DUYÊN ÂM BÊN HỒ TÂY - Chương 25: Những người còn nhớ
Ngày hai mươi bảy tháng mười, Thư về làng Nghi Tàm. Làng cách nhà cô khoảng một cây số rưỡi, đi xe máy chỉ mất ít phút theo đường ven hồ, nhưng cô chọn…
Nội dung chương
Ngày hai mươi bảy tháng mười, Thư về làng Nghi Tàm.
Làng cách nhà cô khoảng một cây số rưỡi, đi xe máy chỉ mất ít phút theo đường ven hồ, nhưng cô chọn đi bộ chậm rãi từ đầu ngõ nhà mình. Sáng hôm ấy trời trong, mặt hồ phẳng và sáng như một tấm gương lớn. Cô đi qua những đoạn đường mà ngày thường cô vẫn qua lại như một người dân ven hồ bình thường. Hôm nay thì khác. Hôm nay cô đi như một người trở về một nơi mình thuộc về từ rất lâu, trước cả khi mình sinh ra, để hỏi những người cuối cùng còn nhớ về một câu chuyện sắp không còn ai kể lại được nữa.
Bà Sen đã gọi điện trước cho mấy nhà trong làng. Bà dặn cháu cứ tới nhà cụ ông ở gần đình trước, người ấy là bạn chăn trâu thuở nhỏ của Đỗ Văn Sơn, năm nay đã ngoài tám mươi, tai hơi nặng nhưng đầu óc còn minh mẫn lắm. Rồi hãy qua nhà cụ bà ở xóm dưới, người từng học cùng trường làng với Nguyễn Thị Thanh Nhàn và sau này làm việc ở trạm xá xã. Bà Sen nói, người già trong làng còn nhớ chuyện hai đứa nó không nhiều nữa đâu, cháu đi được ngày nào hay ngày ấy.
Cụ ông tiếp Thư ở bộ bàn ghế đá dưới gốc mít sau nhà. Cụ mặc áo ấm dù trời không lạnh lắm, tay cầm một chiếc quạt giấy đã cũ. Nghe Thư tự giới thiệu là cháu ngoại của bà Sen, cụ gật gù, nhìn cô rất lâu, rồi nói một câu làm cô sững người.
- Cháu giống cô Nhàn ngày trẻ lắm. Giống tới mức ông vừa nhìn đã giật mình. Hồi cô ấy mười tám, mười chín, cả làng ai cũng bảo cô ấy là người đẹp nhất xóm dưới.
Cụ kể chuyện chăn trâu của đám trẻ làng Nghi Tàm những năm xa xưa. Sơn là đứa cao nhất đám, ít nói, hay nhường phần cỏ tốt cho trâu của bạn. Lớn lên, Sơn đi bộ đội. Trước ngày đi, làng ai cũng biết chuyện Sơn và Nhàn đính ước với nhau ở bến nước đầu làng. Cụ nhắc tới năm 1971 bằng giọng của một người đang mở một ngăn tủ cũ trong trí nhớ của mình, chậm rãi và chắc chắn.
- Hôm hai đứa nó đính ước, không có cỗ bàn gì lớn đâu cháu ạ. Thời chiến, nhà nào cũng nghèo. Chỉ có hai gia đình ngồi với nhau một bữa cơm, các cụ trong làng chứng kiến. Sơn tặng cô Nhàn một chiếc vòng bạc. Cô Nhàn trao lại một chiếc khăn tay mình tự thêu. Cả làng đều biết. Ai cũng bảo sau khi Sơn thắng trận trở về thì sẽ có một đám cưới to nhất làng.
Rồi giọng cụ trầm xuống khi kể tới cuối năm 1972.
- Đêm giấy báo tử về làng, ông nhớ mãi. Trời mưa phùn, lạnh lắm. Người của xã mang giấy tới nhà mẹ Sơn trước. Sau đó tin chạy khắp làng trong đêm. Cô Nhàn nghe tin ở nhà, chạy chân đất ra bến nước. Tới bến thì cô ấy ngất xỉu ngay trên bậc đá. Mấy người phụ nữ trong làng phải dìu về. Từ đêm ấy trở đi, cứ mỗi buổi chiều, người ta lại thấy cô Nhàn ra bến ngồi. Ngồi một mình, nhìn ra mặt hồ, tới khi tối hẳn mới về. Ban đầu người làng còn ra ngồi cùng, khuyên nhủ. Sau thấy khuyên không được, mà cô ấy cũng không làm phiền ai, người ta đành để yên. Cô ấy ngồi ở bến ấy suốt bao nhiêu năm, cháu ạ. Ngồi cho tới khi mắt mờ, tóc bạc, không còn ra được nữa mới thôi.
