đã phủ kín rêu xanh. Cây thánh giá bằng gỗ mun năm nào bị mối mọt gặm nhấm, chân cọc lung lay chực ngã sau những cơn dông đầu mùa. Nấm đất bên cạnh chàng sĩ quan Võ bị Vũ Minh Tâm còn thảm hại hơn gấp bội. Kể từ ngày thân xác chàng bị gia đình bốc dời về lại vùng đất Gò Công xa xôi, hố huyệt rỗng tuếch chỉ được lấp vội bằng mấy xẻng đất vụn và đá dăm. Cỏ may, gai mắc cỡ cùng rễ thông bò ngang dọc ken dày trên mặt đất, biến nơi đây thành một nấm mộ gió sụt lún, trơ trọi và thê lương đến rợn người.

Vong linh Vũ Minh Tâm vẫn mắc kẹt tại nơi này.

Nửa phần hồn theo xương tủy bị giam cầm dưới những tầng đất phù sa nặng trĩu của miền Tây Nam Bộ, còn nửa phần hồn gắn chặt với lời thề nguyện son sắt vẫn lang thang nơi triền dốc hồ Than Thở. Bốn mươi mốt năm, chàng chứng kiến vô số bước chân người trần qua lại. Có những kẻ tò mò ghé mắt nhìn rồi buông vài câu bông đùa cợt nhả, có những đôi tình nhân tìm đến chụp ảnh kỷ niệm rồi vứt lại tàn thuốc lá cùng vỏ chai rỗng trên mặt cỏ. Thỉnh thoảng, vài người buôn bán quanh bờ hồ cắm vội một nén nhang cầu may xin số đề, làn khói mỏng manh vừa bốc lên đã bị gió cao nguyên xé toạc, lạnh tanh và hờ hững.

Không một ai thực lòng nhỏ lệ cho nỗi đau của hai kẻ thác oan. Linh hồn chàng co ro dưới đáy huyệt rỗng, gặm nhấm sự buốt giá từ lòng đất đá ăn sâu vào từng sợi oán niệm.

Cho đến một buổi sáng mùa thu năm 1997.

Màn sương trắng đục từ mặt hồ Than Thở bốc lên bảng lảng, phủ một lớp hơi ẩm mỏng dính lên từng nhành thông ba lá. Dưới chân dốc, một bóng người chậm rãi bước lên đồi.

Đó là một người phụ nữ trạc tuổi ngũ tuần, vóc dáng nhỏ nhắn và gầy gò, khoác trên mình chiếc áo bà ba màu nâu sồng đã bạc màu ở hai bên vai. Đôi dép nhựa mòn vẹt gót khẽ giẫm lên thảm lá thông khô mục, phát ra những tiếng lạo xạo đều đặn. Chiếc nón lá cũ kỹ đội lệch sang một bên để lộ gương mặt sạm đen vì sương gió, hằn sâu những nếp nhăn lam lũ của người cả đời gắn bó với ruộng đồng châu thổ sông Hồng. Người phụ nữ ấy tên là Ngô Thị Hiền, rời quê hương miền Bắc xa xôi vào phương Nam mưu sinh, tìm đến vùng đất lạnh này giữa những năm tháng cuộc đời còn đầy rẫy long đong.

Bà Hiền xách theo một chiếc giỏ tre đan mộc mạc, bên trong chỉ có một bó nhang trầm cuộn giấy báo, mấy quả cam sành vỏ dày và một chiếc kéo cắt cành đã gỉ sét.

Khi bước lên đến đỉnh dốc thoai thoải, nơi hai ngôi mộ nằm song song dưới tán cây cổ thụ, bước chân của người đàn bà bỗng khựng lại. Bà đứng lặng bên mép đồi, đôi mắt đen sâu thẳm nhìn trân trân vào hai nấm đất hoang tàn. Gió từ lòng hồ thổi hắt lên mang theo hơi lạnh buốt giá, khiến tà áo nâu của bà bay phần phật, nhưng bà dường như quên cả cái rét đang ngấm qua lớp vải mỏng.

Bà bước lại gần nấm mộ có cây thánh giá mục ruỗng. Nhìn lớp rêu xanh bám chặt trên thân gỗ, nhìn những bụi cây dại mọc lút cả tấm bia đá nhỏ khắc tên người thiếu nữ vắn số, khóe mắt người đàn bà miền Bắc đỏ hoe. Rồi ánh mắt bà chuyển sang nấm đất bên cạnh.

