Dưới Đáy Hố Ga - Chương 21: "Chòi Rách Ven Kênh Nước Đen"
Chiều ngày 5, Trí xếp lại những manh mối mình có. Nào là bản vẽ hoàn công với vòng tròn đỏ quanh hố ga H-07, nào là tin đồn về máy đào trúng mộ đất, nào…
Nội dung chương
Chiều ngày 5, Trí xếp lại những manh mối mình có. Nào là bản vẽ hoàn công với vòng tròn đỏ quanh hố ga H-07, nào là tin đồn về máy đào trúng mộ đất, nào là câu nói của anh Hùng về những biên bản hiện trường bị rút mất. Mọi con đường đều dẫn về một điểm: khu nghĩa trang cũ Bình Hưng Hòa, nơi tuyến cống hộp đi xuyên qua mười lăm năm trước. Muốn biết chuyện gì đã xảy ra ở đó, anh phải tìm người từng sống, từng làm việc ở đó. Hồ sơ giấy tờ có thể bị rút, nhưng ký ức của con người thì không dễ xóa như vậy.
Anh nhớ lại lời người quen làm địa chính: khu đó trước giải tỏa là nghĩa trang, có tin đồn lúc san lấp đã "làm ẩu". Người nào sẽ nhớ rõ nhất chuyện của một bãi tha ma? Không phải cán bộ địa chính ngồi phòng máy lạnh, mà là những người phu đào huyệt, những người bốc mộ, những người sống bằng nghề đưa người chết về nơi an nghỉ cuối cùng.
Trí chạy xe dọc theo con kênh nước đen chảy song song với đường Mã Lò. Con kênh này là nhánh tiêu thoát cũ của cả khu, nước đen ngòm, đặc quánh như nhớt, mùi hôi bốc lên nồng nặc trong nắng chiều. Thỉnh thoảng mặt nước lại sủi lên mấy cái bong bóng khí lớn, vỡ ra với mùi tanh lợm giọng. Hai bên bờ kênh là những căn chòi tạm bợ, lụp xụp, mái tôn rỉ sét, vách ván mục nát, nơi những người lao động nghèo nhất của thành phố trú ngụ. Có chòi nuôi mấy con gà, có chòi phơi quần áo bay phấp phới, có chòi chỉ là bốn cây cột với tấm bạt rách che nắng. Cuộc sống ở đây trôi đi chậm chạp, tách biệt hẳn với những căn nhà phố khang trang chỉ cách đó vài trăm mét.
Anh dừng xe trước một quán nước vỉa hè, gọi ly cà phê đá, rồi hỏi bà chủ quán bằng giọng thân tình. Bà chủ quán nhìn anh từ đầu đến chân, thấy bộ đồ lao động lấm lem và cái túi đồ nghề thì bớt đề phòng, chỉ tay về phía cuối đường đất:
- Chú hỏi ông Sáu Bốc Mộ phải không? Ổng ở cái chòi cuối kia kìa, cái chòi lợp tôn rách đó. Hồi xưa ổng làm nghề bốc mộ ở nghĩa trang Bình Hưng Hòa, giờ già rồi, sống một mình, ai đến cũng đuổi. Chú cẩn thận, ổng khó tính lắm.
- Dạ em cảm ơn chị. Em chỉ hỏi thăm chút chuyện thôi.
Trí trả tiền cà phê, chạy xe đến cuối con đường đất. Cái chòi hiện ra trước mặt anh, còn xơ xác hơn cả lời bà chủ quán tả. Bốn cây cột gỗ mục nghiêng ngả, mái tôn rách lỗ chỗ để lộ cả khung xương, vách thưng bằng những tấm ván ghép tạm bợ, có tấm còn in dòng chữ quảng cáo cũ đã phai màu. Trước chòi là một khoảng sân đất nhỏ, có bếp than tổ ong đang cháy dở, trên bếp là ấm nước đen xì. Góc sân dựng một cái xẻng cán dài đã mòn vẹt, cạnh đó là bó nhang và mấy tờ giấy tiền vàng mã cũ. Một ông già đang ngồi trên chiếc ghế nhựa thấp, tay cầm điếu thuốc rê, mắt nhìn đăm đăm ra mặt kênh đen.
