DUYÊN ÂM BÊN HỒ TÂY - Chương 24: Chân dung người lính
Ngày hai mươi lăm tháng mười, Thư quay lại cơ quan lưu trữ để nhận trích lục hồ sơ. Lần này cô không phải chờ lâu. Người cán bộ đã tiếp cô hôm trước nhận…
Nội dung chương
Ngày hai mươi lăm tháng mười, Thư quay lại cơ quan lưu trữ để nhận trích lục hồ sơ.
Lần này cô không phải chờ lâu. Người cán bộ đã tiếp cô hôm trước nhận ra cô ngay khi cô vừa bước vào phòng, gật đầu chào, rồi lấy từ ngăn tủ một tập hồ sơ mỏng đã kẹp sẵn biên nhận của cô ở ngoài. Bà đặt tập hồ sơ lên bàn, giữa hai người, và nói phần trích lục lý lịch đã có đủ, còn phần lá thư thì cơ quan vẫn đang đối chiếu tài liệu lưu kèm, khi nào xong sẽ có thông báo riêng để cô tới nhận.
Thư mở tập hồ sơ bằng hai tay.
Trang đầu tiên là bản trích lục lý lịch, những dòng chữ đánh máy ngay ngắn mà cô đã nghe đọc hôm trước, nay nằm trên giấy trắng mực đen để cô cầm về. Đỗ Văn Sơn. Sinh năm 1948. Quê quán làng Nghi Tàm. Nhập ngũ năm 1970. Hy sinh tháng tư năm 1972 tại mặt trận Quảng Trị. Cô đọc đi đọc lại mấy dòng ấy, dù đã thuộc lòng. Nhưng thứ làm cô nín thở nằm ở trang thứ hai.
Đó là một tấm ảnh chân dung đen trắng, được sao lại từ ảnh gốc trong hồ sơ.
Tấm ảnh chụp một thanh niên rất trẻ, mặc quân phục, tóc cắt ngắn, gương mặt gầy với xương gò má hơi cao, đôi mắt sáng và hiền, nhìn thẳng vào ống kính với vẻ nghiêm trang của một người lính mới chụp ảnh trước ngày lên đường. Đây là lần đầu tiên Thư nhìn rõ gương mặt của Đỗ Văn Sơn. Trong những giấc mơ của cô, anh chưa bao giờ cho cô thấy rõ mặt. Lần đầu tiên, năm cô mười tám tuổi, chỉ là một bóng người mờ bên mép giường. Lần thứ hai, một bóng lưng ở bến nước. Lần thứ ba, ở nghĩa trang đầy sương, anh vẫn đứng rất xa và quay lưng lại. Vậy mà giờ đây, trên tờ giấy trích lục của một cơ quan nhà nước, gương mặt ấy nhìn cô rõ ràng tới từng đường nét.
Cô đưa tay chạm nhẹ lên mép tấm ảnh sao. Giấy lạnh và phẳng, không có gì khác thường. Nhưng trong lòng cô, một cảm giác quen thuộc kỳ lạ dâng lên, không phải cảm giác đã từng nhìn thấy gương mặt này, mà là cảm giác gương mặt này thuộc về bóng dáng đã đi cùng cô suốt mười năm qua. Vóc người gầy ấy. Dáng đứng thẳng ấy. Cái cách anh nghiêm trang và lặng lẽ ấy. Cô không giải thích được cho mình bằng lời. Cô chỉ biết, nếu bây giờ có ai hỏi cô người trong ảnh có phải người trong mơ của cô không, cô sẽ gật đầu mà không cần suy nghĩ.
Người cán bộ ngồi đối diện quan sát cô một lúc, rồi nói thêm mấy điều không có trong tờ trích lục.
- Hồ sơ ghi rõ, liệt sĩ Sơn hy sinh trong một trận đánh vào tháng tư năm 1972. Sau này, thi hài anh ấy được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Trị. Giấy báo tử được gửi về làng Nghi Tàm vào cuối năm 1972, cháu ạ.
Thư ngẩng lên.
- Người nhận giấy báo tử ngày đó là ai ạ?