Hố đất trũng sâu của nấm mộ rỗng gần như chìm nghỉm giữa một vạt gai nhọn hoắt. Đất đá lở loét xung quanh miệng hố trơ ra màu đỏ quạch như vết thương chưa bao giờ khép miệng. Không có một nén hương tàn, không có một bông hoa dại, chỉ có lá thông rụng chất tầng tầng lớp lớp qua năm tháng, mục rữa và bốc lên mùi ngai ngái cô quạnh.

"Trời đất ơi..."

Tiếng than khẽ khàng thốt ra từ bờ môi khô nẻ của bà Hiền. Giọng nói mang âm hưởng mộc mạc, đậm chất trầm ấm của người quê vùng châu thổ Bắc Bộ, rơi vào không gian vắng lặng tựa như một giọt nước ấm nhỏ xuống tảng băng ngàn năm.

Người phụ nữ đặt chiếc giỏ tre sang một bên phiến đá. Bà quỳ thụp hai đầu gối xuống lớp đất đỏ pha sỏi cứng, mặc cho đá nhọn đâm qua lớp quần vải thô rát buốt. Đôi bàn tay chai sần, thô ráp vươn ra chạm vào bờ đất mép mộ chàng sĩ quan.

Từ đáy sâu của nấm mộ gió, linh hồn Vũ Minh Tâm chấn động dữ dội.

Bốn mươi mốt năm qua, chàng chỉ quen với sự ghẻ lạnh của người đời hoặc sự khiếp đảm của những phu rừng khi nhìn thấy bóng ma chàng lẩn khuất trong đêm sương. Chưa từng có bàn tay nào chạm vào nấm mồ rỗng này bằng sự âu yếm và xót xa đến thế. Hơi ấm từ da thịt của người đàn bà trần gian truyền qua lớp sỏi đá lạnh ngắt, chạy dọc vào cõi âm u mờ mịt của chàng.

Hai giọt nước mắt nóng hổi rơi từ gò má sạm đen của bà Hiền, thấm sâu xuống mặt đất khô khốc ngay trước mặt chàng.

"Khổ thân hai đứa quá..." Bà nghẹn ngào, bàn tay run rẩy sờ nắn từng mẩu đất vụn quanh nấm mộ chàng trai. "Người ta đồn thổi bài ca hay khắp nơi, mà sao để các con nằm trơ trọi giữa rừng hoang lạnh lẽo thế này? Nửa bước chẳng rời mà nghìn trùng cách biệt, thân xác đứa dưới quê xa, đứa nằm đây một mình chịu rét..."

Bà Hiền không nói với tư cách của một kẻ lữ khách hiếu kỳ đến xem cảnh lạ. Bà khóc bằng nỗi đau quặn thắt của một người mẹ khi nhìn thấy những đứa con trạc tuổi con mình phải chịu cảnh chia lìa, chết trẻ mà linh hồn bơ vơ giữa chốn không người.

Không chần chừ thêm một khắc nào, người phụ nữ bắt đầu xắn hai ống tay áo lên cao.

Bà không dùng gậy, cũng chẳng mượn công cụ gì to tát ngoài chiếc kéo nhỏ và đôi bàn tay trần. Bà cúi rạp người, bấu những ngón tay gầy guộc vào gốc những bụi cỏ may mọc rậm rạp trên nấm mồ cô Thảo. Rễ cỏ ăn sâu vào lòng đất đỏ, bà phải nghiến chặt răng, dồn hết sức kéo từng chùm rễ bật gốc lên. Gai mắc cỡ cào xước mu bàn tay bà, những vệt máu rỉ ra hòa cùng bụi đất đỏ quạch, nhưng người đàn bà vẫn cắm cúi làm, dọn dẹp từng tấc đất quanh chân cây thánh giá.

Dọn xong phần mộ của người con gái, bà quay sang nấm mộ rỗng của Vũ Minh Tâm.