Ông già khoảng gần bảy mươi, người gầy nhom, da đen sạm vì nắng, mái tóc bạc phơ rối bù. Đôi bàn tay ông to bè, chai sần, những ngón tay cong queo như rễ cây, bàn tay của người đã đào không biết bao nhiêu huyệt mộ trong đời. Trí dựng xe, bước lại gần, chưa kịp mở miệng thì ông già đã quát:
- Ai đó? Đến đây làm gì?
Giọng ông khàn đặc, đầy vẻ đề phòng. Trí giơ hai tay lên tỏ ý không có ác ý, cười hòa nhã:
- Dạ con chào bác. Con là Trí, làm nghề thông cống. Con đến hỏi thăm bác chút chuyện, không có ý gì xấu.
- Thông cống? Ông già nheo mắt nhìn anh, rồi nhìn cái túi đồ nghề. Thông cống thì đi chỗ khác. Ở đây không có cống cho chú thông.
- Dạ, con không đến làm nghề. Con đến hỏi bác về chuyện nghĩa trang Bình Hưng Hòa hồi xưa. Con nghe nói bác từng làm phu đào huyệt ở đó.
Nghe đến bốn chữ "nghĩa trang Bình Hưng Hòa", mặt ông già sầm lại. Ông đứng bật dậy, tay chỉ thẳng ra đường:
- Đi đi! Tao không biết gì hết! Mấy người chủ đầu tư các người, hết đời này đến đời khác đến đây hỏi han, rồi đòi đất, rồi đuổi người nghèo đi. Tao nói cho chú biết, cái chòi này là của tao, đất này là đất công, ai đuổi được thì đuổi!
Trí sững người, rồi hiểu ra. Ông già tưởng anh là người của chủ đầu tư đến đòi đất. Anh vội rút trong ví ra tấm thẻ nghề của mình, tấm thẻ "Dịch vụ Thông tắc cống và Nội soi đường ống ngầm" có dán ảnh và đóng dấu, giơ ra trước mặt ông già.
- Bác ơi, bác nhìn kỹ đi. Con là thợ thông cống thiệt mà, không phải người của chủ đầu tư nào hết. Con đến vì chuyện nghề nghiệp của con, nó dính đến cái nghĩa trang cũ. Bác cho con ngồi lại một chút được không?
Ông già cầm tấm thẻ, nheo mắt đọc từng chữ, rồi nhìn mặt Trí, rồi lại nhìn tấm thẻ. Một lúc lâu, ông mới hừ một tiếng, ngồi phịch xuống ghế, hất cằm về phía chiếc ghế nhựa còn lại.
- Ngồi đi. Nói nhanh, tao còn nấu cơm.
Trí mừng rỡ ngồi xuống. Ông già rót cho anh một ly nước trà đặc quánh, mùi chát xít, màu nước đỏ sậm như nước kênh. Anh nhấp một ngụm, đắng chát cả lưỡi, nhưng vẫn cố nuốt xuống. Qua khung cửa chòi mở hé, anh liếc thấy bên trong có một bàn thờ nhỏ đơn sơ, trên đó là bát nhang đã tàn lạnh và mấy tờ giấy tiền vàng mã chưa đốt. Điều khiến anh chú ý là trên bàn thờ không có di ảnh, không có bài vị ghi tên ai. Một bàn thờ không tên, thờ những vong linh không tên. Sống bằng nghề bốc mộ cả đời, có lẽ ông già thờ chính những người mà ông từng đưa tiễn.
Ông Sáu nhìn theo ánh mắt anh, hừ một tiếng:
- Nhìn gì? Bàn thờ của mấy người không tên không tuổi đó. Tao bốc mộ cho người ta cả đời, có những ngôi mộ vô thừa nhận, không ai cúng, tao cúng giùm. Chú uống trà đi, đừng có nhìn ngó lung tung.