- Là mẹ của liệt sĩ. Khi ấy gia đình anh ấy chỉ còn một người mẹ già ở làng. Bà nhận giấy báo tử, rồi sống một mình ở làng thêm mấy năm. Hồ sơ có ghi chú, bà mất năm 1978. Từ đó về sau, hồ sơ của liệt sĩ Sơn không còn ai tới hỏi nữa. Cho tới hôm cháu tới đây.
Căn phòng im lặng một lúc. Ngoài sân, cây bàng rụng một chiếc lá khô, nghe rõ tiếng chạm xuống nền gạch. Thư nghĩ tới mẹ của Sơn ở làng Nghi Tàm. Bà nhận tờ giấy báo tử của con trai duy nhất vào cuối năm 1972, sống thêm sáu năm nữa trong căn nhà không còn ai, rồi mất đi. Bà không bao giờ biết con trai mình còn để lại một lá thư viết trước ngày hy sinh một tháng. Bà cũng không bao giờ biết, ở ngay cùng làng, có một cô gái đã chờ con trai bà tới tận cuối đời mình. Bà càng không biết câu chuyện của hai người trẻ ấy còn kéo dài thêm hơn nửa thế kỷ nữa. Nó kéo dài tới tận một buổi sáng tháng mười năm 2025, trong căn phòng lưu trữ này.
Người cán bộ nói tiếp, giọng bà chậm lại.
- Năm đó, rất nhiều lá thư của bộ đội bị thất lạc, cháu ạ. Đơn vị chuyển quân liên tục, hành quân gấp, thư từ gửi đi rồi không tới, gửi về rồi không còn ai nhận. Hồ sơ nào còn giữ được một lá thư nguyên vẹn như của liệt sĩ Sơn là hiếm lắm. Cháu cứ chờ thông báo. Lá thư ấy rồi sẽ tới tay người cần nhận nó.
Thư gật đầu. Cô nghĩ tới chiếc hộp kỷ vật mà bà ngoại cô đã giữ suốt ba mươi mốt năm ở nhà. Trong hộp ấy có tấm ảnh chụp chung năm 1971, có chiếc vòng bạc anh tặng cô Nhàn, có chiếc khăn thêu hoa sen với một cánh sen thêu dở. Tất cả những thứ thuộc về hai người ấy, suốt mấy chục năm, nằm rải rác ở hai nơi hoàn toàn không biết tới nhau. Một nửa nằm trong buồng của một bà già ven Hồ Tây. Một nửa nằm trong tủ hồ sơ của một cơ quan lưu trữ. Và cô, người sinh ra sau khi cả hai người đã mất, là người đầu tiên đặt hai nửa ấy lại gần nhau trong cùng một câu chuyện.
Cô xin phép người cán bộ cho chụp lại tấm ảnh chân dung trong hồ sơ. Sau khi được đồng ý và làm đúng quy định, cô chụp lại bằng điện thoại, kiểm tra kỹ cho tới khi nét ảnh rõ ràng mới đứng dậy ra về. Trên đường về, cô ghé một hiệu ảnh nhỏ ở gần nhà, in tấm ảnh chân dung ấy ra khổ vừa bằng tấm ảnh năm 1971 trong hộp kỷ vật. Người thợ ảnh hỏi cô có cần phục hồi ảnh cũ không, cô lắc đầu. Cô muốn giữ nguyên như thế. Gương mặt trẻ ấy không cần ai làm cho mới lại. Thời gian đã ở trên đó, và thời gian chính là một phần của sự thật.
Buổi tối hôm ấy, ở nhà, Thư đặt hai tấm ảnh cạnh nhau trên bàn học.
Bên trái là tấm ảnh năm 1971 ở bến nước làng Nghi Tàm. Một đôi trẻ đứng cạnh nhau. Chàng trai mặc quân phục, cô gái tóc dài, gương mặt giống cô tới mức mẹ cô đã phải thốt lên trong đêm đầu tiên nhìn thấy. Bên phải là tấm ảnh chân dung vừa in. Cùng một người thanh niên ấy, một mình, nhìn thẳng vào ống kính, trẻ hơn, gầy hơn, và nghiêm trang hơn. Hai tấm ảnh cách nhau không xa về năm tháng, nhưng cách cô hơn nửa thế kỷ. Một tấm do người thân giữ. Một tấm do nhà nước giữ. Cả hai cùng về nằm trên bàn của cô trong một đêm tháng mười yên tĩnh lạ thường.