Thư ngồi nghe, hai tay nắm chặt trên đùi. Cô hình dung ra bậc đá ở bến nước, nơi cô chưa từng xuống tận nơi. Ở đó, một người phụ nữ với gương mặt y hệt cô. Chiều nào cũng ngồi đó, năm này qua năm khác, chờ một người mà cả làng đều biết là sẽ không bao giờ trở về nữa. Hình dung ấy đau tới mức cô phải quay mặt đi một lúc, giả vờ nhìn ra khu vườn sau nhà cụ.
Cụ ông rót thêm nước vào chén của cô.
- Ông nói thật với cháu, người làng hồi đầu còn bảo cô Nhàn dại. Sau này không ai bảo thế nữa. Người ta chỉ thương. Một người con gái chờ chồng chưa cưới suốt cả một đời, không oán một câu, không trách một lời, thì không ai nỡ gọi là dại nữa.
Từ nhà cụ ông, Thư đi bộ xuống xóm dưới thăm cụ bà. Cụ bà ở cùng nhà con cháu, đang ngồi nhặt rau ở hiên. Cụ kéo Thư ngồi xuống chiếc ghế nhỏ bên cạnh, nghe cô hỏi chuyện cô giáo Nhàn thì mắt cụ sáng lên như người vừa được nhắc tới một thời của chính mình.
- Cô Nhàn dạy học ở trường làng này cả đời, cháu ạ. Dạy lớp một, lớp hai, dạy bao nhiêu lứa học trò trong làng biết đọc biết viết. Người ta tới dạm hỏi cô ấy không biết bao nhiêu lần. Nhà giàu cũng có, người tử tế cũng có. Cô ấy từ chối hết. Ai hỏi nhiều, cô ấy chỉ cười và nói đúng một câu.
Cụ bà ngừng nhặt rau, nhìn ra khoảng sân nắng, nhắc lại câu nói ấy chậm rãi như nhắc một điều mình đã nghe quá nhiều lần trong đời.
- Tôi có người chờ rồi.
Thư nghe câu ấy mà sống lưng lạnh đi. Chỉ năm chữ. Một câu nói cửa miệng của một người phụ nữ làng quê, nói với những người mai mối, nói với họ hàng, nói với cả một đời dài dặc những năm tháng chờ đợi. Người chờ ấy đã nằm xuống ở Quảng Trị từ tháng tư năm 1972. Người nói câu ấy vẫn chờ, chờ tới năm 1995, rồi cũng nằm xuống, mang theo câu nói của mình vào im lặng. Nếu không có một buổi sáng như hôm nay, nếu không có những người già cuối cùng này còn ngồi đây mà kể lại, câu nói ấy đã mất hẳn khỏi đời này, như chưa từng tồn tại.
- Cô Nhàn có bao giờ kể với bà là cô ấy buồn không ạ?
Cụ bà lắc đầu.
- Chưa bao giờ bà nghe cô ấy than buồn. Cô ấy sống lặng lẽ, tử tế với cả làng. Trẻ con trong làng đứa nào cũng quý cô giáo Nhàn. Chỉ có điều, ai thân với cô ấy đều biết, trong nhà cô ấy có một góc bàn lúc nào cũng để dành cho một tấm ảnh. Tấm ảnh hai người chụp ở bến nước năm 1971 ấy. Cô ấy lau tấm ảnh ấy mỗi ngày, cháu ạ. Lau cho tới năm cuối cùng, khi mắt đã mờ lắm rồi, tay vẫn lần tới đúng chỗ đặt ảnh mà lau.
Trên đường rời nhà cụ bà, Thư gọi điện cho bà Sen. Cô kể ngắn gọn những gì hai cụ vừa nói. Đầu dây bên kia im lặng một lúc lâu, rồi bà Sen nói khẽ.
- Đúng hết đấy cháu ạ. Bà là bạn thân của nó mà có những chuyện bà không biết rõ bằng người làng, vì sau này bà theo chồng về ở phía Thụy Khuê, ít qua lại hơn. Cháu cứ ghi lại hết đi. Mấy cụ ấy đi rồi là không còn ai nói lại được những chuyện này nữa đâu.
Thư ghi âm lại các cuộc trò chuyện sáng nay bằng điện thoại, sau khi đã xin phép cả hai cụ. Về tới gần trường tiểu học cũ của làng, cô dừng lại rất lâu ở cổng trường.
