DUYÊN ÂM BÊN HỒ TÂY - Chương 34: Nhân chứng thứ hai
Ngày hai mươi tháng mười một, Vũ Đức Anh chủ động hẹn gặp Thư ở một quán cà phê ven hồ. Tin nhắn của anh tới vào buổi tối hôm trước, ngắn và đúng mực như…
Nội dung chương
Ngày hai mươi tháng mười một, Vũ Đức Anh chủ động hẹn gặp Thư ở một quán cà phê ven hồ.
Tin nhắn của anh tới vào buổi tối hôm trước, ngắn và đúng mực như con người anh mà Thư vẫn nhớ. Anh nói anh nghe tin qua bà mối Tuyết về những chuyện vừa xảy ra với gia đình cô. Anh có một điều giữ kín suốt hai năm nay, nghĩ đi nghĩ lại thấy cần phải nói trực tiếp với cô một lần. Nếu cô không ngại thì sáng mai gặp nhau ở quán cà phê gần bến nước, anh mời. Thư đọc tin nhắn hai lần. Trong suốt hai năm kể từ ngày hai bên êm đẹp rút lui khỏi lễ ăn hỏi không thành, cô và Đức Anh gần như không liên lạc, chỉ thỉnh thoảng chào nhau qua những dịp rất xã giao. Cô không nghĩ có ngày anh lại chủ động tìm mình vì một điều giữ kín.
Cô đồng ý. Cô cũng không giấu mẹ và bà ngoại chuyện này. Bà Lan nghe xong chỉ nói, Đức Anh là người tử tế, ngày xưa nhà mình có lỗi với nó nhiều hơn là nó có lỗi với nhà mình, con đi gặp nó đàng hoàng, nghe nó nói cho hết.
Quán cà phê nằm trên đường ven hồ, tầng hai có một hàng cửa kính nhìn thẳng ra mặt nước. Buổi sáng tháng mười một, hồ lặng, trời sáng nhưng không nắng, sương mỏng còn vương trên mặt nước xa. Đức Anh tới trước, đã ngồi sẵn ở một bàn trong góc, trước mặt là hai ly nước, một ly cà phê đen của anh và một ly trà nóng mà anh nhớ cô vẫn thường uống thay cà phê. Anh đứng dậy chào cô, vẫn là dáng vẻ của một kỹ sư phần mềm ít nói, áo khoác sẫm màu, tóc cắt ngắn gọn gàng. Hai năm không gặp, anh gầy đi một chút, nhưng ánh mắt vẫn hiền và thẳng như ngày nào.
Sau mấy câu hỏi han xã giao về công việc và sức khỏe, Đức Anh im lặng một lúc, hai tay ôm ly cà phê đã nguội bớt. Rồi anh nói, chậm rãi, như người đã tập nói điều này trong đầu nhiều lần nhưng chưa lần nào nói ra thành lời với ai.
- Có một chuyện tôi chưa từng kể với cô, cũng chưa kể với ai khác, kể cả bố mẹ tôi. Tôi giữ nó hai năm nay vì nói ra thì kỳ cục quá, tôi sợ cô nghĩ tôi bịa chuyện để đổ lỗi cho việc rút lui năm ấy. Nhưng nghe bà Tuyết nói những gì nhà cô vừa trải qua, tôi nghĩ nếu tôi không nói, tôi sẽ áy náy mãi. Cô còn nhớ năm hai nghìn không trăm hai mươi ba, có một đêm tôi ngủ lại nhà cô không?
Thư gật đầu. Cô nhớ rất rõ. Đó là một tối mùa thu năm ấy, trong tuần lễ cuối trước lễ ăn hỏi, khi hai bên gia đình đang qua lại thân thiết, lễ ăn hỏi đã bàn tới ngày. Đức Anh tới nhà cô ăn cơm tối cùng gia đình, trời đổ mưa lớn bất ngờ, mưa tới khuya không ngớt, đường về nhà anh ở phía bên kia thành phố ngập mấy đoạn. Bà Lan giữ anh ở lại, trải cho anh một chỗ ngủ tử tế ở phòng khách tầng một, ngay cạnh gian giữa. Anh ngủ lại đúng một đêm ấy. Sáng hôm sau mưa tạnh, anh chào cả nhà ra về, vui vẻ như thường. Mấy hôm sau đó, anh lên cơn viêm ruột thừa cấp, phải mổ, biến chứng nhiễm trùng, nằm viện tròn một tháng. Lễ ăn hỏi vì thế mà hoãn, rồi hai bên ngồi lại với nhau, nói tới chữ dớp, chữ vía, và êm đẹp rút lui trong sự tiếc nuối của cả hai gia đình.