Bà Lan đứng ở cửa phòng con gái một lúc lâu mà Thư không hay. Tới khi cô ngẩng lên, bà mới nói khẽ.
- Giống hệt như trong ảnh ở bến nước, con nhỉ. Mẹ nhìn mà cứ rợn cả người. Hóa ra người ấy có thật, ở ngay làng mình, cùng thời với bà ngoại con.
- Có thật, mẹ ạ. Có tên, có tuổi, có nơi nằm xuống hẳn hoi. Từ giờ con không phải đoán nữa.
Bà Sen chống gậy vào phòng sau đó. Bà cúi xuống nhìn tấm ảnh chân dung rất lâu, ngón tay run run chạm vào mép ảnh, rồi bà thở dài.
- Đúng nó rồi. Bà nhận ra cái trán này, con mắt này. Hồi nó đi bộ đội, cả làng ra bến tiễn. Nó đứng cao hơn đám bạn một cái đầu, gầy nhẳng. Bà không ngờ có ngày lại được nhìn thấy mặt nó trên bàn của cháu gái bà.
Thư đỡ bà ngồi xuống ghế. Ba người phụ nữ của ba thế hệ ngồi quanh chiếc bàn nhỏ, nhìn hai tấm ảnh của một người đã mất từ năm 1972 và một người đã mất từ năm 1995. Không ai nói thêm gì trong một lúc lâu. Tiếng đồng hồ treo tường đi qua từng nhịp chậm rãi. Ngoài cửa sổ, mặt hồ tối và yên.
Sau khi mẹ và bà ngoại về phòng, Thư mở cuốn sổ tay của mình ra, ghi lại những điều vừa xác nhận được trong ngày hôm nay bằng những dòng ngắn và rõ ràng. Sơn sinh năm 1948 ở làng Nghi Tàm, vào bộ đội năm 1970, mất tại Quảng Trị trong tháng tư năm 1972. Thi hài đã quy tập về nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Trị. Giấy báo tử về làng cuối năm 1972. Mẹ của anh mất năm 1978, từ đó hồ sơ không còn ai hỏi tới. Lá thư cuối anh viết tháng ba năm 1972 hiện vẫn nằm trong phần tài liệu lưu kèm, chờ ngày cô được nhận bản trích lục.
Cô ghi thêm một dòng nữa ở cuối trang, về chiếc hộp kỷ vật ở nhà. Ảnh chụp chung năm 1971. Vòng bạc. Khăn thêu hoa sen còn dở một cánh. Ba thứ ấy và lá thư trong hồ sơ là tất cả những gì còn lại trên đời của một mối tình bắt đầu ở bến nước làng Nghi Tàm hơn nửa thế kỷ trước. Cô khép sổ lại, thấy tay mình lần này không run. Sự thật, một khi đã có đủ giấy tờ và nhân chứng, không còn đáng sợ như khi nó chỉ là một bóng người trong mơ. Nó chỉ buồn. Buồn tới mức cô phải ngồi yên một lúc lâu mới đứng dậy được.
Đêm đó, trước khi đi ngủ, Thư vẫn ngồi lại bên bàn một mình. Cô nhìn hai tấm ảnh đặt cạnh nhau. Cô nghĩ về mười năm đã qua, từ năm mười tám tuổi. Khi ấy cô bắt đầu mơ thấy một bóng người lính mà không hiểu là ai. Thấp thỏm, sợ hãi, rồi lớn lên cùng những giấc mơ ấy, cùng cái lạnh trên vai, cùng ba lần hôn sự đổ vỡ. Thì ra tất cả những năm tháng ấy, cô không bị một bóng ma vô danh bám theo. Cô được một người có họ tên, có quê quán, có một nấm mồ được quy tập tử tế, lặng lẽ đi cùng. Anh không cho cô thấy mặt, có lẽ vì chưa tới lúc. Nhưng anh đã cho cô cái tên của mình, khắc trên một tấm bia gỗ trong mơ, để cô tự đi tìm phần còn lại bằng con đường của người sống.
Cô nói khẽ, chỉ đủ cho chính mình nghe trong căn phòng yên tĩnh.
- Hóa ra em đã mơ thấy anh từ năm mười tám tuổi mà không biết anh là ai.