Chỗ này cỏ dại ken đặc hơn, những cành thông mục gãy đổ nằm ngổn ngang, chắn ngang miệng hố sụt. Bà Hiền dùng hai tay bốc từng lớp lá thông khô rữa nát ném ra xa. Bụi bặm bám đầy mặt mũi, mồ hôi túa ra ướt đẫm trán, lăn dài trên những rãnh nhăn sâu hoắm rồi rơi xuống đất. Khi nhổ đến một gốc gai gai mọc chòi ngay chính giữa nấm đất chàng nằm, một chiếc gai dài cắm phập vào ngón tay trỏ của bà.

Bà xuýt xoa một tiếng, rút chiếc gai ra, tiện tay quẹt vệt máu vào vạt áo nâu rồi lại tiếp tục cặm cụi nhổ sạch những nhánh rễ còn sót lại.

Dưới tầng đất sâu, linh hồn Vũ Minh Tâm quỳ sụp xuống. Nỗi oán hận tích tụ qua bốn thập kỷ vì bị đào xới xương thịt, bị chia lìa khỏi người yêu bỗng chốc tan rã thành muôn vàn mảnh vụn trước tấm lòng trần thế thuần hậu ấy. Chàng vươn đôi bàn tay trong suốt của cõi âm, run rẩy đón lấy từng giọt mồ hôi và vệt máu của người phụ nữ xa lạ. Một luồng sinh khí ấm áp chưa từng có tràn ngập khắp hố huyệt rỗng tuếch, xua tan đi phần nào mùi tử khí tanh nồng đã ám chặt lấy nơi này từ bấy lâu nay.

Trời dần chuyển về trưa. Nắng cao nguyên bắt đầu xuyên qua những tán thông rậm rạp, chiếu xuống hai nấm mồ những vạt sáng vàng óng ả. Gió bỗng nhiên ngừng bặt. Mặt hồ Than Thở phía xa phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ bằng chì, không một gợn sóng tăm le.

Cả ngọn đồi thông chìm vào sự tĩnh lặng tuyệt đối giữa cơn đứng gió lạ thường.

Bà Hiền đứng dậy, dùng vạt áo lau mồ hôi trán, ngắm nhìn hai nấm mộ vừa được dọn dẹp sạch sẽ, tinh tươm. Hai vạt cỏ dại đã biến mất, mặt đất đỏ được vun lại tròn trịa, ngay ngắn. Bà lấy bó nhang trầm ra, châm lửa đốt. Mùi trầm hương thơm ngát tỏa ra, quấn quýt quanh hai nấm đất. Bà cắm ba nén nhang lên mộ cô Thảo, rồi cẩn thận bước sang cắm ba nén nhang ngay chính giữa nấm mộ gió của chàng sĩ quan.

Đúng vào thời điểm ba nén nhang vừa cắm ngập vào lòng đất mềm, một hiện tượng kỳ lạ bất thần xảy ra.

Giữa khoảng không gian đang lặng tờ không một ngọn gió lay, một cơn lốc xoáy nhỏ cỡ vòng tay ôm từ dưới chân đồi bỗng nhiên cuộn tròn bốc lên. Cơn lốc không hề làm tung tóe bụi đất, mà nhẹ nhàng lướt qua mặt cỏ xanh rì cạnh mộ cô Thảo.

Gió lốc cuốn theo hàng chục cánh hoa dại màu tím nhạt mọc ven chân thánh giá, những cánh hoa thạch thảo mỏng manh bừng sáng dưới ánh nắng trưa. Vòng xoáy hoa tím ấy không bay tản mạn, mà từ từ di chuyển về phía bà Hiền.

Bà Hiền giật mình toan lùi lại, nhưng luồng gió nhẹ êm ái đến mức khiến bà đứng chôn chân tại chỗ. Cơn gió xoáy cuốn quanh vạt áo bà ba màu nâu của người đàn bà ba vòng tròn hoàn hảo, mang theo hương thơm ngát của hoa rừng quyện lẫn mùi trầm hương ngan ngát. Từng cánh hoa tím áp sát vào lớp vải thô bạc màu, như một sự quấn quýt, ôm ấp đầy biết ơn của người cõi khuất dành cho người cõi dương.

Sau khi ôm trọn lấy vạt áo bà Hiền, cơn gió khẽ hạ mình xuống, nghiêng qua bờ đất của nấm mộ rỗng.