- Đêm ấy, tôi ngủ không yên. - Đức Anh nói tiếp. - Không phải vì lạ nhà. Tôi là người dễ ngủ, đi công tác ngủ khách sạn lạ cũng ngủ được ngay. Nhưng đêm ấy, khoảng nửa đêm, chắc là qua mười hai giờ, tôi tỉnh giấc vì nghe tiếng bước chân.
Anh kể, tiếng bước chân nghe rất rõ trong đêm mưa đã tạnh. Là tiếng chân người đi chậm rãi ngoài hiên, ngay phía trước phòng khách, đi từ đầu hiên này tới đầu hiên kia, rồi quay lại. Không vội, không nặng, nhưng đều và rõ tới mức không thể lẫn với tiếng nước nhỏ giọt hay tiếng gió. Anh nằm im nghe một lúc, nghĩ là bà Lan hoặc bà Sen dậy đi kiểm tra cửa nẻo vì trời mưa. Rồi anh nghe thêm một tiếng nữa: tiếng gõ rất khẽ vào cửa sổ phòng khách, hai nhịp, nhẹ như có người dùng đốt ngón tay chạm vào kính để gọi người bên trong chú ý, chứ không phải để xin vào.
- Tôi ngồi dậy, kéo rèm nhìn ra. Ngoài hiên không có ai. Đèn sân vẫn sáng, sân ướt nước mưa, không một bóng người. Tôi tự bảo mình chắc nghe nhầm, chắc là cành cây chạm vào cửa sổ. Tôi nằm xuống lại, nhưng từ lúc ấy tới sáng, tôi không ngủ sâu được thêm lần nào nữa. Cứ chợp mắt là lại có cảm giác có người đang đứng ở ngoài hiên, rất gần, nhìn vào trong nhà qua lớp cửa kính.
Sáng dậy, anh chào cả nhà, ăn sáng cùng gia đình như không có chuyện gì. Nhưng khi ra tới cổng, anh nhận ra vai trái của mình lạnh cứng một cách rất lạ. Không phải lạnh vì thời tiết. Trời hôm ấy đã hửng, anh mặc áo khoác tử tế. Cái lạnh ấy nằm ở bên trong, dưới da, dọc từ vai trái xuống tới bả vai, cứng và nhức như có một tảng băng nhỏ đè lên đó suốt đêm mà anh không hay biết. Anh về nhà, chườm nóng, xoa dầu, nghỉ ngơi. Vai vẫn đau nhức và lạnh cứng suốt mấy hôm. Anh đi khám, bác sĩ khám kỹ, chụp chiếu, kết luận không có tổn thương xương khớp, không viêm, không có nguyên nhân rõ ràng, chỉ kê thuốc giảm đau và khuyên theo dõi. Mấy hôm sau, cái lạnh và cơn đau tự hết, đúng vào những ngày anh đang nằm viện vì cơn ruột thừa.
- Suốt hai năm nay tôi đã nghĩ về đêm ấy rất nhiều. - Đức Anh nhìn thẳng vào cô, giọng vẫn đều nhưng chậm hơn. - Tôi là kỹ sư, tôi không quen tin vào những điều không giải thích được. Nhưng tôi cũng không thể tự lừa mình rằng đêm ấy không có gì xảy ra. Tiếng bước chân có thật. Tiếng gõ cửa sổ có thật. Cái vai lạnh cứng mấy hôm không rõ nguyên nhân cũng có thật. Và ruột thừa, tất nhiên, cũng là bệnh thật, bác sĩ mổ ra là thấy, không ai bịa được. Tôi rút lui năm ấy, phần vì bệnh, phần vì hai bên gia đình đều sợ dớp, điều ấy tôi đã nói với cô rồi. Nhưng còn một phần nữa mà hôm nay tôi mới nói. Sâu trong lòng, tôi hiểu theo cách của riêng tôi rằng trong ngôi nhà đó đã có một người đàn ông khác ở từ rất lâu rồi, trước cả khi tôi tới. Và người đó không muốn tôi cưới cô.
