DUYÊN ÂM BÊN HỒ TÂY - Chương 19: Người bạn gái ven hồ

Tối hôm ấy, cơm nước xong, Thư bưng một ấm trà gừng vào buồng của bà ngoại. Bà Sen đang ngồi trên giường, lưng dựa vào chồng gối, trên đùi là chiếc đài…

Nội dung chương

Tối hôm ấy, cơm nước xong, Thư bưng một ấm trà gừng vào buồng của bà ngoại.

Bà Sen đang ngồi trên giường, lưng dựa vào chồng gối, trên đùi là chiếc đài nhỏ đang phát cải lương rất khẽ. Thấy cháu gái vào, bà tắt đài, vỗ vỗ xuống mép giường bảo cô ngồi. Từ ngày lễ đuổi vong, bà vẫn nhìn Thư bằng ánh mắt lo lắng không giấu được, nhất là những buổi sáng thấy mắt cô thâm quầng vì mất ngủ. Nhưng tối nay, chính Thư là người có chuyện muốn hỏi, và cô đã quyết sẽ hỏi thẳng, không vòng vo như mọi lần bà cháu vẫn tránh né chuyện cũ.

- Bà ngoại, cháu hỏi bà một chuyện. Bà đừng giận cháu nhé.

- Mày cứ hỏi. Già từng này tuổi rồi, còn chuyện gì làm bà giận được nữa.

Thư hít một hơi chậm. Cô kể lại vắn tắt buổi gặp sư cô Diệu Tâm ở chùa Vạn Niên chiều nay: câu nói về duyên âm, về người từng thề hẹn từ kiếp trước, và lời dặn hãy hỏi người già nhất trong nhà còn nhớ chuyện ven hồ. Rồi cô nhìn thẳng vào mắt bà.

- Bà, ở làng mình ngày xưa, có ai chờ người yêu là liệt sĩ mà chờ suốt đời không bà? Có ai như thế không?

Căn buồng lặng đi một lúc lâu.

Bà Sen không trả lời ngay. Bàn tay già nua của bà đặt trên đùi khẽ run lên một cái rất nhẹ, rồi bà đưa mắt nhìn ra cửa sổ buồng, phía mặt hồ đã tối hẳn. Thư ngồi yên, không giục. Cô hiểu mình vừa chạm vào một cánh cửa mà bà đã khép suốt mấy chục năm, và cánh cửa ấy chỉ mở được từ phía trong.

- Sao hôm nay mày lại hỏi đúng chuyện này?

Giọng bà khàn đi thấy rõ.

- Vì sư cô bảo cháu hỏi đúng chuyện thì sẽ có người mở lời. Và vì cháu mơ thấy một người lính suốt năm năm nay, bà ạ. Cháu cần biết người lính ấy có thể là ai.

Bà Sen thở dài, một hơi thở dài của người già như dốc hết cả lồng ngực. Bà nói, câu đầu tiên chậm đến mức Thư phải nín thở mới nghe rõ.

- Có. Có một người như thế. Là bạn thân nhất của bà thời trẻ, ở làng Nghi Tàm này. Tên nó là Nguyễn Thị Thanh Nhàn.

Cái tên ấy rơi vào căn buồng yên tĩnh, và Thư thấy hai tay mình lạnh đi. Không phải cơn lạnh ở vai gáy như mọi khi. Đây là cái lạnh chạy dọc sống lưng, lạnh của một sự thật đang từ từ khép vòng quanh đời cô.

Bà Sen kể chậm rãi, từng quãng một, như người lần theo một con đường cũ mà mỗi khúc quanh đều có một người quen đứng đợi.

Nhàn là con gái làng Nghi Tàm, nhà cách nhà bà chỉ một con ngõ nhỏ. Nó hiền, đẹp người đẹp nết, học giỏi nhất đám con gái trong làng ngày ấy, lớn lên làm cô giáo tiểu học, trẻ con quanh vùng đứa nào cũng quý. Tính nó ít nói, đã hứa điều gì thì giữ điều ấy tới cùng, người làng vẫn bảo nó chung tình đến khổ. Bà chơi với nó từ khi nó còn là con bé con theo bà ra bến nước giặt áo, thân nhau như chị em ruột, có chuyện gì trong lòng nó cũng chỉ kể với một mình bà.