Toàn bộ những cánh hoa dại màu tím nhạt nhẹ nhàng rụng xuống, phủ kín lên lớp đất mới vun của Vũ Minh Tâm. Chúng xếp ngay ngắn quanh ba chân nhang đang đỏ lửa, tươi tắn và vẹn nguyên như vừa được hái từ cành.

Cơn gió tan biến vào hư không, trả lại vẻ tĩnh mịch cho buổi trưa đứng bóng.

Bà Hiền đứng trân trân nhìn những cánh hoa tím nằm bình yên trên nấm mộ gió, toàn thân run rẩy vì kinh ngạc. Một luồng điện ấm áp chạy dọc từ đỉnh đầu xuống gót chân bà, xóa tan mọi mệt mỏi sau hàng giờ lao động cật lực. Người đàn bà miền Bắc vốn chất phác, cả đời tin vào đạo lý làm người và sự thiêng liêng của thế giới tâm linh, nay tận mắt chứng kiến điều huyền diệu ấy, cõi lòng bà bỗng ngộ ra mối tơ duyên sâu nặng giữa mình và ngọn đồi này.

Hai linh hồn trẻ tuổi kia không hề tan biến. Họ vẫn ở đây, vẫn thấu suốt từng hành động, từng ý nghĩ của bà.

Bà Hiền quỳ sụp xuống một lần nữa trước hai ngôi mộ, hai tay chắp lại trước ngực, hướng về phía chân hương nghi ngút khói mà dập đầu ba lạy sát đất.

"Cô Thảo ơi, cậu Tâm ơi..." Giọng bà run run nhưng từng lời từng chữ lại rành rọt, vang vọng giữa đồi vắng. "Tôi từ đất Bắc nghèo khó vào đây, chẳng có tiền rừng bạc bể, cũng chẳng có danh phận chi. Nhưng tôi thương cái nghĩa vợ chồng trắc trở của hai đứa, thương hai đứa chết trẻ mà phải chịu cảnh chia lìa cô quạnh."

Bà dừng lại hít một hơi sâu, đôi mắt rực lên niềm kiên định lạ thường:

"Hôm nay trước trời đất và nấm mồ hai đứa, tôi xin phát nguyện từ tận đáy lòng mình. Ngày nào tôi còn ở xứ sương mù này, ngày nào đôi chân này còn bước nổi lên dốc đồi Than Thở, tôi sẽ tự tay quét dọn, nhổ cỏ, cắm hoa, thắp nhang cho hai cô cậu. Tôi thề không bao giờ nhận lấy một đồng tiền công, không màng một lời khen ngợi của người đời. Tôi chỉ mong hai đứa bớt lạnh lẽo, mong cho vong linh được an ủi, sớm tiêu tan mọi oán kết hận thù để ngày sau sum vầy trọn vẹn..."

Lời thề nguyện mộc mạc ấy vang lên giữa ngàn thông, như một bản giao ước vô hình khắc sâu vào cõi âm dương mờ ảo.

Không gian xung quanh dường như ấm hẳn lại. Mùi trầm hương bốc lên cuồn cuộn, quyện chặt lấy mùi hoa dại tím biếc trên nấm mộ rỗng của Vũ Minh Tâm. Dưới lòng đất sâu, linh hồn chàng sĩ quan chắp tay cúi lạy người phụ nữ trần gian. Nỗi đau xé đôi thân xác và linh hồn suốt bốn mươi mốt năm qua lần đầu tiên tìm thấy một chiếc cầu nối tâm linh vững chắc.

Bà Hiền đứng dậy, thu dọn liềm kéo cất vào giỏ tre, cúi chào hai ngôi mộ một lần nữa rồi chậm rãi cất bước xuống đồi.

Bóng người đàn bà gầy gò khuất dần sau khúc quanh dẫn ra trục đường Quang Trung, để lại ngọn đồi thông trong làn khói nhang ấm áp chưa từng thấy suốt mấy mươi năm. Nhưng lời nguyện ước vừa thốt ra giữa trưa đứng gió không chỉ dừng lại ở sự chở che nhang khói. Nó khơi thông dòng chảy của những oan khiên bị đè nén bấy lâu, mở đường cho những uẩn ức sâu kín nhất của linh hồn chàng trai trôi dạt vào tận giấc ngủ chập chờn của người đàn bà trong căn nhà trọ lạnh lẽo khi màn đêm buông xuống.

Chương khác

Xem thêm