Thư ngồi im, hai tay đặt quanh ly trà đã nguội. Mặt hồ ngoài cửa kính vẫn lặng. Trong lòng cô, một nút thắt vừa được đặt xuống đúng chỗ của nó sau hai năm lơ lửng.
Suốt mấy tháng điều tra vừa qua, cô đã có hồ sơ liệt sĩ, có tấm ảnh, có lá thư, có lời kể của bà ngoại và những cụ già trong làng, có cả quy luật lạnh vai và tai nạn mà chính cô tổng hợp lại. Tất cả những thứ ấy đều đi qua cô: giấc mơ của cô, cảm giác của cô, hồ sơ do cô xin. Đôi khi, trong những đêm mất ngủ, một ý nghĩ lạnh lẽo vẫn tìm tới cô. Rằng biết đâu tất cả chỉ là do cô tưởng tượng quá sâu, do cô đọc quá nhiều, nghĩ quá nhiều mà tự nối các mảnh rời rạc thành một câu chuyện cho đỡ sợ. Đức Anh ngồi đây, một người sống bằng nghề logic. Anh không hề biết gì về giấc mơ của cô, về cái tên Đỗ Văn Sơn, về lá thư hay tấm ảnh. Anh kể lại bằng lời của chính anh một đêm có tiếng bước chân ngoài hiên, một buổi sáng vai lạnh cứng không rõ nguyên nhân. Tất cả ở đúng ngôi nhà ấy, vào đúng thời gian anh đang tiến tới hôn sự với cô. Lần đầu tiên, cô có một nhân chứng người sống, độc lập hoàn toàn với cô, xác nhận rằng những gì cô trải qua không phải là tưởng tượng.
- Anh không giận tôi sao? - Thư hỏi khẽ. - Vì chuyện của tôi mà anh phải mổ, phải nằm viện cả tháng, rồi mang tiếng là cưới hụt.
Đức Anh lắc đầu ngay, không chút do dự.
- Chưa bao giờ. Ruột thừa là bệnh của tôi, không phải lỗi của cô. Còn đêm ở nhà cô, nếu những gì tôi cảm nhận là đúng, thì người ở trong nhà ấy cũng không làm gì quá đáng với tôi. Anh ta chỉ cho tôi biết là anh ta ở đó. So với những gì cô vừa kể tôi nghe về hai người kia, một người gãy xương đòn và chân, một người gãy tay, thì phần của tôi nhẹ lắm. Tôi chỉ ốm một trận và rút lui êm đẹp. Bây giờ nghĩ lại, tôi còn thấy mình may. Nếu ngày ấy tôi cứ cố cưới, biết đâu mọi chuyện đã khác và tệ hơn cho cả hai bên.
Cuộc gặp khép lại nhẹ nhàng như chính con người của anh. Anh hỏi thăm bà Sen và bà Lan, chúc gia đình cô sớm yên ổn, nói rằng anh sắp chuyển công tác vào phía Nam một thời gian, trước khi đi muốn nói cho hết điều cần nói để lòng không còn nợ nần gì với quá khứ. Thư cảm ơn anh. Cô cảm ơn vì hai năm trước anh đã rút lui một cách tử tế, không một lời trách móc gia đình cô trước họ hàng. Cô cũng cảm ơn vì ngày hôm nay anh đã quay lại chỉ để làm chứng cho một điều mà nói ra, người khác có thể sẽ cười anh.
Hai người đứng dậy. Ngoài quán, gió hồ thổi mạnh hơn, mặt nước bắt đầu gợn sóng nhỏ. Đức Anh đi được mấy bước về phía để xe thì dừng lại, quay người nói thêm một câu cuối cùng, giọng anh nhẹ tới mức Thư phải bước lại gần mới nghe rõ.
- Nếu có cách nào nói được với anh ấy, cô nhắn giúp: tôi chưa bao giờ giận.
Thư gật đầu mà mắt cay. Cô đứng nhìn anh đi khuất ở cuối đường ven hồ, trong lòng ghi nhớ lời nhắn ấy như một món nợ ân tình mà cô nhất định sẽ trả, vào một đêm không xa, bằng chính lời cảm tạ của mình.