Rồi bà kể tới người thanh niên của Nhàn.

- Người yêu nó tên là Đỗ Văn Sơn. Anh bộ đội cùng làng, nhà cũng ở ven hồ này thôi. Anh ấy cao, gầy, ít nói, được cái chữ viết đẹp lắm, cả làng ai cần viết thư viết đơn đều nhờ. Hai đứa thương nhau từ hồi còn đi học, mà thời ấy thương nhau kín đáo, chỉ dám hẹn nhau ở bến nước đầu làng những buổi chiều anh ấy được về phép.

Năm một nghìn chín trăm bảy mươi mốt, trước ngày Sơn vào Nam, hai người chính thức đính ước ngay tại bến nước làng Nghi Tàm. Không mâm cao cỗ đầy gì đâu, thời chiến, chỉ có hai gia đình ngồi lại với nhau và một lời thề nói trước mặt người lớn hai nhà. Sơn tặng Nhàn chiếc vòng bạc của mẹ anh ấy để lại. Nhàn trao cho anh ấy chiếc khăn tay do chính tay nó thêu, trên khăn là hoa sen nó thức nhiều đêm mới thêu xong. Bà Sen nhớ rõ câu thề hôm ấy, vì chính bà là người đứng ngay đó nghe: nếu một người không về thì người còn lại chờ, kiếp sau còn tìm nhau. Lúc nói câu ấy, cả hai đứa đều còn rất trẻ, và cả làng ai cũng tưởng chiến tranh sắp qua, chờ nhau vài năm là cùng.

Thư ngồi nghe, hai bàn tay nắm chặt vào nhau trong lòng. Lời thề ở bến nước. Chiếc vòng bạc. Chiếc khăn thêu hoa sen. Từng chi tiết một như những mảnh ghép rời rạc suốt bao năm nay trong đời cô, trong những giấc mơ, trong chiếc hộp gỗ của bà ngoại mà cô từng thoáng thấy hôm mưa rào cuối hạ, giờ đang tự tìm về đúng chỗ của chúng.

- Thế rồi anh ấy không về, phải không bà?

- Không về.

Giọng bà Sen trầm hẳn xuống. Sơn vào Nam rồi thư từ thưa dần, chiến trường ác liệt, thư nào gửi về được cũng phải qua bao nhiêu chặng. Nhàn chờ thư như chờ người, ngày nào đi dạy về cũng ghé hỏi xem có thư của mình không. Nó vẫn tin vào một lá thư cuối Sơn hứa sẽ gửi trước khi đơn vị hành quân đi xa, một lá thư dặn dò nó đủ điều. Nhưng lá thư ấy không bao giờ tới tay nó. Mãi sau này bà mới nghe người ta nói lại rằng thư đã thất lạc đâu đó trong những ngày chuyển quân hỗn loạn, và Nhàn thì không hề biết có một lá thư như thế đã từng được viết cho mình. Nó chỉ biết chờ, và chờ mãi.

Tháng tư năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai, Sơn hy sinh ở mặt trận Quảng Trị, khi chưa kịp cưới, khi Nhàn mới vừa qua tuổi hai mươi. Giấy báo tử mãi cuối năm ấy mới về tới làng. Bà Sen kể tới đây thì dừng lại rất lâu. Như vẫn còn nhìn thấy buổi chiều người ta mang tờ giấy ấy vào con ngõ nhỏ, và cô bạn gái của bà đứng chết lặng ở bậc cửa. Tay vẫn cầm chiếc vòng bạc người yêu tặng, không khóc thành tiếng được.

- Từ ngày ấy, nó chờ thật, Thư ạ. Chờ suốt cả một đời.

Sau chiến tranh, làng Nghi Tàm có bao nhiêu đám ngỏ lời với Nhàn. Người tử tế có, người khá giả có, có người còn nói không cần nó quên anh Sơn, chỉ cần nó cho người ta một danh phận để nương tựa nhau lúc tuổi già. Nó từ chối hết, nhẹ nhàng mà dứt khoát. Nó đi dạy học, sống lặng lẽ trong căn nhà nhỏ ven hồ, giữ chiếc vòng bạc trong hộp gỗ, thỉnh thoảng lại mang chiếc khăn thêu ra xem. Người làng ban đầu còn nói ra nói vào, sau rồi ai cũng quen, nhắc tới cô giáo Nhàn là nhắc tới người đàn bà chung tình nhất vùng hồ này. Năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, nó mất vì bệnh, mới ngoài bốn mươi tuổi, không chồng, không con. Bà là người lo liệu đám tang cho nó cùng với họ hàng xa, vì người thân ruột thịt của nó chẳng còn ai.