Trí vội thu ánh mắt về, vào thẳng vấn đề, giọng cẩn trọng:
- Bác Sáu, con hỏi thiệt. Hồi mười lăm năm trước, lúc người ta làm đường và cống hộp Mã Lò, san lấp cái nghĩa trang cũ, bác có còn làm ở đó không?
Ông già đang đưa điếu thuốc lên miệng thì khựng lại. Điếu thuốc run run trên tay ông. Ông nhìn Trí rất lâu, ánh mắt từ đề phòng chuyển sang trĩu nặng, như một cái giếng cũ không thấy đáy.
- Chú hỏi chuyện đó làm gì?
- Con đang xử lý một ca sự cố ở nhà một gia chủ, đất nhà ổng nằm trên nền nghĩa trang cũ. Con vớt được trong đường ống một món đồ... một món đồ của con nít, cũ lắm, phải hai mươi năm. Con nghi nó dính đến mấy ngôi mộ hồi xưa không được di dời đàng hoàng.
Ông Sáu không trả lời. Ông rít một hơi thuốc dài, nhả khói mù mịt, mắt nhìn đăm đăm ra mặt kênh đen ngòm trước mặt. Mặt nước phẳng lặng như tờ, phản chiếu bầu trời chiều xám xịt, thỉnh thoảng nổi lên một cái bong bóng khí với mùi hôi thối. Gió từ kênh thổi vào mang theo mùi bùn đen, mùi của những thứ đã phân hủy từ lâu.
- Bác Sáu? Trí gọi khẽ.
Ông già vẫn im lặng. Điếu thuốc trên tay ông cháy gần hết, tàn thuốc rơi lả tả xuống nền đất mà ông không hay. Trí không dám hối, chỉ ngồi yên chờ. Anh có cảm giác mình đang đứng trước một cánh cửa đã đóng kín mười lăm năm, và người đàn ông trước mặt là người duy nhất giữ chìa khóa.
Một lúc lâu sau, ông Sáu mới lên tiếng, giọng khàn đi:
- Chú về đi. Chuyện đó, tao không nói được.
- Bác ơi, con không phải công an, cũng không phải nhà báo. Con chỉ là thằng thợ cống đang vướng vào chuyện mà con không hiểu nổi. Bác giúp con, coi như bác giúp một người thợ nghèo như bác hồi xưa.
Ông Sáu nhìn anh, ánh mắt phức tạp. Ông dụi điếu thuốc xuống nền đất, đứng dậy đi vào trong chòi, để mặc Trí ngồi ngoài sân. Trí thở dài, định đứng dậy ra về thì ông già lại bước ra, trên tay là một cái nón lá rách, đội lên đầu.
- Trời sắp tối rồi, chú về đi. Đường kênh này tối nguy hiểm lắm.
Đó là lời đuổi khéo, nhưng giọng ông đã mềm đi nhiều, không còn gai góc như lúc đầu. Trí đứng dậy, cúi đầu chào lễ phép:
- Dạ con cảm ơn bác đã cho con ngồi lại. Mai con quay lại, bác đừng đuổi con nha bác.
Ông Sáu không trả lời, chỉ quay mặt ra kênh. Trí dắt xe ra về, nhưng đi được một đoạn ngắn, anh ngoảnh lại nhìn. Ông già vẫn đứng đó, bóng lưng gầy guộc in trên nền trời chiều đỏ rực, bất động như một pho tượng đá bên bờ kênh đen.
Chạy xe về nhà, Trí nghĩ mãi về ánh mắt của ông già khi nghe đến bốn chữ "nghĩa trang Bình Hưng Hòa". Đó không phải ánh mắt của người không biết gì. Đó là ánh mắt của người biết quá nhiều, nhiều đến mức không dám nói ra, như một cái giếng sâu bị bịt kín miệng nhưng nước bên trong vẫn cuộn sóng. Có những người giữ ký ức như giữ một ngôi mộ, và lão Sáu đã giữ ngôi mộ ấy suốt mười lăm năm.