Ngôi trường đã xây mới gần như hoàn toàn. Sân trường lát gạch đỏ, dãy phòng học hai tầng sơn vàng, cờ bay trên cột cờ cao. Chỉ còn cây phượng già ở góc sân là dấu tích của một thời khác. Gốc phượng to tới hai người ôm, vỏ sần sùi. Ở phía cuối sân, một phòng học cũ còn sót lại. Cửa khóa kín bằng một ổ khóa đã gỉ, cửa sổ phủ bụi mờ. Thư đứng ngoài cổng nhìn vào. Cô nghĩ về một cô giáo trẻ đã đứng trên bục giảng của ngôi trường này suốt cả một đời. Dạy hết lứa học trò này tới lứa học trò khác biết đọc những chữ đầu tiên. Còn đời mình, cô chỉ viết đi viết lại một câu duy nhất. Tôi có người chờ rồi.
Cô không vào được bên trong phòng học cũ. Cô cũng không cố vào. Có những nơi, chỉ cần đứng ngoài và biết nó đã từng tồn tại như thế nào là đủ cho một ngày.
Rời cổng trường, Thư tìm một quán nước nhỏ ở đầu làng, ngồi xuống và mở sổ tay ra ghi lại toàn bộ buổi sáng. Cô ghi tên từng người đã kể, dù các cụ không cho cô ghi họ tên đầy đủ, chỉ cho ghi theo cách gọi của làng. Cô ghi năm đính ước, ghi đêm giấy báo tử về làng, ghi những buổi chiều Nhàn ngồi ở bến nước, ghi câu nói cửa miệng của cô giáo làng. Viết tới đâu, cô đối chiếu tới đó với những dòng trích lục hồ sơ cô đã cầm trên tay hai hôm trước. Không một chi tiết nào lệch nhau. Hồ sơ của nhà nước ghi một người lính mất ở Quảng Trị trong tháng tư năm 1972. Ký ức của người làng kể một cô gái ngất trên bậc đá bến nước trong một đêm mưa phùn cuối năm ấy, rồi ngồi chờ ở đúng bến nước đó suốt phần đời còn lại. Hai nguồn ấy chưa từng gặp nhau, một bên là giấy tờ, một bên là trí nhớ của những người già sắp đi xa, vậy mà chúng khớp nhau như hai nửa của cùng một sự thật.
Thư ngồi ở quán nước rất lâu, nghe tiếng người làng qua lại và tiếng lá cây xào xạc trên đầu. Cô hiểu vì sao bà ngoại dặn mình phải đi chuyến này càng sớm càng tốt. Hồ sơ liệt sĩ sẽ còn nằm trong tủ lưu trữ thêm nhiều năm nữa, không ai lấy mất được. Nhưng những người còn nhớ thì không chờ được lâu như giấy tờ. Mỗi năm làng lại mất thêm một hai cụ. Nếu cô tới chậm vài năm, câu chuyện của Sơn và Nhàn sẽ chỉ còn lại mấy dòng lý lịch khô khan trong một tập hồ sơ. Không một ai trên đời còn biết rằng ở bến nước này từng có một người con gái ngồi chờ một người lính suốt hai mươi ba năm, chiều nào cũng ngồi. Cô ngồi tới khi mắt mờ, tóc bạc.
Cô cất sổ, trả tiền nước, rồi đi bộ về phía nhà cụ ông. Trên đoạn đường làng cuối buổi chiều, cô đi ngang qua hướng rẽ xuống bến nước. Cô dừng lại một thoáng, nhìn con đường nhỏ lẩn vào đám cây xanh, nghe tiếng nước vỗ rất khẽ đâu đó ở phía xa. Cô không rẽ xuống. Không phải hôm nay. Hôm nay cô chỉ tới để nghe người sống kể lại. Việc xuống tận bến, đứng đúng chỗ hai người ấy từng thề hẹn, cô biết mình sẽ làm vào một ngày khác, khi đã sẵn sàng hơn cho điều chờ mình ở đó.
Khi Thư quay lại nhà cụ ông để chào trước khi về, trời đã về chiều. Cụ ông chống gậy tiễn cô ra tới cổng. Cụ nhìn cô một lúc, rồi bỗng đưa tay chỉ về phía cuối con đường làng, nơi dẫn ra bến nước ven hồ. Từ chỗ đứng ấy chỉ thấy một khoảng cây xanh rậm và thấp thoáng mặt nước sáng ở phía xa. Thư chưa xuống bến. Cô đứng yên, nhìn theo tay cụ.
Cụ ông nói chậm rãi, từng chữ một, như giao lại cho cô một việc cuối cùng của buổi sáng hôm nay.
- Chỗ hai đứa nó thề với nhau vẫn còn đấy, cây gạo già đầu bến, cháu ra mà xem.