Thư nghe đến đó thì nước mắt đã rơi từ lúc nào. Cô không khóc thành tiếng, chỉ ngồi yên để mặc nước mắt chảy xuống. Trong đầu hiện lên một đời người cô chưa từng gặp mà sao nghe như đời của chính mình ở một kiếp nào xa lắm. Một người con gái chờ đợi ở bến nước này, chờ một người lính không về, chờ cả một lá thư không tới. Chờ cho tới khi tóc bạc và mắt mờ, rồi mất đi trong lặng lẽ.

Bà Sen đưa tay gạt nước mắt cho cháu, bàn tay bà cũng ướt.

- Có một chuyện này, bà chưa từng nói với ai trong nhà, kể cả mẹ mày. Trước khi mất một năm, Nhàn mang sang nhà bà một chiếc hộp gỗ. Trong hộp có mấy thứ của nó và của anh Sơn để lại. Nó dặn bà giữ hộ, và nó nói một câu mà hồi ấy bà nghe không hiểu: sau này có người tới nhận. Bà hỏi người nào, nó chỉ cười, bảo nó cũng không biết, chỉ thấy trong lòng cứ thôi thúc phải dặn thế. Bà giữ hộp ấy từ bấy đến giờ, như giữ một lời hứa với người đã khuất.

- Bà, Thư khẽ hỏi, suốt thời gian qua cháu kể chuyện mơ thấy người lính, sao bà không nghĩ tới chuyện này ạ? Cháu không trách bà đâu, cháu chỉ muốn hiểu.

Bà Sen lắc đầu, mắt nhìn xuống đôi bàn tay nhăn nheo của mình.

- Bà có nghe mày kể, nghe mà lạnh cả người, nhưng bà không dám nối hai chuyện ấy vào nhau. Với bà, Nhàn là người bạn đã mất ba mươi năm, là chuyện của một đời người đã khép lại rồi. Còn mày là cháu bà, đang sống sờ sờ đây, bà chỉ nghĩ mày nặng vía, mày yếu bóng vía nên hay mơ hay lạnh. Chuyện người sống đi nối với người chết của kiếp trước, bà chưa từng dám nghĩ tới, nghĩ tới là bà sợ mình có lỗi với cả hai bên. Phải tới hôm nay mày hỏi đúng vào chuyện người lính chết trận năm bảy mươi hai, bà mới thấy không trốn được nữa.

Thư gật đầu. Cô hiểu. Suốt truyện đời cô, không ai nói dối cô điều gì, cũng không ai giấu cô điều gì một cách ác ý. Chỉ là mỗi người giữ một mảnh sự thật trong tay, và các mảnh ấy chưa từng được đặt cạnh nhau, cho tới tối nay.

Cô ngồi thêm một lúc lâu bên giường bà ngoại, nghe bà kể thêm những chuyện nhỏ nhặt về Nhàn: giọng nói của cô giáo làng, cách cô buộc tóc, thói quen đứng ở bến nước mỗi chiều nhìn ra mặt hồ. Người lính trong mơ của cô, từ tối nay, không còn là một cái bóng không mặt nữa. Anh đã có họ tên, có quê quán, có một đời người thật đã sống và đã chết ở chính vùng hồ này: Đỗ Văn Sơn, sinh năm 1948, hy sinh năm 1972 ở Quảng Trị.

Ngoài kia, tiếng hồ vỗ bờ rất khẽ trong đêm. Thư vừa định đứng dậy về phòng thì bà Sen giữ tay cô lại.

Bà chậm rãi chống tay đứng lên, đi tới góc buồng, lấy ra chùm chìa khóa cũ đã giữ bên mình bao nhiêu năm. Bà nhìn cháu gái, giọng dứt khoát lạ thường.

- Ngồi đây. Bà lấy cái hộp ấy cho mày xem. Bà giữ nó ba mươi mốt năm rồi.

Chương khác

Xem thêm